mở đầu quyển sách như thế, dù sau có tô vẽ hiếu nghĩa gì đi nữa cũng không đủ làm gương tốt cho đời” (Trịnh Bá Đĩnh et al. Cùng cái nhìn với Ngô Đức Kế là chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng. Ở cuối bài Chánh học cùng tà thuyết có phải là vấn đề quan hệ chung không?, ông đã kết luận một cách đanh thép: “Truyện Kiều chẳng qua chỉ là một lối văn chương mua vui mà thôi, chớ không phải là thứ sách học, mà nói cho đúng Truyện Kiều là một thứ dâm thư, rõ không ích mà có hại” (Trịnh Bá Đĩnh et al. Là một kiệt tác, tác phẩm này là hiện tượng thâm canh qua nhiều thời và việc bình giá nội dung tính dục trong tác phẩm đã hình thành một hệ nhận định phong phú và đa chiều.
Ngoài là dịch giả Chinh phụ ngâm khúc (?), Đoàn Thị Điểm (1705 – 1748) còn là tác giả của Truyền kì tân phả. Trong Đọc và nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam, Hoàng Hữu Yên cho rằng: “Đọc Truyền kì tân phả ai cũng dễ nhận thấy bốn truyện chúng tôi phiên dịch đều mang màu sắc hoang đường quái dị” (Hoàng Hữu Yên, 2011). Với ông, Truyền kì tân phả sở dĩ đạt được thành công là do trong đó có tư tưởng nhất quán: ca ngợi tình yêu và nhiệt tình đề cao đạo đức, tài hoa của người phụ nữ. Xét về góc nhìn xây dựng nhân vật, dấu ấn mà Đoàn Thị Điểm để lại trong tập truyện này, theo Bùi Thị Thiên Thai, là “nhân vật chủ yếu là một thế giới đàn bà, thuộc tầng lớp quý tộc trung lưu (Bùi Thị Thiên Thai, 2011).
Truyền kì tân phả là tác phẩm chưa được quan 14 tâm nhiều và những công trình nghiên cứu về nó mang tính chuyên sâu vẫn chưa xuất hiện. Chinh phụ ngâm khúc có lượng độc giả đông đảo tạo thành một lịch sử tiếp nhận khá dày dặn. Những nhà nho cùng thời hoặc những nhà nho thuộc hậu thế (Ngô Thì Sỹ, Phan Huy Ích, Phạm Đình Hổ, Phan Huy Chú) có những nhận định tích cực về khúc ngâm của Đặng Trần Côn. Trước Cách mạng tháng Tám cũng có một số nhà phê bình quan tâm đến tác phẩm này như Nguyễn Đỗ Mục, Dương Quảng Hàm, Nghiêm Toản, Hoàng Xuân Hãn… Sau Cách mạng tháng Tám, một số nhà nghiên cứu tiếp tục bình phẩm Chinh phụ ngâm khúc với những góc nhìn mang tính hiện đại như Đặng Thai Mai, Hà Như Chi… Trong Giảng văn Chinh phụ ngâm, Đặng Thai Mai, dưới góc nhìn tâm lý, đã phát hiện ra sức sống tâm hồn của người chinh phụ đã cạn dần: “Từ lâu buồng tim của nàng đã thôi không đập những nhịp hồi hộp, vô chính phủ của tình yêu ban đầu” (Đặng Thai Mai, 1978).
Hà Như Chi trong Việt Nam thi văn giảng luận cũng bày tỏ thái độ ca ngợi đối với người chinh phụ khi nàng phải vượt lên trên nỗi buồn lẻ bóng để thực hiện trọn vẹn vai trò của mình trong gia đình: “Hình ảnh một người phụ nữ mềm yếu; một mình đảm đương trọn vẹn cái nhiệm vụ gia đình nặng nề to tát trong lúc chồng đi vắng đã làm nổi bật cái tâm hồn vừa yêu kiều vừa cương nghị của người khuê phụ trong xã hội Á Đông ngày trước” (Hà Như Chi, 2000). Thuộc thế hệ những nhà nghiên cứu trong thời kì mới, tiếp nối những công trình của thế hệ trước, Trần Đình Sử đã nắm bắt được nỗi niềm của nhân vật trữ tình trong đó: “Trong toàn bộ khúc ngâm, duyên đôi lứa là niềm tha thiết nhất. Bao chờ mong khắc khoải đều tập trung vào nỗi sợ “xuân lỡ thì” (Nguyễn Hữu Sơn et al. Nỗi sợ hãi, tiếc nuối và tự thương chính mình là tâm lí thường trực của người phụ nữ này.
