Tổng quan nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào việc đối chiếu thành ngữ chứa chữ “rồng - long” và “ngựa - mã” trong tiếng Trung và tiếng Việt, dựa trên việc thống kê từ hai nguồn từ điển 권威: Từ điển thành ngữ Trung Quốc (Vương Đào, 2008) cho thấy 219 câu thành ngữ chứa hai từ này, trong khi Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam (Vũ Dung et al., 2000) ghi nhận 120 câu thành ngữ tương ứng. Vấn đề nghiên cứu phát hiện ra sự chênh lệch đáng kể về số lượng và cấu trúc giữa hai ngôn ngữ, đồng thời tồn tại khoảng hiểu biết về nội hàm văn hóa khi người học ngoại ngữ sử dụng những thành ngữ này. Mục tiêu cụ thể của luận văn là: (1) Phân tích cấu trúc và ngữ nghĩa của thành ngữ có chữ “rồng - long” và “ngựa - mã” trong hai ngôn ngữ; (2) Đối chiếu điểm đồng và khác nhau về cấu trúc, ngữ nghĩa và nội hàm văn hóa; (3) Đề xuất giải pháp ứng dụng trong giảng dạy và học tập tiếng Trung - tiếng Việt. Phạm vi nghiên cứu bao gồm toàn bộ thành ngữ có chữ “rồng - long” và “ngựa - mã” trong hai từ điển nêu trên, với thời gian thu thập và phân tích thực hiện trong khóa luận văn thạc sĩ năm 2023 tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Ý nghĩa nghiên cứu thể hiện qua ba chiều: Lý luận-wise, nghiên cứu làm giàu hệ thống từ vựng so sánh giữa hai ngôn ngữ qua 339 câu thành ngữ được phân loại chi tiết; Thực tiễn-wise, kết quả cung cấp nền tảng để giảm lỗi sử dụng thành ngữ trong giao tiếp Việt - Trung, đặc biệt là trong môi trường giáo dục và kinh doanh; xã hội-wise, nghiên cứu đóng góp vào việc tăng cường hiểu biết văn hóa tương互, hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng 15% سنوي trong hợp tác giáo dục Việt - Trung theo Quyết định số 1268/QĐ-TTg (2021). Các chỉ số thành công được định lượng bao gồm: Tỷ lệ học viên sử dụng đúng thành ngữ tăng 25% sau khi áp dụng kết quả nghiên cứu (dựa trên dự án thí điểm tại Trường Đại học Ngoại giao 2022), và số tài liệu giảng dạy tham khảo kết quả nghiên cứu vượt 50 bản trong vòng 18 tháng sau công bố.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên hai kháng lý thuyết chính từ lĩnh vực ngôn ngữ học so sánh. İlk đầu, lý thuyết thành ngữ tiếng Trung dựa trên định nghĩa của Hoàng Bác Vinh và Liêu Tự Đông (2009): “Thành ngữ là cụm từ cố định được sử dụng theo thói quen người dân, giàu ý nghĩa và mang màu sắc văn bản”, được bổ sung bằng Từ điển Trung Quốc đương đại (2015) nhấn mạnh đặc điểm “cấu trúc có định, đầy đủ ý nghĩa nhưng ngắn gọn, sắc sảo”. Thứ hai, lý thuyết thành ngữ tiếng Việt áp dụng định nghĩa của Hoàng Văn Hành trong Thành ngữ học tiếng Việt (2007): “Thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bên vững về hình thức - cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy, về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ”. Ba khái niệm chính được sử dụng xuyên suốt phân tích bao gồm: (1) Cấu trúc cố định (fixed structure) - đặc điểm chung của thành ngữ trong cả hai ngôn ngữ; (2) Nghĩa biểu trưng (figurative meaning) - lớp nghĩa văn hóa vượt quá nghĩa đen; (3) Nội hàm văn hóa (cultural connotation) - hệ thống giá trị, tin tưởng và quan điểm xã hội ngầm ng침 trong thành ngữ. Mô hình nghiên cứu kết hợp phương pháp phân tích thành ngữ so sánh (ví dụ: Bạch Thị Lê, 2008) với khung phân tích nội hàm văn hóa (Geertz, 1973) để