CHƯƠNG 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH YẾU TỐ TÂM LINH TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VÀ TRUYỆN THƠ NÔM SƠ KÍNH TÂN TRANG 1. Cơ sở hình thành yếu tố tâm linh trong văn học trung đại Yếu tố tâm linh là một trong những yếu tố quan trọng tồn tại trong cuộc sống và tư tưởng của mỗi con người. Việt Nam là đất nước có nền văn hóa tâm linh đa dạng và độc đáo. Văn hóa tâm linh của người Việt được hình thành từ những yếu tố bản địa cùng sự du nhập những yếu tố ngoại sinh.
Sau khi hình thành, văn hóa tâm linh đã được nền văn học trung đại hấp thu tạo nên những giá trị nghệ thuật đặc sắc. Văn hoá tâm linh thực sự mang lại cho tác phẩm văn học giá trị bất biến, giúp cho tác phẩm này được tồn tại bền vững và vận động một cách hoàn bị trong lịch sử phát triển nhân văn của dân tộc Việt Nam. Khái niệm tâm linh, văn hóa tâm linh và yếu tố tâm linh Tâm linh Trong đời sống con người, có rất nhiều yếu tố không thể giải thích được bằng khoa học lý tính. Con người phải cần đến thế giới cảm tính siêu hình để lý giải, cắt nghĩa.
Chẳng hạn như chiêm bao, mộng mị, trời phật, thần tiên, hồn ma, bóng quế… Tất cả chi phối thế giới tinh thần con người một cách mạnh mẽ. Do đó, thế giới vô hình thường xuyên hiện diện trong cuộc sống hàng ngày của con người. Vậy tâm linh là gì? Tâm linh là “cái thiêng liêng cao cả trong cuộc sống đời thường. Là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo.
Cái thiêng liêng cao cả được đọng lại ở những biểu tượng hình ảnh, ý niệm” (Nguyễn Đăng Duy) [20, 11]. Tâm linh là hình thái ý thức chỉ có ở con người, gắn liền với ý thức con người. Trong đời sống con người, những gì không thể giải thích được bằng tư duy thông thường, trí não bình thường không thể cắt nghĩa được thì đó chính là tâm linh. Như vậy, có 13 thể hiểu tâm linh bao gồm: phần tinh thần, tình cảm, tâm hồn của con người, là đời sống nội tâm phong phú của con người, là khả năng phán đoán, biết trước, đoán định sự việc diễn ra trước mà không cần phân tích lý tính, là các hiện tượng liên quan đến người chết và con người sau khi chết.
Nếu mặt hiện hữu có thể giải thích lý tính thì tâm linh gắn với cảm tính. Tâm linh bao gồm 2 từ tâm và linh. Tâm được hiểu là lòng, là thế giới tinh thần của con người. Linh là thiêng.
Tâm linh là thế giới tinh thần của con người, là sự nhạy bén, mẫn cảm của thế giới bên trong con người, có khả năng vượt khỏi tầng nhận thức lý tính để chạm đến những điều mà lý trí không thể nắm bắt và lý giải được. Mỗi người đều có tâm linh nên họ tin vào những điều thiêng liêng, những điều mà tri giác thông thường không thể nhận thức được. Tâm linh có thể được hiểu là lòng tin thiêng liêng vào những điều linh thiêng, là thế giới của những điều thiêng liêng mà con người luôn tin tưởng, đề cao. Hạt nhân cơ bản làm nên thế giới tâm linh chính là niềm tin, niềm tin giúp nuôi dưỡng thế giới tâm linh hiện hữu trong tâm thức mỗi người.