Bên cạnh đó, nàng còn ý thức về sự qua đi nhanh chóng của thời gian: “Thời gian tuổi tuổi trẻ trôi nhanh mấy chốc, đòi mau, thấm thoắt, đã phân hóa khỏi thời gian xã hội, vũ trụ. Người chinh phụ không còn ảo tưởng vào chữ muôn kiếp siêu hình” (Nguyễn Hữu Sơn et al. Dưới góc nhìn xã hội học, Trần Đình Hượu đã xác định: “Vấn đề đặt ra trong tác phẩm là vấn đề quyền sống của con người, cụ thể là hạnh phúc lứa đôi của tuổi trẻ, là khát vọng lứa đôi của thanh niên chán ghét chiến tranh phong kiến muốn sống bên nhau trong hòa bình, trong tình yêu và hạnh phúc đến trọn đời” (Trần Đình Hượu, 1998). Cùng hướng khai thác này, Đinh Thị Khang đã đi vào phân tích tình cảnh 15 của người đàn bà có chồng đang xông pha ngoài trận mạc từ lúc người chinh phu xuất trận cho đến những năm dài chờ đợi, ngóng trông.
Điều mong ước lớn nhất đó là người chồng trở về trong bình an để tiếp tục cùng nàng xây đắp hạnh phúc: “Nàng cứ quẩn quanh với biết bao nỗi niềm chất đầy, triền miên tưởng không thể dứt. Cuối cùng, chính khao khát hạnh phúc lại đưa người thiếu phụ đến ước mơ sum họp để tìm lại, vớt vát chút hạnh phúc tuổi trẻ” (Lã Nhâm Thìn et al. Từ việc nhận thức hoàn cảnh chua cay của người chinh phụ, Phạm Luận đã đi đến kết luận về hệ lụy của chiến tranh phi nghĩa: “Chiến tranh là cần thiết cho ai kia, với nàng, nó đã xóa đi mọi niềm vui của sự sống” (Đặng Thanh Lê, Hoàng Hữu Yên, Phạm Luận, 1989). Như thế, Chinh phụ ngâm khúc xứng đáng là danh tác có lịch sử tiếp nhận dài lâu.
Tuy nhiên, từ trước đến nay các nhà nghiên cứu thiên về khai thác hình tượng nhân vật trữ tình và rút ra vấn đề mang ý nghĩa xã hội từ tác phẩm hơn là khai thác hình thái nghệ thuật cũng như những vấn đề khác thuộc tác phẩm. Vì cùng xuất phát từ một số góc nhìn mang tính cố định hóa, nội dung nghiên cứu về tác phẩm này của các nhà khoa học không tránh khỏi hiện tượng trùng lặp, đơn giản. Tương tự như Chinh phụ ngâm khúc, Cung oán ngâm khúc cũng là tác phẩm có bề dày nghiên cứu với nhiều công trình tầm cỡ. Trần Nho Thìn hết mực đề cao ưu phẩm của cung nữ: “Người cung nữ là một biểu trưng cho giá trị tài – sắc, có quyền được hưởng mọi điều kiện hạnh phúc, sung sướng.
Giá trị ấy được cực tả cao nhất, vang dội nhất, ấn tượng nhất” (Trần Nho Thìn, 1997). Đối với Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều (1741 – 1798), trong cuốn Những điều suy nghĩ từ văn học trung đại, Trần Thị Băng Thanh đã nhận ra: “Nàng cung nữ đẹp và tài hoa nhưng không đúng với chuẩn mực đạo đức phong kiến” (Trần Thị Băng Thanh, 1999). Theo bà, nguyên nhân dẫn đến bao tai họa trong cuộc đời nàng chính là nhan sắc tuyệt trần và tài năng của nàng. Cung nữ không phải là một hình mẫu phụ nữ theo đạo đức nho giáo chính thống: “Người cung nữ không đạt được một điểm nào trong tứ đức của Nho giáo” (Trần Thị Băng Thanh, 1999).
