Chương 1, điều 10 có ghi: “Nhà nước đảm bảo tự do nghiên cứu khoa học, sáng tác văn học nghệ thuật và các hoạt động văn hóa khác trong các trường cao đẳng theo đúng pháp luật…”, trong đó nêu rõ quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia NCKH, coi đây cũng chính là một giải pháp trọng tâm nâng cao chất lượng đào tạo. Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) định hình và thúc đẩy đường lối khoa học công nghệ toàn cầu mới vì tương lai nhân loại mong muốn, 11 theo định hướng của Hội nghị cấp cao Liên hợp quốc về Phát triển bền vững (Rio+20). UNESCO nhấn mạnh, để đạt được phát triển bền vững, Rio+20 đã khẳng định vai trò không thể thay thế của cộng đồng khoa học công nghệ, tầm quan trọng của chuyển giao công nghệ nhằm thu hẹp khoảng cách công nghệ giữa các nước phát triển và đang phát triển, nhu cầu tăng cường giao diện chính sách khoa học, nhu cầu tăng cường khả năng khoa học công nghệ của mỗi nước cũng như nhu cầu tăng cường phối hợp nghiên cứu quốc tế về phát triển bền vững. Ở Úc và New Zealand, có quỹ nghiên cứu khoa học công nghệ (RDC ở Úc và FRST ở New Zealand) không trực thuộc các Bộ và các cơ quan phục vụ công tác nghiên cứu và đào tạo mà trực tiếp cấp vốn và quản lý vốn cho khoa học công nghệ.
Ở các nước này đã có những mô hình quản lý khoa học được coi là tiên tiến hàng đầu thế giới, qua mô hình này có thể tìm được phần nào lời giải đáp những vấn đề tốn rất nhiều công sức tranh cãi trong quá trình đổi mới cơ chế, chính sách hoạt động khoa học và công nghệ. Liên bang Nga đã thành lập Trung tâm Đổi mới và Sáng tạo Skolkovo gần Moscow, trong đó có kế hoạch kết hợp khoa học và giáo dục. Trung tâm này sẽ hỗ trợ cho việc hình thành các trung tâm giáo dục khoa học nhằm thúc đẩy sự liên kết nghiên cứu và phát triển, các hoạt động giáo dục trong các trường ĐH và viện nghiên cứu. Hỗ trợ cả sinh viên tham gia vào các hoạt động nghiên cứu và phát triển, thúc đẩy di chuyển nhân lực trong và ngoài nước và tạo điều kiện thuận lợi cho phát huy năng lực của các nhóm nghiên cứu bao gồm các nhà khoa học cấp cao và các học giả trẻ tuổi qua việc áp dụng các khoản trợ cấp trong ba năm.
Khuyến khích sự liên kết giữa các trường đại học và các ngành công nghiệp. Tạo điều kiện cho việc hình thành các doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp khởi nguồn của các trường đại học bằng cách thúc đẩy cơ sở hạ tầng cho đổi mới (các cơ sở ươm tạo doanh nghiệp, khu công nghệ, trung tâm kỹ thuật và việc sử dụng chung các thiết bị nghiên cứu và thông tin khoa học và công nghệ) đã được bắt đầu trong năm 2010 thông qua một chương trình tài trợ có tính cạnh tranh. [36] Trường Đại học King Mongkut của Công nghệ Thonburi – Thailand (KMUTT) là một trường đại học nhấn mạnh khoa học và công nghệ, trong đó nghiên cứu được thực hiện hợp tác theo hình thức cụm. KMUTT có nhiều chương trình học tập mạnh mẽ như năng lượng và môi trường, công nghệ sinh học và thực phẩm, khoa học vật liệu và kỹ thuật vật liệu bao gồm các chương trình khoa học mới như khoa học sinh học và công nghệ sinh học, Trường đã đầu tư đáng kể trong phát triển nghiên cứu như nghiên cứu cung cấp tài trợ và 12 mua sắm thiết bị hiện đại.