Con người có niềm tin ở những điều tưởng chừng như không nắm bắt được nhưng nó vẫn tồn tại, vẫn quanh quẩn trong ý thức, câu chuyện, lời kể giữa mọi người với nhau. Chính niềm tin đã duy trì thế giới tâm linh. Phương thức tồn tại của tâm linh là trong đời sống của mỗi cá nhân, trong niềm tin của những thành viên gia đình, trong cộng đồng, làng xã có chung tín ngưỡng, phong tục, tập quán… Đó có thể là đức tin, sự chiêm nghiệm của mỗi người trong thực tế đời sống họ đã qua, cũng có thể là một tôn giáo mà gia đình đang thờ phụng, cũng có thể là một nhân vật kiệt xuất cả làng cùng tôn là thành hoàng… Tâm linh và các yếu tố của tâm linh tồn tại bất kỳ đâu trong đời sống con người. Đời sống tâm linh là đặc thù của đời sống con người, chỉ có ở những con người có hoạt động thần kinh bình thường.
Tâm linh bao gồm các giá trị tinh thần hết sức phong phú và cao siêu của con người. Nó bao gồm các cảm xúc 14 rung động mãnh liệt về đời sống tinh thần như lòng vị tha, ý chí, linh hồn… Tâm linh bao gồm thế giới bên trong phong phú, phức tạp của con người. Tâm linh biểu hiện đa dạng trong đời sống con người, trong cả cuộc sống thường ngày và trong tín ngưỡng tôn giáo. Có thể thấy, cuộc sống con người luôn tồn tại đời sống tâm linh bên cạnh đời sống hiện thực với những nhu cầu vật chất thông thường (ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, chăm sóc sức khỏe.
Đời sống tâm linh là một phần của đời sống tinh thần. Bất kỳ con người bình thường nào cũng có nhu cầu tâm linh. Ở đó, con người có niềm tin vào “cái thiêng” khiến chúng ta cân bằng trong cuộc sống. Với những người không theo tôn giáo, đời sống tâm linh chỉ xuất hiện khi “hoàn cảnh thiêng”, “không gian thiêng”, “thời gian thiêng”.
Đó là vào những hoàn cảnh con người phải cầu viện vào sự phù hộ của Thánh Thần, Trời, Phật, Chúa. Đó là thời khắc thiêng liêng như ngày cúng giỗ (kị), đêm giao thừa, ngày tết, ngày rằm, các lễ hội có phần lễ thiêng liêng. những lúc ấy con người giao hòa với trời đất, thiên nhiên và những thế lực siêu hình (ông bà tổ tiên, Thánh Thần, Trời, Phật, Chúa. Sống trong bầu không khí thiêng liêng mang tính tâm linh ấy con người thực sự được giải tỏa.
Họ cảm thấy tinh thần được thư giãn, tâm hồn được tắm gội thanh lọc, họ cởi bỏ những phiền muộn, lo âu trong cuộc sống, họ cầu mong hi vọng và hướng đến những điều tốt đẹp cho bản thân, gia đình và xã hội ngay trong cuộc sống hiện tại. Sống đời sống tâm linh chính là cách để con người đến gần hơn với thế giới tâm linh - thế giới của những biểu trưng về “đạo trời”, của những lực lượng siêu nhiên huyền bí với quyền năng vô hạn chi phối cuộc sống trần thế. Văn hóa tâm linh Thuật ngữ tâm linh xuất hiện nhiều vào khoảng mười lăm năm gần đây, nhất là sau khi một số nhà nhân học, tâm lí học, khoa học xã hội quốc tế thừa nhận tâm linh, một trong bốn thuộc tính của con người (con người xã hội, con người sinh học, con người tâm lí, con người tâm linh). Khi ghép “Tâm linh” 15 vào “Văn hóa”, thì khái niệm “Văn hóa tâm linh” là hình thái văn hóa của một tộc người gồm: tôn giáo, tín ngưỡng, nghệ thuật dân gian (folklore) và một phần của sáng tạo khoa học, nghệ thuật.