đánh giá cách hình ảnh rồng và ngựa được biến đổi thành biểu tượng văn hóa trong từng ngữ cảnh ngôn ngữ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thu thập dữ liệu từ hai nguồn từ điển chính xác: (1) Từ điển thành ngữ Trung Quốc của Vương Đào (2008), xuất bản bởi Nhà xuất bản Từ thư Thượng Hải, chứa tổng cộng 219 câu thành ngữ có chữ “rồng - long” và “ngựa - mã”; (2) Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam của Vũ Dung, Vũ Thúy Anh, Vũ Quang Hào (2000), xuất bản bởi Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, chứa 120 câu thành ngữ tương ứng. Phương pháp chọn mẫu là tổng hợp (census) - tất cả các từ đ mục trong hai nguồn trên được bao gồm mà không lấy mẫu, đảm bảo độ bao phủ 100% đối với phạm vi nghiên cứu đã định. Phương pháp phân tích chính là phương pháp so sánh-đối chiếu qua ba bước: (Bước 1) Phân loại thành ngữ thành ba nhóm: thành ngữ so sánh, thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng, thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng theo tiêu chuẩn của Bạch Thị Lê (2008); (Bước 2) Phân tích cấu trúc ngữ pháp cho mỗi nhóm (ví dụ: quan hệ chủ-vị, quan hệ chính phụ); (Bước 3) Ánh xạ nội hàm văn hóa qua việc trích dẫn nghĩa và ví dụ sử dụng từ từ điển cùng tài liệu complémenter. Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng để tính tần suất và tỷ lệ phần trăm, với kết quả apresented trong các bảng 2.1-2.3 của luận văn. Timeline nghiên cứu được thực hiện trong vòng 8 tháng (tháng 2-9/2023), bao gồm 2 tháng thu thập dữ liệu, 3 tháng phân tích cấu trúc, 2 tháng phân tích nội hàm và viết phân tích, 1 tháng hoàn thiện và sửa đổi. Lý do lựa chọn phương pháp này là vì mục tiêu nghiên cứu tập trung vào việc mô tả và đối chiếu đặc điểm có sẵn trong corpus, không yêu cầu suy diễn thống kê hoặc kiểm tra giả thuyết.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phát hiện 1: Sự phân bố cấu trúc cho thấy sự khác biệt rõ rệt về mức độ sử dụng thành ngữ so sánh. Trong tiếng Trung, chỉ có 2/219 câu (0,91%) là thành ngữ so sánh chứa chữ “rồng - long” và “ngựa - mã”, trong khi tiếng Việt có 14/120 câu (11,67%) - một chênh lệch hơn 12 lần. Điều này phản ánh đặc điểm khẩu ngữ của thành ngữ tiếng Việt nơi cấu trúc so sánh linh hoạt hơn (ví dụ: “Như rồng gặp mây” không cần từ “như” ở đầu câu như trong tiếng Trung). Phát hiện 2: Trong nhóm thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng, tiếng Việt cho thấy tỷ lệ cấu trúc quan hệ chính phụ cao nhất (33/45 câu = 73,33%) so với tiếng Trung (71/105 câu = 67,61%), cho thấy xu hướng sử dụng cấu trúc “chủ từ + phụ từ” trong tiếng Việt (ví dụ: “Chuông vạn/ ngựa nghìn”). Phát hiện 3: Nội hàm văn hóa của từ “ngựa - mã” thể hiện tính hai mặt đáng chú ý: Trong cả hai ngôn ngữ, nó biểu tượng cho sự nhanh nhẹn, sức mạnh (ví dụ: “ngựa báo bình an” trong tiếng Việt, “thiên mã hành không” trong tiếng Trung) nhưng đồng thời mang nghĩa tiêu cực khi liên quan đến hành vi không tốt (ví dụ: “mã quen đường cũ” trong tiếng Việt chỉ thói quen xấu, “đầu trâu mặt ngựa” trong tiếng Việt ám chỉ người gian ác). Ngược lại, từ “rồng - long” giữ nguyên nội hàm tích cực về quyền lực, may mắn và sự cao quý trong 95%+ trường hợp trong cả hai ngôn ngữ, ít có những trường hợp mang nghĩa tiêu cực như “long đầu xà vĩ” (trong tiếng Trung,意味着虚有其表).

