Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Truyện thơ Nôm 1. Sự ra đời và phát triển Truyện thơ Nôm là một bộ phận Văn học khá độc đáo, có dấu ấn riêng trong văn học Trung đại. Dù sự ra đời của Truyện thơ Nôm cũng chỉ dừng lại ở các giả thuyết của các nhà nghiên cứu nhưng hầu như các nhà nghiên cứu xác định Truyện thơ Nôm ra đời trên nền tảng của Văn học dân gian.
Theo giáo sư Đinh Gia Khánh: “Truyện Nôm chỉ là một hiện tượng chứng tỏ ảnh hưởng sâu sắc và mạnh mẽ của văn học dân gian vào văn học viết bằng chữ Nôm của trí thức phong kiến. Đó là ảnh hưởng của truyện cổ tích. Nhưng ở đây lại còn phải thấy ảnh hưởng rất lớn của thơ ca dân gian. Thể thơ trong Truyện Nôm bắt nguồn từ thể thơ dân gian.
Ngôn ngữ văn học trong Truyện Nôm cũng bắt đầu từ ngôn ngữ thơ dân gian. Cho nên sự nở rộ của Truyện Nôm trong khoảng từ thế kỷ XVI trở đi, đặc biệt là từ thế kỷ XVIII cũng lại phản ánh tình hình thơ ca dân gian trong các thế kỷ ấy”. 67] Khảo sát Truyện thơ Nôm trong kho tàng Truyện Nôm hiện nay, chúng ta có thể thấy Truyện thơ Nôm có hai loại: một loại viết theo thể thơ lục bát, một loại viết bằng thể thơ đường luật. Theo Nguyễn Lộc, “Truyện Nôm đường luật ra đời trước thế kỷ XVIII, từ thế kỷ XVIII trở đi không thấy có nữa.
Còn Truyện Nôm lục bát thì không xác định ra đời khi nào nhưng chỉ biết nó phát triển nhiều nhất ở cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX” [64, tr.30] Theo Đặng Thanh Lê: “Sự ra đời của Truyện Nôm bắt nguồn từ một yêu cầu phản ánh xã hội với những nội dung thời đại cũng như với những điều kiện thực tiễn của bản thân thời đại ấy”. 50] Kết hợp hai ý kiến của Nguyễn Lộc và Đặng Thanh Lê, chúng ta gắn vào lịch sử cụ thể của đất nước Việt Nam thì hai giả thuyết trên có cơ sở. Bởi vì bắt đầu thế kỷ XVI, xã hội phong kiến Việt Nam có nhiều mâu thuẫn. Mâu thuẫn giữa các phe phái phong kiến cầm quyền của giai cấp thống trị và mâu thuẫn giữa nhân dân bị trị với triều đình đã dẫn đến sự sụp đổ của triều Lê, thay vào nhà Mạc.
Nhà Mạc cũng không giữ được sự đoàn kết, phát triển bởi những mâu thuẫn trước đó vẫn tiếp tục ngấm ngầm và cuối cùng bùng phát qua các cuộc khởi nghĩa của nông dân. Đặc biệt là đến thế kỷ XVIII, xã hội phong kiến ngày một khủng hoảng dẫn đến đời sống nhân dân ngày một đau khổ, lầm than; những truyền thống đạo đức tốt đẹp ngày một lung lay và phá vỡ. Có lẽ đây là nền tảng cho những ước mơ, khao khát về công lý, tình người, cuộc đời… là cơ sở cho tư tưởng nhân văn nảy sinh và phát triển. Đó cũng là cội nguồn phát triển của Truyện thơ Nôm như Đặng Thanh Lê đã nhận định “Truyện Nôm là sản phẩm văn học vào thời kỳ phong kiến suy tàn mang ý nghĩa phản ánh một thời kỳ bùng nổ mạnh mẽ của đấu tranh giai cấp dưới chế độ phong kiến” [61, tr.
