CHƯƠNG 1: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN CHUNG 1. Tổng quan các nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu ở Trung Quốc (1). Nghiên cứu liên quan đến con rồng Con rồng từ lâu đã được coi là một con vật hư cấu, nhưng cũng có nhiều sách cô ghi rang con rồng có thật thé, từ đó có khá nhiều đề tài nghiên cứu chuyên sâu về nó.
Trong văn hóa Trung Quốc, con rồng là một động vật rất cao quý, khiến con người kính sợ và một số dân tộc đã hình thành văn hóa “rồng” sâu đậm và đặc biệt dựa trên truyền thuyết va sự tưởng tượng về con rồng. Năm 2012, Triệu Minh đã so sánh văn hóa “rồng” Trung Quốc qua nội hàm văn hóa của nó với văn hóa “rồng” của các nước như Hàn Quốc, Nga và Nhật Bản trong bài “Văn hóa “Rồng' trong thành ngữ Trung Quốc”. Tập Vũ (2015) trong luận văn “Đối chiếu văn hóa “rồng? Trung Quốc và phương Tây dưới tầm nhìn tôn giáo” lấy hình ảnh bên ngoài, chức năng cơ bản và hình ảnh tôn giáo của “rồng” Trung Quốc và “rồng” phương Tây, từ đó so sánh những điểm khác của nội hàm văn hóa mà con rồng chứa đựng ở Trung Quốc và phương Tây. Ngoài ra, còn có các bài như “Nói về văn hóa ‘rong’ Trung Quốc và phương Tây” của Triệu Lệ Linh (2015), “Phân tích sự tương đồng và khác biệt giữa văn hóa tô-tem “rồng” của Trung Quốc và phương Tây” của Lý Thúy Quyên (2012) đều so sánh và phân tích từ hình ảnh “rồng” Trung Quốc và hình ảnh “rồng” phương Tây, từ đó tìm ra sự khác biệt trong nội hàm văn hóa mà hai bên chứa đựng.
Nghiên cứu liên quan đến con ngựa Mã Dan (2006) trong bài “Nói về ý nghĩa biểu tượng của 12 cầm tinh trong thành ngữ Hán ngữ và việc giảng dạy của nó” đã phân tích răng là: Trên cơ sở nghiên cứu ý nghĩa của thành ngữ về 12 con giáp trong tiếng Trung Quốc, 10 phân tích ý nghĩa biểu tượng, nội hàm văn hóa mà 12 con giáp có và đề xuất phương pháp sử dụng trong hoạt động giảng dạy. Trong đó, tần suất xuất hiện cao nhất trong thành ngữ về động vật là thành ngữ về “ngựa”. Năm 2007, Phòng Bồi đã thảo luận về nguồn sốc, hình thành, tiễn hóa, đặc điểm cấu trúc và đặc điểm tu từ, ý nghĩa văn hóa, tính nhân văn cũng như sự xây dựng của ý nghĩa của thành ngữ Trung Quốc trong bai “Tìm hiểu van đề về thành ngữ có yếu tố chỉ động vật trong tiếng Trung”. Tác giả đã khảo sát được tổng cộng có gần 50 loài động vật, và một trong những loài được sử dụng thường xuyên nhất cũng là thành ngữ về “ngựa”.
Bởi vì nó là loài vật sống gần gũi nhất với con người. Tác giả chỉ ra rằng hình ảnh con ngựa hầu hết được sử dụng trên hình ảnh tích cực của lời khen ngợi. Về nghiên cứu về gốc độ ngôn ngữ và văn hóa, vào năm 2012, trong bài “Nghiên cứu về ngôn ngữ và văn hóa của thành ngữ có yếu tố chỉ động vật trong tiếng Trung Quốc”, tác gia Đồng Hiểu Vinh đã sắp xếp nó thành sáu loại theo mức độ liên quan chặt chẽ đến cuộc sống của người dân Trung Quốc và vị trí của nó trong văn hóa Trung Quốc, thảo luận về ý nghĩa của thành ngữ có yếu tố chỉ động vật, còn phân tích và giải thích các khía cạnh như văn hóa tu từ, nguồn gốc lịch sử và ý nghĩa văn hóa của thành ngữ có yêu tố chỉ động vật. Theo kết quả phân loại của tác giả, có 72 câu thành ngữ có chứa chữ “ngựa”, là số lượng nhiều nhất trong các thành ngữ có yếu tổ chỉ động vật.
