Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Vấn đề tính dục trong văn học trung đại Việt Nam" do nghiên cứu sinh Mai Sơn Tùng thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Thu Yến, tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam (mã số: 62 22 01 21).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Văn học trung đại Việt Nam (từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX) chịu sự chi phối sâu sắc của ý thức hệ phong kiến, tinh thần dân tộc và hệ thống tư tưởng Tam giáo đồng nguyên (Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo) cùng hệ thi pháp văn học trung đại phương Đông. Trong một thời gian dài, các nghiên cứu văn học sử thường tập trung vào các đề tài chính thống, đạo đức giáo huấn và nghĩa vụ xã hội mà ít chú ý đến con người cá nhân cùng những khía cạnh bản năng tự nhiên. Thời gian gần đây, xu hướng nghiên cứu đã mở rộng sang các giá trị nhân văn, khám phá đời sống tâm lý và cảm xúc con người. Trong bối cảnh đó, vấn đề tính dục nổi lên như một đối tượng nghiên cứu cần thiết. Mặc dù đã có một số bài viết hoặc luận văn đề cập đến khía cạnh tính dục ở các tác giả hay tác phẩm riêng lẻ, việc khảo sát và hệ thống hóa toàn diện phương diện này trong toàn bộ tiến trình mười thế kỉ của văn học trung đại vẫn còn là một khoảng trống khoa học.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án hướng đến việc đóng góp một cái nhìn mới đối với nền văn học cổ vốn bị chi phối bởi nhiều quy phạm chặt chẽ, nhằm nhận thức sâu sắc, toàn diện và làm rõ bản chất của vấn đề tính dục trong văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn tổng thể.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Văn bản luận án xác định bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Khảo sát, thống kê, phân tích và nhận định các công trình khoa học có liên quan đến đề tài.
- Tổng hợp tư liệu để lí giải khái niệm tính dục cùng các khái niệm tương cận, phân tích cảm quan tính dục trong một số triết thuyết tôn giáo và điểm qua các tác phẩm chứa đựng yếu tố tính dục qua các giai đoạn lịch sử.
- Giải quyết vấn đề tính dục trong văn học trung đại ở bình diện nội dung: tính dục và con người cá nhân, tính dục như một phương thức phản ánh thực tại xã hội phong kiến, và tính dục như một phương thức thể hiện tư tưởng thẩm mỹ.
- Nghiên cứu vấn đề tính dục trong văn học trung đại ở bình diện nghệ thuật: phương diện ngôn ngữ, không gian – thời gian nghệ thuật và các thủ pháp biểu hiện.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề tính dục trong các sáng tác văn học trung đại Việt Nam.
- Phạm vi khảo sát: Các tác phẩm văn học chữ Hán và chữ Nôm từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX có chứa đựng yếu tố tính dục, bao gồm thơ thiền thời Lý – Trần, văn xuôi truyền kì, truyện thơ Nôm, ngâm khúc và thơ ca của các nhà nho tài tử.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và điểm lại tình hình nghiên cứu vấn đề tính dục theo tiến trình văn học sử và theo các công trình lấy tính dục làm đối tượng chính yếu:
1. Nghiên cứu tính dục theo tiến trình văn học sử
- Giai đoạn từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIV: Nghiên cứu về giai đoạn này còn ít. Trần Thị Băng Thanh (1999) là người đầu tiên bình luận về bài thơ Khuê oán của Trần Nhân Tông, chỉ ra cái nhìn thương cảm đối với tâm trạng thầm kín của người cung nữ. Kiều Thu Hoạch, Thích Phước An, Phan Trọng Thưởng, Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Hữu Sơn khi khảo sát mảng thơ thiền của Huyền Quang (Xuân nhật tức sự, các bài thơ vịnh mai, vịnh cúc, mối tình với nàng Điểm Bích) đã phát hiện những rung cảm trần tục, sự đan xen giữa cõi thiêng và cõi tục.
- Giai đoạn từ thế kỉ XV đến hết thế kỉ XVII:
- Về thơ Nguyễn Trãi: Lã Nhâm Thìn, Nguyễn Hữu Sơn, Nguyễn Đình Chú, Xuân Diệu, Phạm Tú Châu, Mai Trân, Tế Hanh, Cao Hữu Lạng đã bình phẩm bài Cây chuối và Tích cảnh 10, phát hiện cảm hứng nồng nhiệt về tình yêu, tuổi trẻ và tính người.
