Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1.1 Động lực và tạo động lực làm việc cho người lao động 1.1 Các khái niệm liên quan * Khái niệm động lực làm việc Theo quy luật, nền kinh tế thị trường càng phát triển thì sẽ càng có tác động to lớn đến người lao động. Khi nền kinh tế thị trường phát triển, người lao động cũng từng bước cải thiện và nâng cao đời sống xã hội của họ, ngày càng phát sinh thêm những nhu cầu khác nhau. Động lực có nguồn gốc từ tiếng Latinh, “movere” có nghĩa đen là chuyển động.
Do đó, tất cả các định nghĩa dù xét trên góc độ nào thì cũng sẽ liên quan đến thực tế là động lực là hành vi và chuyển hóa hành vi để đạt được mục tiêu và kết quả mong muốn. Trong lĩnh vực công việc, động lực làm việc là “một tập hợp các năng lượng bắt nguồn từ bên trong các cá nhân, cũng như trong môi trường của họ, để bắt đầu các hành vi liên quan đến công việc và xác định hình thức, phương hướng, cường độ và thời gian của họ” [14, tr 11]. Theo Nguyễn Ngọc Quân: “Động lực được hiểu là sự khát khao, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu, kết quả nào đó. Theo Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương “Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu suất cao” [7, tr 30].
Động lực làm việc của nhân viên là sự nhiệt tình, mức năng lượng, cam kết mà nhân viên chủ động và mong muốn mang lại cho tổ chức nơi mình làm việc [13]. Động lực làm việc bắt nguồn từ sự tương tác giữa cá nhân và môi trường làm việc của họ. Ngoài ra, động lực bị ảnh hưởng bởi các đặc điểm tính cách, nhu cầu và thậm chí sự phù hợp với công việc, đồng thời tạo ra các kết 5 quả và thái độ khác nhau, chẳng hạn như sự hài lòng, hành vi, năng suất lao động [11]. Động lực lao động là một nguồn động viên đến từ bên trong mỗi con người, nó giúp họ có thể làm việc hăng say, nổ lực hơn, làm việc chăm chỉ hơn để tạo ra kết quả lao động thật tốt.
Tuy nhiên, cần hiểu rằng động lực lao động không phải là cái gốc rễ để người lao động có thể tăng năng suất cá nhân. Nó chỉ là một nhân tố giúp hiệu quả làm việc tăng lên, vì ngoài động lực lao động, hiệu quả làm việc phụ thuộc nhiều hơn vào trình độ của người lao động, tay nghề của họ, tổ chức cũng phải được trang bị các máy móc thiết bị tốt, quy trình quản lý, mức độ phát triển của cơ sở hạ tầng… Động cơ từ bên ngoài tập trung vào tiện ích của hoạt động hơn là bản thân hoạt động [10]. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là động lực bên ngoài kém hiệu quả hơn động lực bên trong [7]. Từ các cách hiểu trên có thể khái quát khái niệm động lực: Động lực là yếu tố bên trong của cá nhân mỗi người lao động.
Đó chính là những hoạt động có tính chất khuyến khích, động viên người lao động/cán bộ nhằm tác động vào nhu cầu của người lao động để tạo nên sự chuyển biến hành vi của họ hướng theo những mục tiêu mà doanh nghiệp hay cơ quan quản lý người lao động mong muốn đạt được. * Tạo động lực làm việc Động lực làm việc là nguồn năng lượng mạnh mẽ thúc đẩy và kích thích cán bộ/nhân viên, giúp họ đóng góp tối đa cho tổ chức. Vì vậy, việc tạo động lực tức là các hoạt động thiết lập và tạo ra các kích thích để vừa đạt được các mục tiêu của tổ chức, vừa đáp ứng các kỳ vọng của người lao động thông qua sự công nhận, phản hồi, cũng như khuyến khích, động viên, tất cả đều quan trọng góp phần làm tăng động lực làm việc của người lao động. Kết quả công việc không phải lúc nào cũng nói lên hết được năng lực, trình độ và tay nghề của người lao động.
Ngược lại, khi người lao động có động lực làm việc, họ không chỉ đơn giản là hoàn thành công việc được giao, 6 mà họ có thể hoàn thành nó một cách nhanh chóng và tốt hơn nhiều so với những tiêu chí ban đầu [2]. Vậy, có thể thấy bản chất của việc tạo động lực cho người lao động thực chất là việc kích thích giúp con người có được động lực để hoàn thành một mục tiêu nhất định cụ thể nào đó. Mục tiêu của con người là sự phản ánh về ý thức của người lao động bằng động cơ và những hành động của họ. Tạo động lực là việc giúp cho mỗi cá nhân người lao động có thể có được động lực trong làm việc.
Vì vậy, cần phải vận dụng những chính sách, các biện pháp và các công cụ quản lý một cách phù hợp để tác động lên người lao động, từ đó giúp cho người lao động có được động lực để làm việc, qua đó sẽ giúp họ có được mong muốn và nỗ lực để làm việc đóng góp công sức của mình cho doanh nghiệp [7, tr 33]. Theo Lê Thanh Hà (2009): “Tạo động lực lao động là hệ thống các biện pháp, chính sách, cách ứng xử của tổ chức tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động hài lòng hơn với công việc và nỗ lực phấn đấu để đạt được các mục tiêu của bản thân và tổ chức” [1, tr 27]. Người lao động có động lực lao động, họ sẽ làm việc bằng tất cả năng lực mà mình có, họ có thể hoàn thành tốt công việc của mình trong một khoảng thời gian. Và thông thường thành quả họ đạt được sẽ rất xứng đáng với những gì họ đã bỏ công sức ra: được quy ra: tiền lương, tiền thưởng, giá trị tinh thần, vị trí công tác như uy tín hay cơ hội thăng tiến đều sẽ phải tăng lên.