Một trong những lý do quan trọng nhất là trong thời cô đại của Trung Quốc, con ngựa có một vi trí quan trọng trong xã hội Trung Quốc như là một phương tiện giao thông và công cụ trong chiến tranh. Qué Ngân Binh (2016) đã so sánh các đặc điểm, việc phân loại, nguồn sốc của thành ngữ có yếu tố chỉ động vật trong tiếng Anh và tiếng Trung Quốc và phân tích tính quan trọng của thành ngữ có yếu tố chỉ động vật trong giảng dạy tiếng Trung Quốc cho người nước ngoài trong bài “Phân tích so sánh thành ngữ có yếu tô chỉ động vật trong tiếng Trung Quốc và tiếng Anh 11 và các phương pháp giảng dạy của nó”. Năm 2011, trong bài “ So sánh thành ngữ về 12 con giáp trong tiếng Trung và tiếng Việt và văn hóa của nó” từ góc độ ngữ nghĩa và văn hóa, tác giả Trần Chí Minh đã so sánh thành ngữ có chứa chữ “ ngựa” trong tiếng Trung và tiếng Việt và chỉ ra rằng, thành ngữ có chứa chữ “ngựa” trong tiếng Trung và tiếng Việt có 12 cái từ ngữ nghĩa hoàn toàn giống nhau, tiếng Trung dùng chữ “ngựa” dé mô tả nhưng tiếng Việt không dùng có 32 cái từ và tiếng Việt dùng chữ “ngựa” nhưng tiếng Trung không dùng chỉ 4 cái từ. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam (1).
Nghiên cứu liên quan đến con rồng Ở Việt Nam, con rồng cũng là con vật có vị trí cao. Người dân Việt Nam cũng coi rồng như một vị thần của họ, một trong Tứ Linh của họ vả cũng là vật tô-tem của họ. Tuy nhiên, hiện nay chưa có nhiều luận văn chuyên về thành ngữ có chứa chữ “rồng”, trong đó Bạch Thị Lê (2008) đã có bài tại Trường Dai học Khoa học Xã hội và Nhân văn Việt Nam với đề tài “So sánh cấu trúc ngữ nghĩa các đơn vị thành ngữ có yếu tố chỉ động vật trong tiếng Việt với một số ngôn ngữ nhóm Tày-Thái ở Việt Nam”. Trong luận văn này đã viết đến thành ngữ có chứa chữ “rồng”.
Tác giả đã so sánh thành ngữ có yếu tố chi động vật trong tiếng Việt và tiếng Tày-Thái dé tìm ra nội hàm văn hóa của nó, đồng thời đề xuất các yếu tố liên tưởng đến đặc trưng văn hóa của các dân tộc Việt Nam. Quyền sách thì có Tìm hiểu văn hóa thời đại Hùng Vương của Lê Thái Dũng (2010) đã nói về nguồn gốc dân tộc Việt Nam -- người Việt Nam luôn coi mình là “con Rồng cháu Tiên”, đồng thời coi trọng nhẫn mạnh ảnh hưởng của con rồng đối với văn hóa Việt Nam. Và Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm (2004) đã nói đến con rồng là một trong Tứ Linh trong tâm người Việt, nguôn gôc của con rông, sự tôn sùng của con rông và ảnh 12 hưởng của con rồng đối với văn hóa Việt Nam. Nghiên cứu liên quan đến con ngựa Hiện nay, các nghiên cứu về thành ngữ tiếng Việt khá nhiều, nhưng các nghiên cứu chuyên về thành ngữ có yếu tố chỉ động vật còn ít.