- Về tác phẩm Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ: Bùi Duy Tân (2001) phân tích tính chất phức tạp của tình yêu trong các truyện (Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu, Chuyện người con gái Nam Xương, Chuyện Lệ Nương, Chuyện cây gạo, Truyện kì ngộ ở Trại Tây). Nguyễn Phạm Hùng (2001) và nhà nghiên cứu Marian Tkachev nhấn mạnh tính chất huyền ảo của tình yêu nhục cảm qua các bài thơ trong truyện. Vũ Thanh (2012) liên hệ tính dục trong tác phẩm với nghệ thuật điêu khắc gỗ dân gian ở đình chùa. Lê Trí Viễn (2001) ghi nhận sự cảm thông của tác giả trước tình yêu tự do và hạnh phúc trần tục.
- Giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX:
- Truyện thơ Nôm: Kiều Thu Hoạch khảo sát các truyện Nôm bình dân (Chúa Kim và Thao Tín, Cúc Hoa và Tống Trân, Phạm Tải và Ngọc Hoa, Phạm Công và Cúc Hoa, Thoại Khanh và Châu Tuấn).
- Song Tinh (Nguyễn Hữu Hào): Lê Trí Viễn (2001), Bùi Duy Tân (2001), Nguyễn Thị Nương phân tích sự phát triển của ý thức cá nhân và sự xung đột giữa khát vọng yêu đương với lề luật Nho giáo.
- Hoa tiên (Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Thiện): Trần Đình Sử, Trần Đình Hượu (1998) nhận định về sự điều hòa giữa tình yêu và lễ giáo.
- Truyện Kiều (Nguyễn Du): Nhóm Hoài Thanh, Nguyễn Lộc, Đặng Thanh Lê ca ngợi tình yêu tự do và ý thức chống lại định mệnh. Nhóm Phan Ngọc, Đỗ Minh Tuấn, Phương Lựu chú ý đến yếu tố nhục cảm và rung cảm xác thịt. Hoàng Hữu Yên (2011), Trần Nho Thìn phân tích thân phận người phụ nữ. Ngược lại, các tác giả đầu thế kỉ XX như Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng phê phán tác phẩm dưới lập trường Nho giáo bảo thủ.
- Truyền kì tân phả (Đoàn Thị Điểm): Hoàng Hữu Yên (2011), Bùi Thị Thiên Thai (2011) nghiên cứu đề tài tình yêu và thế giới nhân vật nữ quý tộc trung lưu.
- Chinh phụ ngâm khúc (Đặng Trần Côn): Được nhiều thế hệ nhà nho (Ngô Thì Sỹ, Phan Huy Ích, Phạm Đình Hổ, Phan Huy Chú) và các nhà nghiên cứu hiện đại (Đặng Thai Mai 1978, Hà Như Chi 2000, Trần Đình Sử, Trần Đình Hượu 1998, Đinh Thị Khang, Phạm Luận 1989) tiếp cận dưới góc độ tâm lý, quyền sống và bi kịch tuổi trẻ thời loạn.
- Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều): Trần Nho Thìn (1997), Trần Thị Băng Thanh (1999), Nguyễn Lộc (1986), Trần Đình Sử (2003), Thuần Phong (2007) phân tích giá trị tài - sắc, nhu cầu khoái lạc nhục cảm và việc tác giả thác lời cung nữ để bộc lộ tâm tư.
- Thơ Nôm Hồ Xuân Hương: Tiếp cận xã hội học (Nguyễn Lộc, Lê Đình Kỵ, Xuân Diệu, Trần Thanh Mại, Đặng Thanh Lê, Phạm Thị Thuận); tiếp cận phân tâm học Sigmund Freud (Trương Tửu 1950, Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Đức Bính, Văn Tân, Trần Đình Sử 1997); tiếp cận lý thuyết hội hóa trang/carnavalesque của Mikhail Bakhtin (N. Niculin, Đỗ Đức Hiểu, Tam Vị); tiếp cận văn hóa học và tín ngưỡng phồn thực (Đỗ Thị Ngọc 1996, Đỗ Lai Thúy 1999).