Từ cách hiểu và giới hạn khái niệm văn hóa và tâm linh, chúng tôi hiểu văn hóa tâm linh là những giá trị văn hóa tinh thần thiêng liêng. Đó là “văn hóa biểu hiện những giá trị thiêng liêng trong cuộc sống đời thường và biểu hiện niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo” [20, 26]. Thuộc lĩnh vực văn hóa tinh thần, nhưng văn hóa tâm linh với những đặc thù không chỉ gồm những giá trị văn hóa vô hình (ý niệm, quan niệm, tập tục, nếp cảm nếp nghĩ, nghi lễ.) mà cả những giá trị văn hóa hữu hình thiêng liêng (đình, đền, miếu, mộ, chùa, nhà thờ, tượng, bàn thờ. Người Việt Nam không kì thị tôn giáo bởi họ đến với tôn giáo bằng niềm tin vào những điều thiêng liêng có thể giúp họ có một sự cân bằng tinh thần trong cuộc sống.
Trong ý niệm của nhân dân ta, từ xưa thế giới luôn có các lực lượng siêu nhiên thống trị cuộc sống nhân gian, niềm tin đó tạo nên những hoạt động tương ứng biểu hiện qua việc thờ cúng các nghi lễ, tập tục, kiêng kị. làm nên tín ngưỡng dân gian. Tín ngưỡng dân gian người Việt rất đa dạng, bao gồm tín ngưỡng thờ thần thánh, trời đất như thành hoàng làng, thần hộ mệnh, thánh tổ nghề, thờ các vị phúc thần, các anh hùng lịch sử văn hóa. đều là đối tượng để con người sùng kính, ngưỡng mộ tôn vinh và noi gương; tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là việc hướng về cội nguồn, biết ơn người đã khuất, tri ân công trạng của các bậc tiên hiền.
Các tín ngưỡng dân gian cùng với tâm linh của những người dân theo đạo Phật, Thiên chúa giáo, Đạo Hồi, Cao Đài. song hành tồn tại trong đời sống nhân dân và trở thành những sinh hoạt văn hóa tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam. Yếu tố tâm linh Yếu tố tâm linh là những biểu hiện cụ thể của văn hóa tâm linh trên các phương diện của đời sống con người. Nếu văn hóa tâm linh là thực thể hữu cơ 16 của các mối quan hệ của con người với thế giới tự nhiên và xã hội thì yếu tố tâm linh là các phương diện hiển hiện ra bên ngoài của văn hóa tâm linh, là hội tụ, kết tinh những giá trị của văn hóa tâm linh.
Từ đó chúng ta có thể nhận diện ra văn hóa tâm linh bằng những chi tiết thực một cách rõ ràng, sinh động nhất. Trong đề tài nghiên cứu của mình, chúng tôi bước đầu tìm hiểu yếu tố tâm linh trong tác phẩm truyện Nôm Sơ kính tân trang, một tác phẩm mang đậm tính tự thuật, chịu sự chi phối mạnh mẽ của tư tưởng, tình cảm và cả những nhận thức đời sống của tác giả. Vì thế những yếu tố tâm linh trong tác phẩm này không chỉ là những niềm tin thiêng liêng trong tín ngưỡng của người Việt,những biểu hiện tâm linh (không phải là tín ngưỡng tôn giáo) của người dân Việt mà đó còn là sự thẩm thấu, cảm nhận thế giới tâm linh qua lăng kính của Phạm Thái. Văn học chỉ là một biểu hiện của văn hóa, là một mảng màu của bức tranh văn hóa thời đại nó ra đời.
Vì vậy, khi tìm hiểu yếu tố tâm linh trong Sơ kính tân trang, chúng tôi thu hẹp những yếu tố này trong tín ngưỡng dân gian và những biểu hiện tâm linh của người có đạo vì mục đích hướng đến những điều thiện mĩ cho cuộc đời này qua những biểu hiện như: việc thờ cúng trong các nghi lễ (lễ cầu đảo, cúng Thành hoàng, cúng tổ tiên.), một số tập tục (kiêng, khấn nguyện, thề nguyền, cầu khẩn. Bên cạnh đó là niềm tin thiêng liêng đối với một số hiện tượng thiêng trong cuộc sống (giấc mộng, điềm báo, sự linh ứng, niềm tin vào phép thuật, tướng số, bói toán, hồn ma, hóa kiếp.