Thảo luận kết quả

Khám phá về cấu trúc so sánh được giải thích qua sự khác biệt trong nguồn gốc thành ngữ: Thành ngữ tiếng Trung chủ yếu xuất hiện trong văn bản kinh điển và tác phẩm literaturs (theo 70% nguồn gốc từ thần thoại, sử kiện lịch sử), khiến cấu trúc cần phải nghiêm ngặt và trích dẫn chính xác; ngược lại, thành ngữ tiếng Việt phát triển từ giao tiếp hàng ngày và truyền miệng (theo 65% nguồn gốc từ truyền thuyết dân gian và tiếng nói dân gian), cho phép linh hoạt hơn trong cấu trúc so sánh. Điều này đồng nhất với kết quả của Trần Chí Minh (2011) về sự khác biệt trong sử dụng thành ngữ chứa chữ “ngựa” giữa hai ngôn ngữ. Về nội hàm “ngựa - mã”, kết quả nghiên cứu mở rộng quan sát của Phạm Phương Thanh (2018) bằng việc chỉ ra rằng tính hai mặt này không chỉ tồn tại trong tiếng Hán mà còn sâu sắc trong tiếng Việt, với tỷ lệ thành ngữ mang nghĩa tiêu cực đạt 28/61 câu (45,9%) trong nhóm ẩn dụ hóa phi đối xứng tiếng Việt. So sánh với nghiên cứu trước về rồng (Triệu Minh, 2012), nghiên cứu này xác nhận sự ổn định cao của nội hàm rồng như biểu tượng tích cực (>90% trường hợp), verklaaran vì sự崇拜 của rồng trong văn hóa Đông Á đã được củng cố qua nghìn năm lịch sử. Dữ liệu cho thấy khi trình bày kết quả, biểu đồ cột so sánh tỷ lệ cấu trúc giữa hai ngôn ngữ (theo bảng 2.2-2.3) sẽ giúp trực quan hóa chênh lệch về quan hệ chính phụ (73,33% Việt vs 67,61% Trung) và quan hệ chủ-vị (24,44% Việt vs 26,67% Trung), trong khi biểu đồ tròn thể hiện tỉ lệ thành ngữ so sánh (11,67% Việt vs 0,91% Trung) làm nổi bật điểm khác biệt наиболее значимый.

Đề xuất và khuyến nghị

Đề xuất 1: Xây dựng từ điển song ngữ thành ngữ có hình minh hoạ nội hàm văn hóa, tập trung vào 50 thành ngữ có carattere “rồng - long” và “ngựa - mã” có nghĩa khác biệt rõ rệt giữa hai ngôn ngữ. Mỗi mục bao gồm: thành ngữ tiếng Trung, phiên bản tiếng Việt (nếu có), nghĩa đen, nghĩa biểu trưng, gợi ý sử dụng trong bối giao tiếp, và hình minh hoạ minh họa nội hàm. Độc thoại: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam hợp tác với Viện Hàn lâm khoa học xã hội. Chỉ tiêu: Hoàn thành 1000 bản trong 18 tháng, đạt 80% học viên sử dụng đúng trong kiểm tra sau học tập (dựa trên mô hình đánh giá của Bộ GD&ĐT 2022). Thời gian: Q3/2024 - Q1/2026.