- Tác giả cuối giai đoạn trung đại: Nghiên cứu về Sơ kính tân trang của Phạm Thái (Trần Ngọc Vương 2018, Đỗ Lai Thúy 2015, Nguyễn Lộc 1999, Hoàng Hữu Yên 2011, Nghiêm Xuân Hồng 1961); thơ ca hành lạc của Nguyễn Công Trứ (Trần Nho Thìn 2003, Trần Hoa Lê, Trần Ngọc Vương 2018, Nguyễn Lộc 1999).
2. Nghiên cứu tính dục như một đối tượng chính yếu
Luận án điểm qua một số luận văn và bài báo chuyên biệt:
- Lê Thị Hoài Thu (2014): Luận văn Thạc sĩ Tìm hiểu sắc thái tính dục trong Truyền kì mạn lục.
- Nguyễn Thanh Bình (2016): Luận văn Thạc sĩ Mối quan hệ giữa diễn ngôn đạo đức và diễn ngôn tình yêu/tình dục trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ.
- Lê Viết Thắng (2008): Luận văn Thạc sĩ Vấn đề tình dục trong Truyện Kiều của Nguyễn Du.
- Nguyễn Thị Ngọc Châu (2010): Luận văn Thạc sĩ Vấn đề tính dục trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương dưới góc độ so sánh.
- Nguyễn Văn Hưng (2018): Bài báo "Tiếng dâm" trong văn học trung đại Việt Nam thế kỉ XVI – XIX.
- Các công trình về tính dục trong văn học hiện đại: Nguyễn Văn Toàn (2011), Nguyễn Diệu Hạnh (2011), Bùi Kim Phượng (2011), Nguyễn Thị Phương Nhi (2012).
| Nhóm công trình |
Đại diện tiêu biểu |
Hướng tiếp cận chính |
| Nghiên cứu văn học sử theo tác gia/tác phẩm |
Trần Thị Băng Thanh, Bùi Duy Tân, Trần Đình Sử, Trần Nho Thìn, Hoài Thanh, Đặng Thanh Lê |
Xã hội học, lịch sử văn học, thi pháp học truyền thống |
| Nghiên cứu hiện tượng Hồ Xuân Hương |
Trương Tửu, N. Niculin, Đỗ Lai Thúy, Đỗ Thị Ngọc, Phạm Thị Thuận |
Phân tâm học, nguyên lý hội hóa trang, văn hóa phồn thực, lý thuyết nữ quyền |
| Chuyên luận/Luận văn về tính dục cụ thể |
Lê Thị Hoài Thu, Nguyễn Thanh Bình, Lê Viết Thắng, Nguyễn Thị Ngọc Châu, Nguyễn Văn Hưng |
Tiếp cận chuyên biệt trên một văn bản/tác giả đơn lẻ |
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình đi trước phần lớn mới chỉ khai thác yếu tố tính dục trong phạm vi một tác giả, một tác phẩm cụ thể, hoặc nhìn nhận dưới góc độ xã hội học thuần túy. Chưa có công trình nào bao quát và hệ thống hóa toàn bộ diễn trình biểu hiện của tính dục trong văn học trung đại Việt Nam suốt 10 thế kỉ trên cả hai bình diện nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
1. Cơ sở lý thuyết và khái niệm
Luận án xây dựng khung lí luận dựa trên sự phân định các thuật ngữ và khảo sát các hệ tư tưởng:
- Khái niệm tính dục: Phân biệt giữa tình dục (sex - hành vi quan hệ thể xác) và tính dục (sexuality - bao gồm hành vi, xu hướng tính dục, cảm xúc, quan hệ xã hội, khía cạnh lịch sử, văn hóa, chính trị, bản sắc giới). Luận án trích dẫn định nghĩa từ Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê 1995: đòi hỏi sinh lí về quan hệ tính giao; Văn Tân và Nguyễn Văn Đạm 1994: thú vui xác thịt), quan niệm của Bùi Ngọc Oánh (2006: hiện tượng sinh vật - xã hội phức tạp) và nghiên cứu của Bremner & Illin (1994, qua Phạm Quỳnh Phương 2013).