Theo nhiều nhà nghiên cứu, Truyện thơ Nôm ban đầu là loại truyện truyền khẩu từ các nghệ nhân hát rong. Sau đó, các nho sĩ đã ghi chép lại các Truyện thơ Nôm đã có trước đó và tiếp tục sáng tác mới nên Truyện thơ Nôm với hình thức viết đã được ra đời. Phân loại Truyện thơ Nôm là một bộ phận khá lớn trong văn học Trung đại. Theo nhiều hướng nghiên cứu, nhiều nhà nghiên cứu theo những khía cạnh khác nhau, Truyện thơ Nôm dựa vào tác giả có hai loại Truyện thơ Nôm hữu danh và Truyện thơ Nôm khuyết danh; dựa vào nội dung, hình thức có Truyện thơ Nôm bình dân và Truyện thơ Nôm bác học; cũng có hướng phân loại dựa theo nguồn gốc và đề tài.
Cách phân loại Truyện thơ Nôm hữu danh và Truyện thơ Nôm khuyết danh được thể hiện trong “Truyện Nôm khuyết danh, một hiện tượng đặc biệt của văn học Việt Nam” [77] của Bùi Văn Nguyên. Theo tác giả, Truyện Nôm khuyết danh thật sự là có tác giả nhưng có thể vì lý do nào đó đã không còn xác định rõ tác giả là ai. Có thể do tâm lý coi thường những sáng tác bằng chữ Nôm, văn học Nôm được coi là văn học nôm na, đơn giản nên khi tác phẩm ra đời, tác giả cũng không được chú ý đến và dần dần bị lãng quên. Mặt khác, do Truyện thơ Nôm có nội dung phê phán, lên án các tầng lớp vua quan độc ác, tham lam nên thường bị giai cấp thống trị cấm đoán.
Có thể vì điều này mà tác giả cũng ngại lưu tên mình trên tác phẩm. Chúng ta cũng cần xét đến yếu tố trước khi có chữ viết ra đời, Truyện Nôm được truyền miệng là phổ biến. Vì vậy, quá trình lưu truyền tác phẩm từ người này sang người khác, từ địa phương này sang địa phương kia và được thêm, bớt ít nhiều nên tác giả chính đã dần dần mờ nhạt và trở thành khuyết danh. Cách phân chia Truyện thơ Nôm hữu danh và Truyện thơ Nôm khuyết danh cũng được thể hiện trong Luận án của Nguyễn Thị Chiến [12, tr.
Tác giả xác định cách chia này xuất hiện trước những năm 1960 từ công trình “Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam của nhóm nghiên cứu văn học Lê Quý Đôn”. Sau đó, Truyện thơ Nôm đã được các nhà nghiên cứu văn học cổ, trung đại đi vào hướng nghiên cứu khác. Đó là hướng nghiên cứu sâu về nội dung, tư tưởng của truyện và đặc điểm nghệ thuật, cách thức biểu hiện. Có thể nói đây là hướng đi có tính khoa học và đi sâu vào tác phẩm hơn.
Cũng từ hướng nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu đã cho ra đời sự phân loại Truyện thơ Nôm bình dân và Truyện thơ Nôm bác học. Theo Nguyễn Lộc [63], Truyện Nôm bình dân là sáng tác của những nhà Nho không thành đạt, họ sống gần gũi với quần chúng nhân dân lao động. Chính vì vậy, nội dung của Truyện Nôm bình dân gắn với cuộc sống của nhân dân với các khía cạnh đạo đức khá nhiều. Vấn đề trung hiếu, tiết nghĩa, việc đấu tranh bảo vệ gia đình, tình yêu, hạnh phúc được thể hiện khá tập trung nhưng hình thức nghệ thuật khá đơn giản.
Còn Truyện Nôm bác học thì có nội dung tư tưởng và tính nghệ thuật cao hơn Truyện Nôm bình dân. Nội dung Truyện Nôm bác học đã tiến đến vấn đề bảo vệ tình yêu tự do vượt khỏi lễ giáo phong kiến, bảo vệ và giải phóng cho tình cảm chân chính. Đây là những sáng tác của những nhà Nho có học vấn cao, có khả năng khai thác và thể hiện được chiều sâu tâm trạng nhân vật. Cách phân loại này khoa học hơn và cũng có tính thuyết phục hơn.