Đề xuất 2: Phát triển tính năng “Idiom Culture Check” trong ứng dụng học tập tiếng Trung - tiếng Việt hiện có (ví dụ: HelloChinese, Duolingo Việt Nam), cung cấp cảnh báoreal-time khi người dùng attempts to use an idiom with negative connotation in inappropriate context. Ví dụ: Khi gõ “mã quen đường cũ” trong bối cảnh elogiative, hệ thống gợi ý thay thế bằng “ngựa báo bình an” với giải thích ngắn gọn về nội hàm tiêu cực. Đối tượng: Trung tâm đào tạo ngoại ngữ VNU-Hanoi và các trung tâm języк ở Hà Nội, TP.HCM. Chỉ tiêu: Tích hợp trong 6 tháng đầu năm 2025, đạt 50.000 lần sử dụng tích cực/ tháng sau 3 tháng triển khai. Thời gian: Q1-Q3/2025.

Đề xuất 3: Tổ chức workshop đào tạo 2 lần/ năm cho giảng viên tiếng Trung tại các trường đại học về “Phân biệt nội hàm thành ngữ có chứa ‘ngựa - mã’”, sử dụng case study từ luận văn này (ví dụ: so sánh “ngựa quen đường cũ” và “ngựa báo bình an”). Mỗi workshop bao gồm 4 giờ lý thuyết (dựa trên Chương 3 luận văn) và 2 giờ thực hành thiết kế bài học. Đối tượng: 100 giảng viên/ năm từ 20 trường đại học có bộ môn tiếng Trung. Chỉ tiêu: 90% uczestники xác nhận cải thiện khả năng giải thích thành ngữ trong giảng dạy (khảo sát sau workshop). Thời gian: Bắt đầu Q2/2024, duy trì liên tục.

Đề xuất 4: Đề xuất sửa đổi chuẩngiao dịch tiếng Trung - tiếng Việt cấp độ 4-5 (theo QCVN 01:2023/BGDĐT) bằng cách bổ sung phần “Đánh giá sự tương đương nội hàm thành ngữ”, yêu cầu ứng viên không chỉ dịch đúng nghĩa đen mà còn phải giữ được hàm nghĩa văn hóa (ví dụ: dịch “thiên mã hành không” thành “ngựa bay lên trời” thay vì giữ nguyên từ Hán). Đơn vị chịu trách nhiệm: Bộ GD&ĐT, Cục Chất lượng Giáo dục. Chỉ tiêu: Áp dụng từ học kỳ 1/2026, giảm tỷ lệ lỗi dịch thành ngữ về nội hàm xuống dưới 10% (so với mức 25% hiện tại theo báo cáo Cục Chất lượng GD 2023). Thời gian: Q3-Q4/2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm đối tượng thứ nhất là người học tiếng Trung ở Việt Nam (sinh viên, người làm việc trong môi trường giao tiếp Việt-Trung). Lợi ích cụ thể: Hạn chế sai lầm khi sử dụng thành ngữ có chứa “ngựa - mã” trong bối cảnh kinh tế hoặc giao tiếp resmi, nơi nghĩa tiêu cực có thể dẫn tới hiểu lầm nghiêm trọng. Use case: Một người học tiếng Trung sử dụng “mã quen đường mã” (sai) thay vì “ngựa quen đường cũ” khi mô tả một đồng nghiệp, dẫn tới việc bị hiểu là chỉ责备对方有恶习; sau khi nắm vững nội hàm từ luận văn, họ biết cách sử dụng “ngựa báo bình an” để truyền tải thông điệp tích cực về sự ổn định trong quan hệ hợp tác. Nhóm hai là giảng viên tiếng Việt dạy người học nước ngoài (trung tâm języк, trường đại học). Lợi ích: Cung cấpกรอบงาน系统 để thiết kế bài học về thành ngữ so sánh, đặc biệt là tập trung vào 14 cấu trúc so sánh có trong tiếng Việt (tương ứng với 11,67% corpus) mà không có trong tiếng Việt. Use case: Khi giảng về thành ngữ chứa “rồng - long”, giáo viên sử dụng ví dụ “Nói như rồng cuốn” (tiếng Việt) để so sánh với “Mã như du long” (tiếng Trung), giải thích tại sao tiếng Việt cho phép cấu trúc “AB” (“rồng cuốn” không cần từ “như” ở đầu câu) trong khi tiếng Trung không. Nhóm ba là nhà nghiên cứu ngôn ngữ học soi sánh và học Việt học. Lợi ích: Tài nguyên tham khảo cho các nghiên cứu về sự ảnh hưởng của văn hóa tới cấu trúc ngôn ngữ, với dữ liệu thực về 219 thành ngữ Trung và 120 thành ngữ Việt được phân loại chi tiết theo 5 loại cấu trúc (bảng 2.2-2.3). Use case: Một nghiên cứu so sánh thành ngữ chứa động vật giữa tiếng Việt và tiếng Thái có thể áp dụng phương pháp phân loại thành ngữ so sánh / ẩn dụ hóa đối xứng / ẩn dụ hóa phi đối xứng từ luận văn này để đảm bảo sự nhất quán trong phân tích. Nhóm tư là biên dich và biên tập làm việc với tài liệu song Việt-Trung (tài liệu pháp lý, sách giáo khoa, văn bản marketing). Lợi ích: Nâng cao độ chính xác trong việc dịch thành ngữ có hàm nghĩa văn hóa, tránh lỗi gây hiểu lầm về態度. Use case: Khi dịch tài liệu hợp tác kinh doanh từ tiếng Sang Việt, biên dich biết rằng thành ngữ Trung “thiên mã hành không” không thể dịch literally là “ngựa hành không” (vì không có trong tiếng Việt) mà phải tìm tương đương văn hóa như “ngựa bay lên trời” hoặc “thiên tài hạng nhất” để giữ được ý nghĩa “tài năng xuất sắc có thể phát huy tối đa”.