Người quản lý khi muốn thực hiện được công tác tạo được động lực làm việc cho người lao động cần phải thực sự hiểu người lao động mong muốn và kỳ vọng gì, từ đó có những hành động thiết thực giúp họ tăng các kích thích và ham muốn được cống hiến cho công việc. Tuy nhiên, duy trì và tạo và làm tăng động lực ở nơi làm việc cho nhân viên thường là một vấn đề đối với nhiều công ty, vì các biện pháp kích thích không phải lúc nào cũng làm hài lòng được mọi thành viên của tổ chức. Do đó các cơ quan, doanh nghiệp phải tìm nhiều cách tác động khác nhau nhằm tạo động lực để nhân viên của mình luôn 7 muốn gắn bó và hăng say làm việc với tâm thế sẵn sàng, tận tâm và cống hiến.2 Vai trò của tạo động lực làm việc cho người lao động Nếu một nhân viên có động lực làm việc thấp, họ có thể làm việc với tốc độ chậm hơn, tránh các nhiệm vụ và dành thời gian cho các việc riêng của họ. Nhưng quan trọng hơn, họ không tập trung và không dồn tâm sức vào công việc để hoàn thành nhiệm vụ với hiệu quả cao.
Điều này không chỉ làm lãng phí nguồn lực của công ty mà còn có thể gây ảnh hưởng xấu đến các nhân viên khác, có khả năng cản trở toàn bộ công ty để đạt được các mục tiêu quan trọng và đúng hạn. Ngược lại, một nhân viên năng động là người nhiệt tình, có động lực và tự hào về công việc của họ. Họ hoàn thành nhiệm vụ một cách nhanh chóng, tích cực và muốn hoàn thành tốt công việc cho cả bản thân và công ty. Vì vậy, cho dù công ty đang ở giai đoạn phát triển tốt, thịnh vượng hay đang trên đà phát triển, động lực của nhân viên là rất quan trọng.
Khi động lực làm viêc của nhân viên giảm, doanh thu và sản lượng có thể nhanh chóng giảm theo sau Khi triển các biện pháp tạo động lực cho nhân viên sẽ khuyến khích mọi người làm việc hiệu quả và mang lại kết quả doanh thu tốt hơn. Hiệu quả làm việc tốt hơn tiếp tục ảnh hưởng tích cực đến chế độ lương, phúc lợi, khen thưởng và các hoạt động tạo động lực tiếp theo cho nhân viên, từ đó, nó thúc đẩy mọi người tiếp tục cố gắng và nâng cao sự hài lòng trong công việc hơn. Khi người lao động có động lực làm việc, không những công việc sẽ được hoàn thành tốt hơn rất nhiều, họ còn cảm thấy hài lòng với thành tích mình làm được, họ sẽ thấy được những tác động của từ những việc làm của họ, qua đó, họ sẽ cố gắng để học hỏi, phát huy những điểm mạnh và khắc phục những hạn chế còn tồn tại của bản thân để có thể hoàn thành tốt hơn nữa nhiệm vụ họ được giao. Tạo động lực cho nhân viên bằng động viên, khen thưởng, quà tặng thưởng bằng vật chất và các lợi ích khác làm cho các nhân viên tích cực cảm 8 thấy được đánh giá cao và được hỗ trợ bởi tổ chức của họ.
Lợi ích và động lực của nhân viên song hành với nhau và cùng góp phần vào tỷ lệ giữ chân người lao động cao, duy trì tính ổn định của nguồn nhân lực trong tổ chức. Ngoài ra, khi nhân viên nhận được các đặc quyền hoặc các ưu đãi hơn, họ sẽ có động lực cao và ít suy nghĩ đến việc tìm kiếm một vị trí công việc khác. Do đó, không bao giờ được đánh giá thấp tầm quan trọng của việc tạo động lực tại nơi làm việc, vì nó kích thích sự ổn định và phát triển. Các tổ chức khi tạo thêm động lực làm việc cho nhân viên thường mang lại trải nghiệm đặc biệt cho nhân viên và tạo ra thương hiệu nội bộ mạnh.
Tuy nhiên, điều này không xảy ra một cách nhanh chóng được. Một thương hiệu doanh nghiệp mạnh là kết quả của các chiến lược và một phần dựa trên các phản hồi của nhân viên. Các doanh nghiệp có thương hiệu, sẽ có những nhân viên kì cựu, những nhân viên vui vẻ và năng động và luôn truyền thông tích cực về tổ chức của họ sẽ thu hút thêm được những nhân tài hàng đầu cho doanh nghiệp. Tóm lại, các lợi ích của việc đáp ứng nhu cầu và mong muốn của nhân viên bao gồm: Nhân viên vui vẻ và năng động; Tỷ lệ giữ chân nhân viên cao hơn; Lực lượng lao động khỏe mạnh hơn và bỏ ít ngày làm việc hơn; Tăng năng suất; Dịch vụ khách hàng tốt hơn; Đánh giá tích cực của nhân viên và truyền miệng về công ty.