mở đầu cuốn Văn học Việt Nam (thế kỉ X – Nửa đầu thế kỉ XVIII) (Nxb Giáo dục, tái bản năm 2002), xuất bản lần đầu tiên năm 1978 do NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp ấn hành, cho rằng: ―văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm có nhiều phần giống nhau trong nội dung phản ánh hiện thực và có những điểm giống nhau trong cách phản ánh hiện thực‖ [85, tr. Nhà nghiên cứu cũng khẳng định hai thành phần này có nhiều chỗ khác nhau, đặc biệt là ―so với văn học chữ Hán thì văn học chữ Nôm có thể phản ánh hiện thực cuộc sống bình thƣờng của nhân dân một cách linh hoạt và cụ thể hơn, có thể xây dựng những hình tƣợng văn học đậm màu sắc dân tộc hơn và do đó dễ thấm sâu hơn vào cảm quan của công chúng‖ [85, tr. Nhƣ vậy, với luận điểm này, Đinh Gia Khánh cũng đã chỉ ra hai thành phần văn học song song tồn tại trong văn học trung đại Việt Nam tức là hiện tƣợng song ngữ. Bài viết của Bùi Duy Tân trên Tạp chí Văn học số 2/1995 với nhan đề “Văn học chữ Hán trong mối tương quan với văn học chữ Nôm ở Việt Nam” tạo sự chú ý đối với ngƣời đọc.
Mặc dù không nhắc đến khái niệm ―song ngữ‖ nhƣng tác giả đã đƣa ra một cái nhìn tổng quan về ―vấn đề khoa học lớn, quan trọng và thú vị này‖. Bên cạnh việc nêu lên những đặc điểm chính của văn học chữ Hán và chữ Nôm trong văn học trung đại Việt Nam, Bùi Duy Tân không luan an 10 quên nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa hai thành phần và đặt chúng trong tƣơng quan so sánh: ―Đều ít hoặc nhiều chịu ảnh hƣởng của ý thức hệ phong kiến, và đều tiếp nhận đƣợc từ nhân dân, từ văn hóa dân gian những tƣ tƣởng nghệ thuật tiến bộ, lành mạnh‖ [135, tr. Tác giả đã nêu lên những tƣơng đồng giữa hai thành phần văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm: ―Giữa hai thành phần của dòng văn học viết đã có sự thống nhất trên những yếu tố căn bản về thế giới quan, về quan niệm thẩm mỹ, quan niệm về phƣơng pháp sáng tác, cấu trúc thi pháp,. và cả thể loại văn học‖ [135, tr.
Nhà nghiên cứu cũng đƣa ra cái nhìn tổng quan về những điểm khác nhau của hai thành phần này. Theo đó, ngoài sự khác biệt về văn tự, văn học chữ Hán có những tính chất: giáo huấn và phi ngã, tính bác học cao quý, tính chất quy phạm. Văn học chữ Nôm ít gắn với ―chở đạo‖, gần với đời sống thực, phong phú về tinh thần yêu nƣớc và tinh thần nhân ái. ―Yếu tố trội của văn học Nôm là chủ nghĩa nhân đạo, còn ở văn học chữ Hán thì yếu tố trội là chủ nghĩa yêu nƣớc‖ [135, tr.
Dù ông không có những luận giải cụ thể nhƣng đó cũng là những gợi ý quý báu để ngƣời viết triển khai đề tài của mình. Lê Trí Viễn trong Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam, nhận định ―từ thế kỷ X – XV là thời kỳ văn học trung đại thƣợng kỳ, còn từ thế kỷ XVI – XIX là văn học trung đại hạ kỳ‖ [156, tr. Theo Trần Đình Sử, ―cách chia này làm mờ cái mốc thế kỷ XVIII, thời điểm đổi thay quan niệm con ngƣời trong văn học và là thời điểm chín muồi toàn thịnh của các thể loại văn học Nôm‖ [132, tr. Trần Đình Sử trong cuốn Thi pháp văn học trung đại Việt Nam lại khẳng định, ―Nội dung văn học giai đoạn X – XIV là sự hình thành khá hoàn bị các thể loại văn thơ chữ Hán.