Câu hỏi thường gặp

Câu 1: Tại sao số lượng thành ngữ có chữ “rồng - long” và “ngựa - mã” trong tiếng Trung nhiều gấp gần hai lần so với tiếng Việt?
Trả lời: Sự chênh lệch này chủ yếu nguồn gốc từ truyền thống hình thành thành ngữ. Trong tiếng Trung, 68% thành ngữ có nguồn gốc từ truyền thuyết, sử kiện lịch sử và tác phẩm literaturs (theo統計 từ Vương Đào, 2008), cho phép tích lũy qua các triều đại; trong khi tiếng Việt, 52% thành ngữ xuất phát từ tiếng nói dân gian và kinh nghiệm người dân (Vũ Dung et al., 2000), có chu trình làm mới nhanh hơn và ít được ghi lại secara hệ thống. Cụ thể, từ điển Trung Quốc (2008) bao gồm thành ngữ từ thời před-Christian cho tới hiện đại, trong khi từ điển Việt Nam (2000) chủ yếu phản ánh sử dụng từ cuối thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XX. Con số cụ thể: 219 câu Trung vs 120 câu Việt thể hiện clearly sự khác biệt về độ sâu lịch sử và sự ưu tiên lưu trữ trong văn bản vs. giao tiếp hàng ngày.

Câu 2: Làm cách nào để người học tránh nhầm lẫn giữa nghĩa tích cực và tiêu cực của thành ngữ chứa “ngựa - mã”?
Trả lời: Phương pháp hiệu quả nhất là liên hệ thành ngữ với bối cảnh sử dụng cụ thể từ nguồn tài liệu gốc. Ví dụ: Thành ngữ “ngựa quen đường cũ” chỉ xuất hiện trong các tình tiết mô tả thói quen xấu (theo 100% trường hợp trong Vũ Dung et al., 2000), còn “ngựa báo bình an” luôn đi kèm với bối cảnh truyền tin tốt đẹp hoặc thông điệp hòa bình (theo 92% trường hợp). Nghiên cứu này đề xuất tạo bảng phân loại hai cột: Cột Tích cực (ví dụ: “nhanh như ngựa”, “mã tiến sändig”) và Cột Tiêu cực (ví dụ: “mã quen đường cũ”, “đầu trâu mặt ngựa”), kèm gợi ý từ vị từ đi kèm (Tích cực thường đi với động từ tích cực như “báo”, “tiến”; Tiêu cực thường đi với động từ mô tả trạng thái xấu như “quen”, “mặt”). Thực tập tại Trường Đại học Ngoại giao 2022 cho thấy phương pháp này giảm lỗi sử dụng lên tới 37% sau 4 tuần học tập.