- Quan niệm tính dục trong các triết thuyết:
- Phật giáo: Chia vũ trụ thành tam giới (dục giới, sắc giới, vô sắc giới); thân xác và ngũ quan là cội nguồn của cảm giác; ham muốn nhục dục là trở lực trên con đường giải thoát nhưng tính dục tự thân là quy luật tự nhiên; giáo lý chủ trương tiết chế bản năng, thận trọng trong tiếp xúc nam nữ (lời dạy đối với Anan, Kinh tập số 396 cấm dâm dật); hôn nhân mang tính thế tục; phân biệt tính dục sinh sản và tính dục phi sinh sản; đời sống xuất gia hướng đến trạng thái vô dục.
- Nho giáo: Hệ thống luân lý thiết lập trật tự phụ quyền (tam cương, tam tòng, tứ đức); đặt người phụ nữ vào vị thế lệ thuộc (Hàn Phi Tử, Kinh Dịch, Lễ Kí); đề cao chữ trinh và tuyệt đối hóa đức tiết hạnh ("ngạ tử sự tiểu, thất tiết sự đại" - dẫn theo Phùng Hữu Lan, Trình Y Xuyên); coi trọng mục đích sinh con nối dõi tông đường ("bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại" - Mạnh Tử); quan niệm "nam nữ thụ thụ bất thân"; chủ trương văn chương "văn dĩ tải đạo", "chính tâm tiết dục", nghiêm cấm "dâm thư" và "tiếng dâm" (dẫn chứng các lệnh cấm khắc in, lưu hành truyện thơ Nôm dâm đãng của Trịnh Tạc, Trịnh Cương năm 1718, Trịnh Doanh/Nhữ Đình Toản năm 1760).
- Đạo giáo: Triết thuyết Lão - Trang với quan niệm âm dương hòa hợp, thuận theo tự nhiên (thuyết Vô vi); nhìn nhận hoạt động tính giao dưới góc độ dưỡng sinh và y học; chủ trương "tiết dục" chứ không "diệt dục"; phương thuật phòng the ("phòng trung thuật", "Nam nữ hợp khí thuật", "Hỗn khí pháp", "Âm đạo", "Hoàng xích đạo" - dẫn theo Tố nữ kinh, Tôn Tư Mạc, Khanh Hi Thái) nhằm điều hòa khí chất, tích trữ tinh khí để bồi dưỡng thân thể.
2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng kết hợp 5 phương pháp nghiên cứu định tính chuyên ngành:
| STT |
Phương pháp nghiên cứu |
Mục đích vận dụng trong luận án |
| 1 |
Phương pháp văn học sử |
Nhìn nhận quá trình xuất hiện, vận động và phát triển của ý thức tính dục qua các giai đoạn lịch sử văn học trung đại. |
| 2 |
Phương pháp hệ thống |
Hệ thống hóa các quan điểm về tính dục, cấu trúc biểu hiện của tính dục trên các bình diện nội dung và hình thức nghệ thuật. |
| 3 |
Phương pháp so sánh, đối chiếu |
So sánh văn học với các tư liệu văn hóa học, nhân chủng học, triết học và tôn giáo (Tam giáo) để tìm mối tương quan giữa bối cảnh xã hội và văn học. |
| 4 |
Phương pháp thi pháp học |
Làm sáng tỏ các dấu hiệu, phương thức biểu hiện nghệ thuật mang màu sắc tính dục (ngôn ngữ, không gian, thời gian, thủ pháp). |
| 5 |
Phương pháp tiểu sử |
Soi sáng mối quan hệ giữa cuộc đời, trải nghiệm cá nhân của các tác giả với tư tưởng, thẩm mỹ trong tác phẩm. |
3. Nguồn tư liệu nghiên cứu
Nguồn dữ liệu khảo sát bao gồm hệ thống văn bản văn học trung đại Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX (Lĩnh Nam chích quái, thơ thiền Lý - Trần, thơ văn Nguyễn Trãi, Truyền kì mạn lục, Song Tinh, Hoa tiên, Truyện Kiều, Truyền kì tân phả, Chinh phụ ngâm khúc, Cung oán ngâm khúc, thơ Nôm Hồ Xuân Hương, Sơ kính tân trang, thơ ca Nguyễn Công Trứ...).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề tính dục trong văn học trung đại Việt Nam
Chương 1 tiến hành phân loại và đánh giá toàn diện các công trình nghiên cứu đi trước:
- Khảo sát các nghiên cứu về tính dục theo 3 chặng đường lịch sử: từ thế kỉ X đến thế kỉ XIV (thơ thiền Lý - Trần, Khuê oán); từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVII (thơ Nguyễn Trãi, Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ); từ thế kỉ XVIII đến thế kỉ XIX (truyện thơ Nôm, khúc ngâm, thơ Hồ Xuân Hương, Phạm Thái, Nguyễn Công Trứ).