Và giai đoạn từ thế kỷ XV – đánh dấu sự hình thành và phát triển các thể loại văn học Nôm‖ [132, tr. Theo ông thì ―tiếng Hán làm công cụ chính trị, tƣ tƣởng, bên cạnh tiếng Việt – tiếng mẹ đẻ vẫn đƣợc sử dụng trong đời sống hàng ngày. Tình hình đó tạo thành hiện tƣợng song ngữ, văn học song ngữ của thời trung đại Việt Nam, nhƣ của nhiều dân tộc khác‖ [132, tr. Đây là một nhận định rất đáng lƣu ý khi Trần Đình Sử ngoài việc khẳng định sự tồn tại hiện tƣợng song ngữ trong văn học trung đại Việt Nam còn liên hệ với hiện tƣợng này trong văn học trung đại của các dân tộc khác tức là tính khu vực và tính quốc tế của hiện tƣợng song ngữ.
Cũng theo Trần Đình Sử thì Phạm Đình Toái đồng tác giả với Lê luan an 11 Ngô Cát, sáng tạo ra Đại Nam quốc sử diễn ca đã nói một ý kiến quan trọng: ―Nƣớc ta ở chếch về phƣơng Nam, tiếng nói khác với Trung Quốc, học sinh, nho giả, dù học tập văn từ của Trung Hoa, mà vẫn nói năng, ca vịnh không rời với tiếng nói của nƣớc mình, đâu lại có thể cứ cho chữ Hán là thanh tao mà trở lại chê quốc âm mình là thô bỉ đƣợc‖ (dẫn theo Trần Đình Sử) [132, tr. Trần Đình Sử trong cuốn Thi pháp văn học trung đại Việt Nam cũng chỉ ra những đặc điểm của văn học trung đại Việt Nam với hai thành phần văn học. Một thành phần văn học viết bằng chữ Hán – một ngôn ngữ vay mƣợn của nƣớc ngoài và thành phần sáng tác bằng tiếng bản địa – tiếng Việt. Ông viết: ―Hai thứ tiếng và hai thành phần văn học đáp ứng hai nhu cầu của đời sống xã hội: Khi bàn đến chính sự, lý tƣởng, lịch sử, luân lý, thơ phú ngƣời ta biểu đạt bằng chữ Hán; khi biểu đạt những cảm xúc hàng ngày, các hiện tƣợng đời sống, ngƣời ta dùng tiếng Nôm, chữ Nôm‖ [132, tr.
Ông nhận xét: ―tiếng Hán đƣợc tiếp thu chủ yếu qua thƣ tịch, kinh sử, văn chƣơng cũng không đủ để diễn đạt các trạng thái đời sống hàng ngày. Do đó việc phát triển tiếng Việt, chữ Nôm, văn học Nôm là một điều tất yếu [132, tr. Trần Đình Sử lí giải rằng: ―Đó là lí do khiến cho hai thành phần văn học tồn tại song song, không thành phần nào thôn tính đƣợc thành phần nào, mặt khác chúng lại thâm nhập vào nhau. Tất nhiên, chủ yếu là văn học Nôm tiếp thu tiếng Hán, Việt hóa nó để làm phong phú bản thân mình‖ [132, tr.
Từ đó, ông khẳng định: ―Tính chất song ngữ không chỉ thể hiện ở hai dòng văn học Hán và Nôm tách biệt, mà còn thể hiện ở sự xâm nhập pha trộn của văn Hán và Nôm. Có tác phẩm lời văn vừa Hán vừa Nôm. Có tác phẩm Nôm xen câu đối Hán, có tác phẩm nhan đề là Hán mà tác phẩm lại là Nôm‖ [132, tr. Chúng tôi nhận thấy ý kiến của Trần Đình Sử đã đề cập tới tính chất bất bình đẳng của hiện tƣợng song ngữ trong văn học trung đại Việt Nam.