Năm 2003, Nguyễn Thị Bảo trong luận văn “Ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ động vật trong thành ngữ tiếng Việt (so sánh với thành ngữ tiếng Anh)” đã phân tích thống kê được thành ngữ chứa hình động vật trong tiếng Việt có 1,555 câu (gồm 157 loài động vật), trong đó có 58 câu thành ngữ có chứa chữ “ngựa”. Nhưng chỉ có 463 câu thành ngữ chứa hình động vật trong tiếng Anh (gồm 74 loài động vật), trong đó 36 câu thành ngữ có chứa chữ “ngựa”. Tác giả chỉ ra rang con ngựa là con vật duy nhất có ý nghĩa tích cực trong cả hai ngôn ngữ, mặc dù trong đời sống hiện nay ít có hình dáng của con ngựa, nhưng hình ảnh của nó rất quan trọng và phong phú trong tâm người Việt. Nam 2009, trong bài “Nghiên cứu đối chiếu thành ngữ Hàn - Việt có yêu tố chỉ tên gọi động vật (nhìn từ gốc độ ngôn ngữ - văn hóa)”, tác giả Lê Thị Thương đã chỉ ra rằng, trong tiếng Việt, con ngựa tượng trưng cho cuộc sông thoải mái, giàu sang, thé hiện sự nhanh nhẹn trong vận động, là biểu tượng của sự đoàn kết, yêu thương lẫn nhau giữa các tập thể.
Đồng thời, tác giả cũng nói đến hầu hết ý nghĩa biểu tượng của thành ngữ có chứa chữ “ngựa” trong tiếng Việt và tiếng Hàn đều là những thành ngữ ca ngợi, có tính tích cực. Năm 2018, trong bài “Đối chiếu thành ngữ Hán-Việt có yếu tố con “ngựa' từ góc độ nhận thức” của Phạm Phương Thanh, tác giả chủ yếu hướng đến sự so sánh về ý nghĩa của thành ngữ có chứa chữ “ngựa” trong tiếng Hán và tiếng Việt và chỉ ra rằng, tỷ lệ thành ngữ có chứa chữ “ngựa” có nghĩa xấu trong tiếng Hán lớn hơn trong tiếng Việt. Tóm lại, con rồng là con vật linh thiêng theo tín ngưỡng chung của Trung Quôc và Việt Nam, còn con ngựa là con vật không thê thiêu trong sản xuât và 13 đời sống của người dân hai nước. Các tác giả đã nhắc đến có người viết về ảnh hưởng của hình ảnh hai con vật này đối với văn hóa hai nước, một số thì cụ thê hóa trong nghiên cứu về cau trúc thành ngữ và thành ngữ có yếu tổ chỉ động vật.
Nhưng từ trước đến nay, chưa có tác giả nào so sánh cụ thê về thành ngữ có chứa chữ “rồng - long” và chữ “ngựa - mã” trong tiếng Trung và tiếng Việt. Dựa trên những kết quả nghiên cứu của các tác giả làm cơ sở lý luận, cộng với số lượng thành ngữ có chữ “rồng - long” và chữ “ngựa - mã” trong tiếng Trung và tiếng Việt khá phong phú, mới làm đề tải này được tiếp tục phát trién. Hệ thống các khái niệm 1. Khái niệm thành ngữ trong tiếng Trung Trong Từ điển Trung Quốc xuất bản vào năm 1936, người ta cho rằng thành ngữ là câu nói ngày xưa thường được người hiện tại trích dẫn.
Hoặc từ sách kinh điển, hoặc từ dân gian, đa số là những từ của dân gian mà mọi người đều biết đến. Trong Từ điển Hán ngữ (1936), thành ngữ được định nghĩa là ngôn ngữ cô được sử dụng trong xã hội. Hai cuốn sách này thé hiện sự hiểu biết về thành ngữ của thời kỳ trước, vì vậy không khó dé nhận ra rằng các nhà ngôn ngữ học thời kỳ trước chưa hoàn toàn định hình được kiến thức về thành ngữ, hầu hết đều định nghĩa thành ngữ từ khía cạnh nguồn gốc, cho rằng thành ngữ là từ tiếp nối được lưu truyền từ cô. Mạc Bành Linh (1999) cho răng thành ngữ Trung Quốc là một loại ngôn ngữ quen thuộc, là những cụm từ cô định được sử dụng theo nhau với màu sắc văn bản và có tính chất miêu tả, hình thức cơ bản của nó là 4 từ.
Hiện nay, các nhà ngôn ngữ học đã có những nghiên cứu sâu hơn, rộng hơn về thành ngữ.