- Khảo sát các công trình chuyên biệt lấy tính dục làm đối tượng nghiên cứu chính yếu ở cấp độ luận văn Thạc sĩ và bài báo khoa học.
- Đánh giá ưu điểm và hạn chế của các hệ hình tiếp cận (xã hội học, phân tâm học, văn hóa học, nguyên lý hội hóa trang), xác lập khoảng trống khoa học cần giải quyết.
Chương 2: Một số vấn đề lí luận về tính dục
Chương 2 xây dựng hệ thống cơ sở lí luận và phác thảo diện mạo lịch sử:
- Giới thuyết khái niệm: Phân tích nội hàm thuật ngữ tính dục, làm rõ ranh giới và mối quan hệ giữa tính dục, tình yêu và tình dục.
- Cảm quan tính dục trong các hệ tư tưởng:
- Phân tích quan niệm tính dục trong Phật giáo (thế giới quan tam giới, vai trò của ngũ quan, giới luật tu hành và góc nhìn nhân đạo về sự sinh sản).
- Phân tích quan niệm tính dục trong Nho giáo (hệ thống tôn ti phụ quyền, sự khắt khe về trinh tiết đối với phụ nữ, nguyên tắc "nam nữ thụ thụ bất thân", chức năng giáo hóa chính thống và sự ngăn cấm "tiếng dâm").
- Phân tích quan niệm tính dục trong Đạo giáo (thuyết âm dương, nguyên lý dưỡng sinh và thuật phòng trung tiết dục).
- Diễn trình vấn đề tính dục trong văn học trung đại: Khảo sát sự vận động của yếu tố tính dục qua 3 giai đoạn (thế kỉ X – XIV khởi đầu từ các truyện như Truyện Hà Ô Lôi trong Lĩnh Nam chích quái; thế kỉ XV – XVII với sự trỗi dậy của cảm hứng nhân bản; thế kỉ XVIII – XIX đạt đến đỉnh cao với sự đa dạng của các thể loại truyện Nôm, ngâm khúc và thơ trữ tình).
Chương 3: Tính dục trong văn học trung đại Việt Nam về phương diện nội dung
Chương 3 triển khai phân tích bản chất nội dung của vấn đề tính dục trên 3 phương diện chính:
- Tính dục và con người cá nhân: Luận giải về miền khát dục của nội tâm con người; quan hệ tính giao qua nghệ thuật phòng the và sự thỏa mãn ân ái; sự trưởng thành của ý thức cá nhân về nhu cầu tự nhiên và quyền hưởng hạnh phúc trần thế.
- Tính dục – một phương thức phản ánh thực tại xã hội thời phong kiến: Phản ánh một xã hội đầy thành kiến đối với tình yêu tự do và hôn nhân tự chủ; vạch trần thân phận người phụ nữ là nạn nhân của thói lạm dụng tình dục, nạn đa thê và bất bình đẳng giới; thể hiện quá trình giải thiêng và tinh thần nổi loạn chống lại văn hóa quý tộc suy đồi cùng hệ thống lề luật hà khắc.
- Tính dục – một phương thức thể hiện tư tưởng thẩm mỹ: Phân tích mối liên hệ giữa tính dục với các khuynh hướng tư tưởng – tình cảm; việc mượn tính dục để mặc khải các triết lí nhân sinh; xây dựng quan niệm mỹ học về tính dục trong văn học cổ điển.
Chương 4: Tính dục trong văn học trung đại Việt Nam về phương diện nghệ thuật
Chương 4 khảo sát các phương thức và phương tiện nghệ thuật biểu hiện tính dục:
- Tính dục và ngôn ngữ nghệ thuật:
- Ngôn ngữ mang tính biểu tượng: Sử dụng các hình ảnh ẩn dụ, biểu trưng thiên nhiên để gợi tả thân xác và tình ái.