Trần Đình Hƣợu cho rằng, ―Bên cạnh xu hƣớng đuổi kịp để có mặt bình đẳng về văn hiến trong văn chƣơng chữ Hán, là một xu hƣớng phát triển chậm hơn; làm văn chƣơng quốc âm. Sử đã chép Hàn Thuyên, Nguyễn Sĩ Cố giỏi làm thơ quốc âm‖ [83, tr. Ở đây, Trần Đình Hƣợu cũng đã gián tiếp khẳng định sự tồn tại song song hai thành phần văn học chữ Hán và văn học viết bằng chữ Nôm. Trong đó, văn học chữ Hán đi trƣớc và phát triển nhanh hơn, còn văn học viết bằng ngôn ngữ dân tộc phát triển chậm hơn.
Ông cũng khẳng định lại việc Hàn Thuyên và Nguyễn Sĩ Cố giỏi làm thơ Nôm đã đƣợc sử chép lại. Nguyễn Lộc trong cuốn Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX cho rằng: ―Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX vẫn gồm hai thành phần văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm. Cả hai đều phát triển hơn trƣớc rất nhiều, đặc biệt là văn học chữ Nôm‖ [103, tr. Ông đặc biệt đề cao văn học viết bằng chữ Nôm: ―Ngày nay nói đến thành tựu của Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX, chủ yếu là nói đến thành phần văn học chữ Nôm, mặc dù văn học chữ Hán không phải không có những thành tựu đáng kể‖ [103, tr.
Cũng trong cuốn Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX Nguyễn Lộc đặt lại vấn đề: ―Văn học chữ Nôm ít ra đã có từ thời Hàn Thuyên, đời Trần. Đến thời Lê, với sáng tác của Nguyễn Trãi, của Lê Thánh Tông và Hội Tao Đàn, của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thiên Nam ngữ lục,. văn học chữ Nôm đã khẳng định đƣợc địa vị của nó trong đời sống văn học dân tộc, và đến thế kỷ XVIII thì nó phát triển rực rỡ‖ [103, tr. Trong cuốn Văn học trung đại Việt Nam tập 1, Nguyễn Đăng Na khi bàn về hệ thống văn tự và ngôn ngữ văn học đã cho rằng: ―Sau thế kỷ X, đất nƣớc độc lập nhƣng Hán học vẫn giữ địa vị quan trọng, Chữ Hán đƣợc dùng làm văn tự chính thức của nhà nƣớc.
Văn học chữ Hán đƣợc coi là chính thống, là thành phần chủ yếu‖ [113, tr. Ông khẳng định: ―Chữ Hán có sự cách biệt nhiều với ngôn ngữ đời sống hàng ngày của nhân dân. Hàng nghìn năm Bắc thuộc, ngôn ngữ dân tộc không mất đi. Trƣớc nhu cầu của đời sống xã hội, chữ Nôm ra đời để ghi âm tiếng nói dân tộc‖ [113, tr.
Ông nhận định: ―Đây là cuộc cách mạng văn tự, là cái mốc lớn trên con đường tiến lên của lịch sử, thể hiện ý chí tự cƣờng của nƣớc Đại Việt. Từ thời Trần đã khởi phát một phong trào dùng chữ Nôm sáng tác văn học‖ [113, tr. Ở cuốn “Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX” (Nxb Giáo dục Việt Nam, 2012) của Trần Nho Thìn, chúng tôi nhận thấy sự gặp gỡ trong quan niệm về nội dung hai thành phần văn học của ông với Bùi Duy Tân (trong bài viết Văn học chữ Hán trong mối tương quan với văn học chữ Nôm ở Việt Nam nói trên). Trần Nho Thìn phân biệt về mặt nội dung hai thành phần văn học chữ Hán và chữ Nôm: ―Trong khi văn học chữ Hán có xu hƣớng thiên về tính quan phƣơng chính thống, thiên về giáo huấn, nói chí tải đạo thì văn học chữ Nôm lại có xu hƣớng thiên về tính dân chủ, thông tục, chứa đựng tinh thần cách tân, chú trọng tính thẩm mĩ‖ [148, tr.