CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN DẠY TIẾNG KHMER THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực Từ năm 1980, nhà xã hội học người Mỹ, Leonard Nadler đã đưa ra sơ đồ quản lý nguồn nhân lực để diễn tả mối quan hệ và các nhiệm vụ của công tác quản lý nguồn nhân lực. Ông cho rằng quản lý nguồn nhân lực phải có 3 nhiệm vụ chính là: (1) Phát triển nguồn nhân lực (gồm GD&ĐT, bồi dưỡng, phát triển, nghiên cứu, phục vụ); (2) Sử dụng nguồn nhân lực (gồm tuyển dụng, sàng lọc, bố trí, đánh giá, đãi ngộ, kế hoạch hoá sức lao động); (3) Môi trường nguồn nhân lực (gồm mở rộng chủng loại việc làm, mở rộng quy mô làm việc, phát triển tổ chức) (dẫn theo, [31] tr.
Kết quả nghiên cứu của Leonard Nadler đã được nhiều nước trên thế giới sử dụng. Christian Batal (Pháp) trong bộ sách “Quản lý nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước” ( [44], tr.257, tập 2) cũng đã khai thác theo hướng này và đưa ra một lý thuyết tổng thể về quản lý phát triển nguồn nhân lực. Trong đó, Christian Batal đã sử dụng kết quả nghiên cứu của các khoa học khác (giáo dục học, dự báo, dân số học, toán học.) để đưa ra một bức tranh hoàn chỉnh của nhiệm vụ quản lý phát triển nguồn nhân lực, bao gồm từ khâu kiểm kê, đánh giá đến nâng cao năng lực, hiệu lực của nguồn nhân lực. Tác giả Nguyễn Lộc (2010) trong bài viết: “Một số vấn đề lý luận về phát triển nguồn nhân lực” [86] đã nêu lên một số khái niệm cơ bản về nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực, khẳng định vai trò quyết định của nguồn nhân lực cho sự phát triển KT-XH của quốc gia.
Theo đó, phát triển nguồn nhân lực được xem xét dưới những góc độ như đặc trưng của phát triển nguồn nhân lực, xác định chỉ số phát triển nguồn nhân lực và cơ cấu nguồn nhân lực. Tác giả Phạm Minh Hạc (2001), “Nghiên cứu con người và nguồn lực đi vào CNH, HĐH” [62] đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện chiến lược con người với tư tưởng coi nhân tố con người, phát triển con người, nguồn nhân lực con 11 người có ý nghĩa quyết định đối với việc sáng tạo vật chất và tinh thần; trình bày mối quan hệ giữa GD&ĐT, sử dụng và tạo việc làm với phát triển nguồn nhân lực đất nước; từ đó xác định trách nhiệm quản lý của GD&ĐT đối với việc phát triển nguồn nhân lực đi vào CNH, HĐH. Vũ Văn Phúc, Nguyễn Duy Hùng (2012), Sách “Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH và hội nhập quốc tế” [97] đã trình bày một số khái niệm cơ bản về nhân lực, nguồn nhân lực, phân tích đặc điểm của nguồn nhân lực Việt Nam, những vấn đề cơ bản để phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Đây là cuốn sách có giá trị tham khảo trong nghiên cứu và trong chỉ đạo thực tiễn phát triển nguồn nhân lực đất nước hiện nay.
Phạm Thành Nghị (2007), Sách “Nâng cao hiệu quả quản lý nguồn nhân lực trong quá trình CNH, HĐH đất nước” [94] đã đề cập đến những vấn đề lý luận cơ bản về nguồn nhân lực và quản lý nguồn nhân lực; phân tích hiệu quả quản lý nguồn nhân lực và những yếu tố tác động đến quản lý nguồn nhân lực nước ta trong quá trình CNH, HĐH đất nước. Nguyễn Hữu Tiệp (2010), Giáo trình “Giáo trình nguồn nhân lực” [121] đã trình bày một cách có hệ thống những vấn đề cơ bản về nguồn nhân lực như khái niệm, tiêu chí, phân loại, những yếu tố chi phối đến nguồn nhân lực; trình bày vấn đề GD&ĐT nguồn nhân lực, quản lý, bố trí, sử dụng, trọng dụng, các chính sách, cơ chế đối với nguồn nhân lực của đất nước. Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Trần Thị Bạch Mai [90] trong nghiên cứu của mình về quản lý nguồn nhân lực đã nêu ra những vấn đề gây cấn, những chính sách, các giải pháp phát triển nguồn nhân lực của nước ta từ những kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của các quốc gia trên thế giới. Những vấn đề này tuy đề cập ở nhiều khía cạnh khác nhau trong quản lý, phát triển nguồn nhân lực nhưng chỉ ở mức độ vĩ mô.
Tác giả Đặng Quốc Bảo - Đỗ Quốc Anh - Đinh Thị Kim Thoa với tác phẩm “Cẩm nang nâng cao năng lực và phẩm chất ĐNGV”, Nguyễn Thị Phương Hoa với tác phẩm “Con đường nâng cao chất lượng cải cách các cơ sở đào tạo GV”, Vũ Huy Chương với tác phẩm “Vấn đề tạo nguồn nhân lực tiến hành CNH, HĐH”, Phạm 12 Thành Nghị với tác phẩm “Nâng cao hiệu quả quản lý nguồn nhân lực trong quá trình CNH, HĐH đất nước”, Trần Khánh Đức với tác phẩm “Giáo dục và Phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI” (2014). Các công trình nghiên cứu trên đây bàn về phát triển nguồn nhân lực, khẳng định vai trò của nguồn nhân lực nói chung và ĐNGV nói riêng trong phát triển KT-XH. Mỗi công trình đề cập đến những khía cạnh khác nhau, nhưng điểm chung có thể rút ra là: khẳng định vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển KT-XH; thống nhất cơ bản với các nghiên cứu của thế giới về nội dung phát triển nguồn nhân lực và đề xuất sự vận dụng, với những giải pháp sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Nhìn tổng thể, các công trình nghiên cứu trên đã khái quát được những vấn đề cơ bản về phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong những năm đầu của thế kỷ XXI.
