Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Hán Nôm (mã số: 922.04) của tác giả Lê Thị Hồng Dung, thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Kim Sơn và PGS.TS. Dương Tuấn Anh, mang tên: Nghiên cứu văn bản thuyên thích sách Mạnh Tử ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam, kinh điển Nho gia như Tứ thư, Ngũ kinh là tài liệu học tập, thi cử và tu dưỡng đạo đức căn bản của giới sĩ phu. Quá trình tiếp nhận và thông diễn kinh điển đã thúc đẩy các nhà Nho Việt Nam biên soạn, chú giải, sắp xếp lại kinh văn để đáp ứng nhu cầu khoa cử và giáo dục qua từng thời kỳ lịch sử. Mặc dù số lượng trước tác thảo luận về Tứ thư và sách Mạnh Tử lưu trữ trong kho tàng Hán Nôm tương đối phong phú, nhưng trước đây chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống các văn bản thuyên thích sách Mạnh Tử ở Việt Nam dưới góc độ văn bản học và thuyên thích học.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định rõ ràng qua 4 nội dung chính:

  1. Khảo sát, thống kê và phân loại các loại hình, nhóm văn bản thuyên thích sách Mạnh Tử hiện còn ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX theo phương pháp thư mục học.
  2. Khảo sát các vấn đề văn bản học nổi bật (tác giả, niên đại, truyền bản, bố cục) của 5 văn bản trọng tâm: Tứ thư ước giải, Tứ thư tiết yếu, Tiểu học Tứ thư tiết lược, Sách Mạnh học bậc cao trung học giáo khoa, Trâu thư trích lục.
  3. Phân tích các phương thức thuyên thích phần chính văn sách Mạnh Tử (tóm lược, tái cấu trúc, phiên dịch sang chữ Nôm).
  4. Phân tích đặc điểm phần chú giải sách Mạnh Tử về nguồn gốc văn bản, ngôn ngữ và nội dung chú giải (nội dung kinh học và lịch sử), từ đó khái quát đặc trưng hoạt động thuyên thích kinh điển Nho gia ở Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu là các văn bản thuyên thích sách Mạnh Tử hiện còn ở Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở các văn bản do tác giả Việt Nam biên soạn trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX; không bao gồm các bản dịch sách Mạnh Tử sang chữ Quốc ngữ hoặc các bản sao chép, khắc in nguyên văn sách Mạnh Tử từ Trung Quốc.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được chia thành các nhóm nghiên cứu chính:

Về lý luận thuyên thích học: Khái niệm "Hermeneutics" được GS. Thẩm Thanh Tòng (Đại học Quốc gia Chính Trị, Đài Bắc) dịch sang tiếng Trung là "thuyên thích học" vào cuối những năm 1970; tại Việt Nam, GS. Trần Văn Đoàn (Đại học Quốc gia Đài Loan) đã hệ thống qua chuyên khảo Thông diễn học và khoa học xã hội nhân văn (dùng thuật ngữ thông diễn học tương đương thuyên thích học). Tác giả Phan Đức Vinh (Đại học Hoa Đông) nêu 4 nguyên tắc thông diễn học (tính tự chủ, tính chỉnh thể, tính hiện thực trong lý giải, sự hài hòa ý nghĩa). Tác giả Hoàng Tuấn Kiệt công bố chuyên khảo Đông Á Nho học: Biện chứng của kinh điển và luận giải (Bùi Bá Quân dịch). Bên cạnh đó có bài viết của Phạm Ngọc Hường về thuyên thích học trong nghiên cứu lịch sử và Quách Thu Hiền (2018) về toản yếu, tiết yếu kinh điển trong giáo dục tư học thế kỷ XVIII.

Về tình hình nghiên cứu văn bản thuyên thích sách Mạnh Tử ở Trung Quốc: Thời cổ đại và cận - hiện đại có các tác phẩm của Chu Hy (Tứ thư tập chú), Khang Hữu Vi (Mạnh Tử vi), Tiền Mục (Nghiên cứu Mạnh Tử), Dương Bá Tuấn (Mạnh Tử dịch chú, 1960/1962). Các học giả đương đại như Hoàng Tuấn Kiệt (Triển vọng mới của nghiên cứu Mạnh Tử học thế kỷ XXI, Mạnh Tử tư tưởng sử luận, Trung Quốc Mạnh học thuyên thích sử luận), Lý Khải (Nghiên cứu tư tưởng thuyên thích Mạnh Tử), Lý Minh Huy (Nho gia và Kant, Cách nhìn mới về đạo đức Mạnh Tử và luân lý học của Kant, Khám phá lại Mạnh Tử), Tín Quảng Lai (Mạnh Tử và tư tưởng Trung Quốc thời kỳ đầu, 1997), Dương Trạch Ba, Kim Lý Tường, Đinh Quan, Vương Sinh Bình, Vương Thành Nho, Vương Kỳ Tuấn, Từ Hồng Hưng, Cao Chuyên Thành, Dương Tổ Hán, Viên Bảo Tân, Cổ Thanh Mĩ, Trần Hy Viễn... Trong thế kỷ XX, Hoàng Tuấn Kiệt phân định hai khuynh hướng tiếp cận:

  • Tiếp cận nội tại (triết học, lịch sử quan niệm): I. A. Richards, Đường Quân Nghị, Mâu Tông Tam, Tín Quảng Lai, Lý Minh Huy (tập trung vào tính thiện, mối quan hệ thân - tâm, thuyết tri ngôn dưỡng khí).
  • Tiếp cận ngoại tại (lịch sử học, tư tưởng sử): Từ Phục Quan, Hoàng Tuấn Kiệt (đặt tư tưởng Mạnh Tử trong bối cảnh lịch sử - chính trị cụ thể).