Bà khẳng định: “Cứu cánh ở đời nàng chính là hạnh phúc ái ân, khoái lạc nhục cảm” (Trần Thị Băng Thanh, 1999). Một phương diện khác, nhiều nhà nghiên cứu trong khi khảo luận đã tìm thấy “bóng hình” của tác giả trong hình tượng người cung nữ. Ở cuốn Cung oán ngâm khúc, thơ Nguyễn Gia Thiều, với vai trò hiệu đính và chú giải, Nguyễn Lộc vẫn có những lời bình sắc sảo: “Trong Cung oán ngâm khúc, nhiều 16 lúc có cảm giác ông miêu tả tâm trạng người cung nữ theo quan niệm của ông hơn là người cung nữ tự bộc bạch tâm trạng của mình” (Nguyễn Lộc, 1986). Trong Thi pháp Truyện Kiều, dưới góc nhìn so sánh, Trần Đình Sử phát hiện ra mối liên hệ giữa chủ thể sáng tạo và hình tượng: “Đặng Trần Côn đã nhập vai người chinh phụ để viết Chinh phụ ngâm khúc, cũng như Nguyễn Gia Thiều đã thác lời cung nữ để nói lên cảm xúc hư huyễn về cuộc đời” (Trần Đình Sử, 2003).
Tương tự, khi luận về tác phẩm này, Thuần Phong cũng xác định: “Cung oán ngâm khúc là một phương tiện mà Nguyễn Gia Thiều sử dụng hầu diễn đạt tâm tình của mình, có nhà phê bình cho rằng Nguyễn Gia Thiều đã hiện hình dưới làn son tàn phấn lạt của cung phi để khéo tỏ nỗi oán hờn của mình đối với Chúa Trịnh” (Ngô Viết Dinh, 2007). Nhìn chung, những nhận định trên phần nào đã chạm đến vấn đề tính dục, nhưng còn việc giải quyết nó một cách hoàn chỉnh thì vẫn còn bỏ ngỏ. Thơ Nôm Hồ Xuân Hương là một hiện tượng đặc biệt, được nhiều nhà nghiên cứu tiếp cận dưới những góc nhìn khác nhau. Đầu tiên, hướng tiếp cận xã hội học có sự tham gia của các cây bút như là Nguyễn Lộc, Lê Đình Kỵ, Xuân Diệu, Trần Thanh Mại, Đặng Thanh Lê, Phạm Thị Thuận.
Dưới góc nhìn này, họ nhận ra cái dâm, cái tục của Hồ Xuân Hương chính là thứ vũ khí lợi hại để chống lại bức tường lễ giáo phong kiến và các thế lực thống trị. Trong tác phẩm của nữ sĩ, ta thấy cả một chế độ phong kiến đang tụt dốc, nhất là về nhân phẩm và tình yêu thương. Trong một bầu khí ngột ngạt, bức bối, trong một cuộc sống quá nhiều khổ đau, ngang trái, nhân dân lao động, nhất là người phụ nữ, đã lên tiếng đấu tranh đòi quyền sống, quyền hạnh phúc và kể cả tình yêu… Đặng Thanh Lê khi tiếp xúc thơ Nôm Hồ Xuân Hương đã mạnh dạn bày tỏ niềm cảm kích: “Chúng tôi hết sức trân trọng những bài thơ đầy tinh thần chiến đấu chống lễ giáo phong kiến và do đó, giàu lòng nhân đạo và chan chứa yêu đời. Đây là lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, một phụ nữ tài hoa và dũng cảm đã lên tiếng trên giấy trắng mực đen, đấu tranh cho quyền lợi của giới mình” (Đỗ Lai Thúy, 1999).
Trong luận án Thơ Nôm Hồ Xuân Hương nhìn từ lý thuyết nữ quyền, Phạm Thị Thuận đã đi vào phân tích, lí giải vấn đề nữ quyền trong sáng tác thơ Nôm Hồ Xuân Hương. Đây là công trình có ý nghĩa mở ra một hướng nghiên cứu chuyên sâu bản chất thơ của Bà Chúa Thơ Nôm dưới góc nhìn xã hội học. 17 Vào nửa đầu thế kỉ XX, tiếp nhận theo hướng phân tâm học của S. Freud đã xuất hiện trong giới sáng tác và phê bình văn học.
Trương Tửu được xem là người đầu tiên vận dụng thuyết phân tâm học vào phân tích thơ Nôm Hồ Xuân Hương. Ông đã lí giải rằng tất cả những ám ảnh của bà chính là biểu hiện của một người mắc chứng thần kinh mà nguyên nhân chính là không được thỏa mãn tình dục.