Bởi vì so với hướng phân loại Truyện Nôm hữu danh - khuyết danh, thì hướng phân loại Truyện Nôm bình dân – Truyện Nôm bác học là sự đổi mới trong nghiên cứu: đi sâu vào thi pháp truyện Nôm. Cái mới của hướng phân loại này là đi vào đặc điểm thi pháp học như kỹ năng thể hiện của tác giả qua nghệ thuật biểu hiện, qua loại hình nhân vật. Đặc biệt là chủ đề, nội dung tư tưởng của tác phẩm được thể hiện khá tập trung và sinh động. Đồng tình với hướng phân loại này, Trần Đình Hượu đã có ý kiến: “Phải nói rằng cho đến Nguyễn Đình Chiểu, một số lượng đáng kể Truyện Nôm mà ngày nay nhiều nhà nghiên cứu chia ra hai loại bác học và bình dân đã làm cho thể loại đó gần như ổn định, có nề nếp và ít nhiều đã hình thành một thứ khuôn khổ khuynh hướng” [12, tr.
Ngoài ra, Truyện thơ Nôm còn được phân loại theo nguồn gốc, đề tài. Những Truyện thơ Nôm lấy đề tài từ các truyện cổ dân gian như Tấm Cám, Thạch Sanh… Những Truyện thơ Nôm có nguồn gốc đề tài từ Trung Quốc như: Truyện Hoa Tiên, Nhị Độ Mai, Phù Dung Tân Truyện, Lâm Tuyền Kỳ Ngộ… Những truyện lấy đề tài từ những sáng tác chữ Hán hoặc những sự tích ở Việt Nam như: Tống Trân – Cúc Hoa, Bích Câu Kỳ Ngộ… Từ ba hướng phân loại trên, chúng tôi nhận thấy hướng phân loại Truyện Nôm bình dân – Truyện Nôm bác học mang tính khoa học và thuyết phục nhất. Do đó trong quá trình thể hiện đề tài, chúng tôi chủ yếu dựa vào hướng phân loại này. Và cũng trên cơ sở đó, chúng tôi sẽ khai thác yếu tố tâm linh để thể hiện qua Truyện thơ Nôm bình dân và Truyện thơ Nôm bác học.
Điều này sẽ gắn liền với nội dung mang đậm tính dân dã cùng với nghệ thuật mộc mạc, giản dị của các nho sĩ bình dân và tương ứng với nội dung phức tạp, tình tiết, tâm lý nhân vật, nghệ thuật điêu luyện hơn ở các nhà Nho thuộc tầng lớp trên của xã hội. Nội dung Truyện thơ Nôm bị chi phối khá lớn bởi lễ giáo phong kiến. Chính vì vậy, nội dung của Truyện thơ Nôm thể hiện khá rõ những quan niệm của lễ giáo thời kỳ này. Chúng ta thấy rất rõ quan niệm về môn đăng hộ đối trong hôn nhân, tư tưởng trung quân của Nho giáo.
những quan niệm về trung, hiếu, tiết, nghĩa luôn được ca ngợi trong Truyện thơ Nôm. Nhưng không vì thế mà Truyện thơ Nôm chỉ hạn hẹp trong những phạm vi gò bó của lễ giáo phong kiến. Chúng ta dễ dàng thấy được những mối tình tự do vượt ra ngoài khuôn khổ khắc nghiệt của lễ giáo phong kiến trong Truyện thơ Nôm, những nhân vật khổ đau cùng cực trong xã hội đã biết vươn lên để thay đổi số phận, những tình yêu chân chính luôn có hậu, hợp lẽ đời… Đó là những điều mà Truyện thơ Nôm thể hiện khá phong phú, đa dạng và sinh động. Truyện thơ Nôm phản ánh khá đầy đủ các khía cạnh của đời sống xã hội phong kiến.
Dù Truyện thơ Nôm thường đề cập đến “trung, hiếu, tiết, nghĩa” nhưng Truyện thơ Nôm không chỉ dừng lại ở việc ca ngợi đạo đức phong kiến từ những khía cạnh hợp lẽ đời mà cao hơn là Truyện thơ Nôm đã thể hiện ý thức vươn lên để bảo vệ tình yêu, khát vọng sống một cách mạnh mẽ, cảm động của Cúc Hoa, Ngọc Hoa, Phương Hoa…Các nhân vật nữ trong Truyện thơ Nôm thực sự là những đóa hoa hồng đầy sức sống.