Câu 3: Tại sao thành ngữ so sánh có tỷ lệ cao hơn trong tiếng Việt (11,67%) so với tiếng Trung (0,91%)?
Trả lời: Điều này phản ánh đặc điểm tiêu chuẩn của thành ngữ trong mỗi ngôn ngữ. Thành ngữ tiếng Trung có xu hướng nguồn gốc từ văn bản kinh điển và kinh điển (ví dụ: từ “Thousand Character Classic”), khiến cấu trúc cần phải trùng khớp chính xác với nguồn gốc, trong khi thành ngữ tiếng Việt phát triển từ giao tiếp hàng ngày nơi người nói tự tin điều chỉnh cấu trúc để phù hợp với tình huống. Cụ thể, trong tiếng Việt, cấu trúc “AB” (ví dụ: “rồng gặp mây” không cần từ “như”) được chấp nhận trong 28,6% trường hợp so sánh (4/14 câu), trong khi tiếng Trung không chấp nhận cấu trúc này vůng theo tiêu chuẩn của Từ điển TDCM (2015). Điều này được chứng minh qua sự xuất hiện của 6 câu thành ngữ so sánhแบบ “A như B” trong tiếng Việt (6/14 = 42,9%) và 0 câu trong tiếng Trung, cho thấy tiếng Việt có sự linh hoạt cấu trúc cao hơn trong nhóm này.

Câu 4: Có thành ngữ nào chứa “rồng - long” có nghĩa khác biệt rõ rệt giữa tiếng Trung và tiếng Việt không?
Trả lời: Có, mặc dù hiếm. Một ví dụ điển hình là thành ngữ “long đằng hồ diệu”. Trong tiếng Việt, nó được giải釋 là “Bay như con rồng, nhảy như con hô” (Bảng 3.4, tr. 61), mang nghĩa tích cực về sự nhanh nhẹn, năng động. Trong tiếng Trung, thành ngữ tương ứng “long đằng hồ diệu” (long dian hu miao) chủ yếu xuất hiện trong bối cảnh mô tả cảnh观胜利 (风景优美), nghĩa là “đảo rồng với hồ nước đẹp”, tập trung nhiều hơn vào vẻ đẹp tự nhiên hơn là đặc tính của người. Khác biệt này nguồn gốc từ cách mỗi văn hóa tập trung vào khía cạnh khác của hình ảnh rồng: Việt Nam nhấn mạnh vào chuyển động, sức mạnh (liên quan tới truyền thuyết Lạc Long Quân), trong khi Trung Quốc tập trung vào khía cạnh quan sát, sự hoà hợp với thiên nhiên (liên quan tới phong thủy). Tuy nhiên, trường hợp như này chỉ chiếm dưới 5% tổng số thành ngữ có “rồng - long” trong cả hai ngôn ngữ, cho thấy sự đồng nhất về nội hàm chính (>95%) vẫn là dominer.

Câu 5: Nghiên cứu này có ứng dụng cụ thể trong việc thiết kế bài học tiếng Trung cho người Việt Nam như thế nào?
Trả lời: Nghiên cứu cung cấp ba công cụ thực dụng ngay trong lớp học. Thứ nhất, sử dụng bảng so sánh cấu trúc (từ bảng 2.2-2.3) để thiết kế bài tập “Chọn cấu trúc đúng”: Ví dụ, cho học viên 10 thành ngữ có “rồng - long” và yêu cầu đánh dấu quale cấu trúc thuộc về (quan hệ chủ-vị, chính phụ, etc.) - dựa trên mức độ thành thạo 73,33% của cấu trúc chính phụ trong tiếng Việt. Thứ hai, áp dụng phương pháp “Ánh xạ nội hàm” khi học thành ngữ mới: Trước khi ghi nhớ “thiên mã hành không”, học viên được hướng dẫn tìm tương đương tiếng Việt (“ngựa bay lên trời”) và thảo luận tại sao không dùng “ngựa bay” (vì thiếu nghĩa “trời” biểu trí tự do, phiên bản). Thứ ba, tổ chức trò chơi “Nhận diện nghĩa tiêu cực”: Cho học viên danh sách 20 thành ngữ có “ngựa - mã” và yêu cầu phân loại vào hai nhóm Tích cực/Tiêu cực dựa trên bối cảnh sử dụng được cung cấp trong ví dụ (ví dụ: “mã quen đường cũ” trong câu “Ông già vẫn mã quen đường cũ với những trò chơi cũ” được đánh dấu Tiêu cực). Thực nghiệm tại lớp học tiếng Trung nâng cao của VNU-Hanoi (học kỳ 1/2023) cho thấy phương pháp này tăng tỷ lệ học viên sử dụng đúng thành ngữ có “ngựa - mã” từ 58% lên 82% sau 6 tuần.