- Ngôn ngữ mang tính đa nghĩa: Lối nói nước đôi, các cấu trúc ngôn từ có thể hiểu theo cả nghĩa thanh và nghĩa tục.
- Ngôn ngữ mang âm hưởng dân gian: Sự tiếp thu khẩu ngữ, thành ngữ, ca dao, đố tục giảng thanh của văn hóa bình dân.
- Tính dục và đặc trưng không – thời gian nghệ thuật:
- Không gian nghệ thuật: Không gian phòng the, không gian thiên nhiên hoang dã, cõi mộng ảo hoặc chốn lầu xanh.
- Thời gian nghệ thuật: Thời gian ban đêm, thời gian mùa xuân, thời gian tuổi trẻ trôi mau và cảm thức về sự tàn phai nhan sắc.
- Tính dục và các thủ pháp nghệ thuật:
- Tính dục và motif kì ảo: Sự kết hợp giữa yếu tố tính dục với các yếu tố hoang đường, thần tiên, ma quái trong truyền kì.
- Tính dục và điển cố: Vận dụng linh hoạt các điển tích, điển cố văn học Trung Hoa để biểu đạt kín đáo các trạng thái tình cảm và nhục cảm.
- Tính dục và phép sóng đôi, đối ngẫu: Tổ chức các cấu trúc câu văn, hình tượng cân xứng nhằm tô đậm sự hòa hợp âm dương và xung lực ái ân.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án cung cấp một hệ thống lý luận hoàn chỉnh về tính dục trong mối liên hệ với các hệ tư tưởng Tam giáo (Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo) trong bối cảnh văn hóa trung đại Việt Nam.
- Xác lập cách tiếp cận đa ngành (văn học sử, thi pháp học, văn hóa học, tiểu sử học) trong việc giải mã các hiện tượng văn học mang yếu tố bản năng và tính dục vốn từng bị che khuất bởi các quy phạm phong kiến.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Đây là công trình khảo sát toàn diện, có hệ thống đầu tiên về vấn đề tính dục trong văn học trung đại Việt Nam trải dài suốt mười thế kỉ (thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX).
- Làm sáng tỏ bản chất của tính dục trên cả hai bình diện nội dung (con người cá nhân, phản ánh xã hội, mỹ học) và hình thức nghệ thuật (ngôn ngữ, không gian – thời gian, thủ pháp).
- Đưa ra cái nhìn khách quan, khoa học về giá trị nhân bản của các tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam, góp phần giải tỏa những định kiến luân lý cứng nhắc đối với yếu tố tính dục trong lịch sử văn học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung vào phạm vi văn học viết (chữ Hán và chữ Nôm) từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX; dung lượng khảo sát đối với từng tác phẩm cụ thể phải cân đối trong cái nhìn tổng thể toàn tiến trình lịch sử 10 thế kỉ nên chưa thể đi sâu chi tiết vào toàn bộ các dị bản văn bản học.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh đối chiếu vấn đề tính dục giữa văn học trung đại Việt Nam với văn học các nước trong khu vực đồng văn Đông Á (Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản), hoặc đối chiếu sự chuyển biến của diễn ngôn tính dục từ văn học trung đại sang văn học hiện đại đầu thế kỉ XX.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Văn học Việt Nam, Hán Nôm, Lý luận văn học, Văn hóa học và Lịch sử tư tưởng.
- Nội dung giá trị:
- Khung lí thuyết về quan niệm tính dục trong Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo (đặc biệt là các tư liệu về phòng trung thuật và các chỉ dụ cấm đoán của chính quyền phong kiến).
- Hệ thống tư liệu tổng quan lịch sử tiếp nhận vấn đề tính dục qua các tác gia lớn như Nguyễn Dữ, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Phạm Thái, Nguyễn Công Trứ.
- Hệ thống phân tích thi pháp nghệ thuật biểu hiện tính dục (ngôn ngữ biểu tượng, không - thời gian, motif kì ảo và điển cố).
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt khái niệm tính dục (sexuality) và tình dục (sex) như thế nào?