Mục đích là cho KMUTT để trở thành một trường Đại học nghiên cứu quốc gia mà trội trong nghiên cứu và với sự công nhận quốc tế. Đại học phải là một trụ cột hỗ trợ cho người dân Thái Lan và quốc gia mà kết quả nghiên cứu dựa trên công nghệ và khoa học có thể được sử dụng để nâng cao khả năng cạnh tranh kinh tế của đất nước, đồng thời giúp phát triển cộng đồng và nâng cao đời sống nhân dân. Ở Mỹ luôn quan tâm đến năng lực đào tạo của GV và nghiên cứu chuyển giao kết quả NCKH được ứng dụng vào thực tiễn, phát triển mạnh mà điển hình là trường Đại học Harvad đã áp dụng phương pháp này và cũng rất quan tâm đến NCKH của GV sau 200 năm thành lập. Đến nay hôm nay, Đại học Harvad là một trường nổi tiếng về NCKH trên thế giới, nơi đây họ trao quyền chủ động cho GV và khuyến khích GV cùng SV hợp tác trong NCKH.
Nhà trường cung cấp trang thiết bị hiện đại phục vụ cho quá trình NCKH, cùng thư viện đầy đủ thông tin để GV và SV có thể truy cập thông tin quan tâm của tất cả các nước trên thế giới. [37] Trường Đại học Stanford thực hiện mô quản lý hết sức đặc biệt và mô hình này cực kỳ thành công, chất lượng giảng dạy, NCKH không hề bị suy giảm mà còn tốt hơn và một lượng của cải vật chất được tạo ra từ mô hình này đó chính là: phong trào NCKH và thương mại hóa công nghệ. Chính sách quản lý GV trong NCKH của họ rất thông thoáng về thời gian, cơ sở vật chất trong trường đều phục vụ cho GV NCKH ở mức tốt nhất. Bên cạnh đó, chính sách hỗ trợ chỗ ở cũng được các nhà quản lý tại trường Đại học Stanford quan tâm đặc biệt, các cư xá, biệt thự đầy đủ tiện nghi hỗ trợ cho các nhà khoa học hàng đầu trong trường, đây cũng là yếu tốt tác động hàng ngày đến việc NCKH của sinh viên và nghiên cứu viên trong trường.
[35] Các trường CĐ – ĐH ở Nhật đã thành lập Quỹ Khoa học, Quỹ này sẽ quản lý các mặt liên quan tới NCKH như: kinh phí, tiến độ… tất cả đều được công khai trên mạng qua một hệ thống điều hành riêng biệt. Ưu điểm của phương pháp này là các vấn đề NCKH đều được quản lý rất công khai và minh bạch. Thành công về lĩnh vực NCKH ở các trường CĐ – ĐH tại Hàn quốc tạo ra các nhóm NCKH do những Giáo sư hàng đầu trong một lĩnh vực đứng đầu nhóm. Họ quản lý nhóm của mình thông qua internet, hoạt động trên mạng xã hội ReseachGate.net với 2,4 triệu thành viên tham gia cộng tác NCKH, mạng này được ví như facebook của giới khoa học.
Các trường CĐ – ĐH trao quyền tự chủ cho trưởng nhóm, họ chính là đầu mối để liên hệ các nhà sản xuất trong việc đưa sản phẩm khoa học vào ứng dụng thực tiễn. Cơ chế này đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho các nhà khoa học quyền chủ động NCKH. 13 Nhìn chung, xu thế NCKH của các trường CĐ – ĐH trên thế giới là nghiên cứu gắn liền với nhu cầu thực tiễn. Đi theo hướng này, cùng với sự nổi lên của nghiên cứu ứng dụng, vai trò của nghiên cứu cơ bản ngày càng trở nên quan trọng; nghiên cứu cơ bản hoàn toàn có thể gắn với sản xuất và mang lại ý nghĩa thực tiễn rất cao.