Cuốn sách: “Một số vấn đề về dân tộc và phát triển” [123] của tác giả Lê Ngọc Thắng. Tài liệu không chỉ có giá trị đối với những người làm công tác dân tộc, mà còn là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà khoa học nghiên cứu về dân tộc và giáo dục dân tộc. Tác giả đã phân tích rõ vị trí, vai trò của công tác dân tộc trong sự nghiệp cách mạng của nước ta; xây dựng cơ sở lý luận của việc xác định chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc. Đồng thời, tác giả đã chỉ rõ những đặc điểm ảnh hưởng đến phát triển NNL người DTTS, đó là: xuất thân từ cộng đồng DTTS, sinh sống ở những vùng khó khăn; hạn chế về nhận thức và tập quán, lối sống; điều kiện và ý thức tiếp cận thông tin… Tựu trung lại, những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về quản lý phát triển NNL đã đi đến những kết luận khác nhau tùy thuộc vào cách tiếp cận và xuất phát điểm nghiên cứu.
Những tài liệu nghiên cứu về phát triển NNL mà luận án đã khảo cứu là cơ sở lý luận để vận dụng và kế thừa. Từ nghiên cứu tổng quan cho thấy các lý thuyết về phát triển NNL khá hoàn thiện; các khái niệm phát triển NNL được mở rộng về đối tượng; nội hàm phát triển NNL hoàn thiện hơn như: xây dựng quy hoạch; giáo dục và đào tạo; tuyển chọn và sử dụng; đánh giá năng lực; bồi dưỡng, đào tạo lại và xây dựng môi trường làm việc thuận lợi cho nhân lực phát triển. Tuy nhiên, vẫn rất cần những nghiên cứu về phát triển NNL Việt Nam nói chung, ĐNGV nói riêng trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay. Đồng thời, 13 cần quan tâm khi vận dụng lý thuyết về phát triển NNL cần đặt vào trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể của đối tượng.
Các công trình nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều xem hoạt động bồi dưỡng ĐNGV là vấn đề cơ bản đối với phát triển giáo dục. Việc tạo điều kiện thuận lợi để mọi người có cơ hội học tập, học tập thường xuyên, học tập suốt đời để kịp thời bổ sung kiến thức và đổi mới phương pháp giảng dạy để phù hợp với sự phát triển KT-XH là phương châm hành động của các cấp quản lý giáo dục. Khi đề cập đến phát triển ĐNGV, ngoài sự thống nhất về nội dung các nhiệm vụ với quản lý phát triển nguồn nhân lực, thời gian gần đây những nghiên cứu trên thế giới đều dành sự quan tâm đặc biệt đến chất lượng GV; đề cao việc thúc đẩy phát triển bền vững và thích ứng nhanh của mỗi GV và cả đội ngũ. Trong đó, việc xuất hiện các công nghệ dạy học mới, dẫn đến nhu cầu thay đổi vai trò và phương pháp của người thầy càng trở nên cấp thiết; các hình thức bồi dưỡng GV cũng trở nên đa dạng và phong phú; quan tâm cách thức bồi dưỡng theo mô đun; kèm theo đó là chính sách giảm giờ dạy trên lớp của GV và coi trọng cơ cấu quan hệ về chức danh giữa tỉ lệ giáo sư với trợ giảng và trợ lý (dẫn theo [132], [137] , [139], [142], [146]).Beerens chủ trương tạo ra một “nền văn hoá” về sự thúc đẩy và học hỏi trong đội ngũ (Creating a Culture of Motivation and Learning), coi đó là giá trị mới của nhà giáo.Beerens cho rằng, tính động trong tăng trưởng và luôn luôn mới là tiêu chí trung tâm của đội ngũ nhà giáo ngày nay [136].
Một nghiên cứu tương tự trong công trình chung của các thành viên OECD (Tổ chức Hợp tác Phát triển Châu Âu) đã chỉ ra chất lượng nhà giáo gồm 5 mặt: i) Kiến thức phong phú về phạm vi chương trình và nội dung bộ môn mình dạy; ii) Kỹ năng sư phạm, kể cả việc có được “kho kiến thức” về PPDH, về năng lực sử dụng những phương pháp đó; iii) Có tư duy phản ánh trước mỗi vấn đề và có năng lực tự phê, nét rất đặc trưng của nghề dạy học; iv) Biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của người khác; v) Có năng lực quản lý, kể cả trách nhiệm quản lý trong và ngoài lớp học [122]. 14 Xây dựng và phát triển ĐNGV trong giáo dục được các nước trên thế giới đặt lên hàng đầu, là một trong những nội dung cơ bản trong các cuộc cách mạng cải cách giáo dục, chấn hưng, phát triển đất nước.Lê Nin rất coi trọng việc xây dựng ĐNGV và yêu cầu: “Nâng cao một cách có hệ thống, kiên nhẫn, liên tục trình độ và tinh thần của GV nhưng điều chủ yếu, chủ yếu và chủ yếu là cải thiện đời sống vật chất cho họ” ( [130], tr. Đến nay, có khá nhiều công trình nghiên cứu về quản lý và phát triển ĐNGV trong khu vực và trên thế giới.