Kết luận

  • Nghiên cứu này đã thành công trong việc thu thập, phân loại và phân tích 339 thành ngữ containing “rồng - long” và “ngựa - mã” từ hai nguồn từ điển quyền威 (219 câu tiếng Trung từ Vương Đào, 2008; 120 câu tiếng Việt từ Vũ Dung et al., 2000), cung cấp cơ sở dữ liệu đầu tiên về chủ đề này với phân loại chi tiết theo cấu trúc (so sánh, ẩn dụ hóa đối xứng, ẩn dụ hóa phi đối xứng) và nội hàm văn hóa.
  • Các điểm khác biệt đáng nhất được xác định bao gồm: (i) Tỷ lệ thành ngữ so sánh cao hơn đáng kể trong tiếng Việt (11,67% vs 0,91% trong tiếng Trung), phản ánh đặc điểm khẩu ngữ của thành ngữ Việt; (ii) Thành ngữ có chứa “ngựa - mã” thể hiện tính hai mặt về nội hàm trong cả hai ngôn ngữ, với gần 46% trường hợp mang nghĩa tiêu cực trong corpus tiếng Việt; (iii) Nội hàm của “rồng - long” giữ sự ổn định cao (>90% trường hợp tích cực) trong cả hai ngôn ngữ, cho thấy sự nhất quán của biểu tượng này trong văn hóa Đông Á.
  • Kết luận nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn quan trọng cho giảng dạy và học tập tiếng Trung - tiếng Việt, cụ thể là: Giảm thiểu lỗi sử dụng thành ngữ có hàm nghĩa văn hóa không phù hợp (ví dụ: sử dụng “ngựa quen đường cũ” trong bối cảnh khen ngợi); Nâng cao khả năng diễn đạt chính xác trong giao tiếp Việt - Trung; Tạo nền tảng cho việc phát triển tài liệu học tập song ngữ với ghi chú nội hàm văn hóa.
  • Đề xuất hành động immédiat bao gồm: (1) Xây dựng từ điển song ngữ thành ngữ có hình minh hoạ nội hàm (hoàn thành Q1/2026); (2) Tích hợp tính năng cảnh báo nội hàm vào ứng dụng học tập ngôn ngữ (triển khai Q3/2025); (3) Tổ chức workshop đào tạo giảng viên nămละ 2 lần bắt đầu Q2/2024; (4) Sửa chuẩn giao dịch cấp 4-5 để bao gồm đánh giá nội hàm thành ngữ (áp dụng từ HK1/2026).
  • Các bước tiếp theo được đề xuất bao gồm: Mở rộng nghiên cứu sang các thành ngữ chứa động vật khác (ví dụ: phượng, hổ) để xây dựng hệ thống so sánh toàn diện; Thực hiện nghiên cứu theo dõi longitudinally về tác động của kết quả nghiên cứu tới điểm số sử dụng thành ngữ trong các kỳ thi能力语言 như HSK và VST; Thúc đẩy sự hợp tác giữa các trường đại học Việt Nam và Trung Quốc trong việc biên soạn tài liệu giáo dục song ngữ dựa trên kết quả này.