Từ tăng cường liên kết giữa các ngành khoa học, việc thâm nhập của giới kinh doanh vào hoạt động nghiên cứu đã có tác động phá vỡ ranh giới thông thường vốn được tạo dựng trong môi trường nghiên cứu. Nhóm nghiên cứu đa ngành không còn hạn chế ở khoa học tự nhiên mà đã mở rộng ra giữa khoa học tự nhiên với khoa học công nghệ để cùng giải quyết những vấn đề của sản xuất và làm nổi bật mối quan hệ liên kết của cả khoa học tự nhiên với khoa học công nghệ và khoa học xã hội. Có lẽ đây vừa là định hướng, vừa là điều kiện để bảo đảm sự gắn kết bền vững giữa NCKH và sản xuất. Trong nước Hiện nay ở Việt Nam, việc xây dựng đội ngũ GV và CBQL các trường CĐ – ĐH đang là một mục tiêu ưu tiên của ngành Giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học, đáp ứng nhu cầu về nhân lực chất lượng cao và hội nhập quốc tế, phấn đấu đến năm 2020 đào tạo được 20.000 tiến sĩ, và từ nay đến năm 2015 “đào tạo được 1000 GV đạt chuẩn khu vực và quốc tế, 100% số GV giảng dạy lý thuyết trong các chương trình tiên tiến đạt trình độ tiến sĩ”.
Vậy, để thực hiện mục tiêu này các trường CĐ – ĐH sẽ làm gì, sự trẻ hóa đội ngũ GV sẽ tạo động lực, đòn bẩy trong các hoạt động NCKH, sự nhiệt tình cộng thêm niềm say mê nghiên cứu của sức trẻ sẽ có sức mạnh lan tỏa đến toàn thể đội ngũ GV trong các trường CĐ – ĐH. Chính vì vậy, các trường CĐ – ĐH học tập trung đẩy mạnh công tác NCKH phục vụ cho đào tạo, NCKH đã trở thành một trong hai trọng tâm chính của nhà trường. Đã có rất nhiều các công trình NCKH các cấp tập trung vào vấn đề làm sao phát triển NCKH trong GV, để gắn kết việc nghiên cứu với hoạt động giảng dạy, khả năng ứng dụng vào thực tiễn cao. Trong đó có những công trình nghiên cứu gắn với công tác quản lý hoạt động khoa học của GV cũng như của sinh viên ở các trường CĐ – ĐH.
Và thông qua đó đề xuất các biện pháp để giải quyết những bất cập trong việc tổ chức NCKH nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động NCKH. Một số các đề tài các cấp nghiên cứu về mảng quản lý hoạt động NCKH trong trường CĐ – ĐH đã được công bố như sau: 14 + Luận văn Thạc sĩ Quản lý Giáo dục “Một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học ở trường Đại học Văn hóa TPHCM” của tác giả Trần Hồ Thảo (2006) được bảo vệ tại trường Đại học Sư phạm TPHCM. Luận văn đã đưa ra được các nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng NCKH trong nhà trường. [32] + Luận văn Thạc sĩ Quản lý Giáo dục “Công tác quản lý hoạt động và nghiên cứu khoa học của sinh viên trường Đại học Quốc gia TPHCM” của tác giả Đinh Ái Linh (2006) được bảo vệ tại trường Đại học Sư phạm TPHCM.
Luận văn đã đưa ra được các biện pháp nâng cao hiệu quả việc quản lý hoạt động học tập và nghiên cứu trong sinh viên và quản lý hoạt động NCKH. [27] + Luận văn Thạc sĩ Quản lý Giáo dục “Quản lý hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học của giảng viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TPHCM” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Nga (2007) được bảo vệ tại trường Đại học Sư phạm TPHCM. Luận văn đã đưa ra được các nhóm giải pháp về quản lý hoạt động giảng dạy cũng như quản lý NCKH.