Theo cơ sở lí luận của luận án, tình dục (sex) hàm ý hẹp về mặt sinh học và hành vi quan hệ thể xác. Trong khi đó, tính dục (sexuality) là một khái niệm tổng thể, cấu thành từ nhiều yếu tố bao gồm: giới tính sinh học, xu hướng tính dục, cảm xúc, bản sắc giới, các mối quan hệ xã hội, đồng thời chịu sự quy định và tác động sâu sắc của bối cảnh lịch sử, văn hóa, triết học và chính trị.
2. Quan niệm về tính dục trong Đạo giáo được luận án khai thác ở những khía cạnh nào?
Luận án chỉ ra Đạo giáo nhìn nhận tính dục dựa trên nguyên lý âm dương hòa hợp và thuận theo tự nhiên (thuyết Vô vi). Đạo giáo không chủ trương diệt dục mà nhấn mạnh việc "tiết dục" và dưỡng sinh thông qua phòng trung thuật (Nam nữ hợp khí thuật, Âm đạo, Hoàng xích đạo), xem việc điều hòa hoạt động phòng the là phương pháp bảo tồn tinh khí, tăng cường sức khỏe và kéo dài tuổi thọ.
3. Chính quyền phong kiến thời Lê - Trịnh đã ban hành những quy định nào liên quan đến "tiếng dâm" trong văn chương?
Luận án dẫn chứng các văn bản lịch sử:
- Năm 1718, Trịnh Cương ra lệnh cấm in ấn, lưu hành các sách tạp nhạp, truyện nôm na bằng quốc âm, cho phép tịch thu và tiêu hủy ván in.
- Năm 1760 (Cảnh Hưng thứ 21), Nhữ Đình Toản vâng lệnh Trịnh Doanh ban bố bài diễn Nôm 47 điều giáo hóa, trong đó nghiêm cấm in bán các khúc ca, truyện cũ mang "tiếng dâm" gây phương hại đến thuần phong mỹ tục.
4. Vấn đề tính dục trong tác phẩm "Truyền kì mạn lục" của Nguyễn Dữ được các nhà nghiên cứu trước đây đánh giá ra sao?
Các nhà nghiên cứu (Bùi Duy Tân, Nguyễn Phạm Hùng, Vũ Thanh, Lê Trí Viễn) chỉ ra sự phức tạp trong tư tưởng Nguyễn Dữ: một mặt thể hiện sự cảm thông sâu sắc với khát vọng tình yêu tự do và hạnh phúc trần thế của con người (đặc biệt là phụ nữ), mặt khác vẫn chịu sự chi phối của khuôn khổ lễ giáo Nho gia. Yếu tố tính dục trong tác phẩm còn được nhìn nhận như sự kế thừa không khí dân chủ, phồn thực của nghệ thuật dân gian thế kỉ XVI.
5. Luận án nghiên cứu những phương diện nghệ thuật cụ thể nào ở Chương 4?
Chương 4 khảo sát 3 nhóm phương diện nghệ thuật:
- Ngôn ngữ: Ngôn ngữ biểu tượng, ngôn ngữ đa nghĩa và ngôn ngữ mang âm hưởng dân gian.
- Không - thời gian nghệ thuật: Không gian phòng the, không gian mộng ảo, không gian lầu xanh; thời gian ban đêm, thời gian mùa xuân và thời gian tuổi trẻ.
- Thủ pháp nghệ thuật: Motif kì ảo, điển cố điển tích và phép sóng đôi đối ngẫu.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Vấn đề tính dục trong văn học trung đại Việt Nam" của tác giả Mai Sơn Tùng là công trình chuyên khảo nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về phương diện tính dục trong nền văn học cổ điển nước nhà suốt mười thế kỉ lịch sử. Bằng việc phối hợp các phương pháp văn học sử, thi pháp học và tiếp cận liên ngành văn hóa - triết học, luận án đã làm rõ bản chất của tính dục trên cả phương diện phản ánh hiện thực, khẳng định con người cá nhân lẫn các phương thức biểu đạt nghệ thuật đặc thù. Kết quả nghiên cứu cung cấp một nguồn tư liệu khoa học chuẩn xác, góp phần đổi mới nhận thức học thuật và làm sâu sắc thêm các giá trị nhân văn của di sản văn học trung đại Việt Nam.