Về tình hình nghiên cứu tại Việt Nam:

  • Lịch sử trước tác: Chu Văn An thế kỷ XIV biên soạn Tứ thư thuyết ước (đã thất truyền); Hồ Quý Ly soạn Minh đạo và dịch thiên Vô dật (thất truyền); các thế hệ tiếp theo có Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Lê Quý Đôn (Vân đài loại ngữ), Phan Huy Chú, Phạm Quí Thích, Bùi Huy Bích...
  • Công trình thư mục: Trịnh Khắc Mạnh thống kê bước đầu 122 tác phẩm Hán Nôm luận giải Tứ thư và Ngũ kinh tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (gồm 24 bản in, 98 bản chép tay, 41 tác phẩm xác định được soạn giả, 25 bản viết/diễn Nôm, 9 bản về Tứ thư, 2 bản về Đại học, 10 bản về Luận ngữ, 1 bản về Mạnh Tử, 40 bản tên khác). Đỗ Thị Bích Tuyển khảo sát bản dịch Nôm Tứ thư; Nguyễn Xuân Diện, Nguyễn Thúy Nga, Phạm Văn Thắm thống kê thư tịch Nho tạng/Nho giáo.
  • Nghiên cứu chuyên biệt và bản dịch: Bản dịch Quốc ngữ của Phạm Đình Đạt, nhóm dịch giả Dương Hồng - Vương Thành Trung - Trần Trọng Sâm, Hoàng Văn Thụ, Đoàn Trung Còn, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Hữu Tiến - Nguyễn Đôn Phục, Lê Đình Giao, Bửu Tư. Bài báo/tham luận học thuật của Nguyễn Kim Sơn (về hoạt động diễn dịch Hán Nôm kinh điển Nho gia), Nguyễn Tuấn Cường (về Tứ thư ước giải và diên cách Chu Tử học), Phạm Văn Ánh (về Phương Đình tùy bút lục của Nguyễn Văn Siêu), Nguyễn Phúc Anh (về hệ thống Đại toàn). Luận văn, khóa luận của Nguyễn Thị Anh Thư (khảo sát thiên Tận tâm trong Tứ thư ước giải), Phạm Bảo Nhung (khảo cứu Tiểu học Tứ thư tiết lược ở phần Đại học và Luận ngữ), Lê Thị Hồng Dung (luận văn thạc sĩ khảo cứu Sách Mạnh học bậc cao trung học giáo khoa), Trần Thị Tâm, Trịnh Thị Thu Hằng, Nguyễn Bá Quân.

Khoảng trống học thuật: Các công trình tại Việt Nam chủ yếu tiếp cận riêng lẻ một vài thiên sách, một văn bản cụ thể hoặc khảo sát phần Đại học, Luận ngữ mà chưa có chuyên khảo nào bao quát, so sánh và đánh giá toàn diện hệ thống văn bản thuyên thích sách Mạnh Tử bằng chữ Hán và chữ Nôm. Luận án giải quyết trực tiếp khoảng trống này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, luận án tiếp thu các khái niệm và khung phân tích của thuyên thích học:

  • Khái niệm "thuyên thích" (詮釋) được khảo sát qua các tự điển cổ (Khang Hy tự điển, Từ Nguyên, Từ Hải) và tự điển Hán Việt (Đào Duy Anh, Thiều Chửu), mang nội hàm giải thích rõ ràng, thuyết minh cặn kẽ ý sự và nghĩa lý văn bản.
  • Phương pháp luận giải thích kinh điển cổ điển: Tập trung vào mục đích "toàn nghĩa", "nguyên ý" thông qua ngôn ngữ học truyền thống (phương pháp thanh huấn, nghĩa huấn, hình huấn của Trịnh Huyền thời Hán; học phái Càn Gia) và phương pháp kinh văn hỗ chứng.
  • Phương pháp luận giải thích hiện đại: Tiếp cận quan điểm của Hồ Thích về "chỉnh lý văn hóa vốn có" với tinh thần thực nghiệm lịch sử qua 3 phương diện: phương pháp lịch sử (4 bước chỉnh lý mạch lạc, tìm nguồn gốc ảnh hưởng, khảo chứng ý cổ nhân, tổng hợp định vị giá trị), phương pháp so sánh và phương pháp chuyên sử.

Về phương pháp nghiên cứu cụ thể, luận án phối hợp 4 phương pháp chính:

  1. Phương pháp thư mục học: Sử dụng để khảo sát, lập danh mục, thống kê và phân loại 21 văn bản thuyên thích sách Mạnh Tử theo các tiêu chí (văn tự, hình thức biên soạn, phạm vi thuyên thích).
  2. Phương pháp nghiên cứu văn bản học: Áp dụng để giám định, mô tả hình thức văn bản, khảo sát niên đại, tác giả, nơi lưu trữ, tình trạng truyền bản và cấu trúc chương mục của các văn bản.
  3. Phương pháp thuyên thích học: Áp dụng để phân tích thao tác biên soạn, dụng ý học thuật của các nhà Nho khi rút gọn (tiết yếu, tiết lược, ước giải), tái cấu trúc trật tự kinh văn hoặc chú giải nghĩa lý và phiên dịch Nôm.
  4. Phương pháp phiên dịch học: Sử dụng khi phiên âm, dịch nghĩa, xử lý các đoạn văn ngôn Hán văn và văn bản chữ Nôm cổ phục vụ công tác đối chiếu tư liệu. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng các thao tác bổ trợ gồm thống kê, phân tích, so sánh và đối chiếu văn bản với Mạnh Tử tập chú của Chu Hy.

Nguồn tư liệu nghiên cứu: Khảo sát trực tiếp 21 văn bản Hán Nôm hiện lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (17 văn bản), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV tại Đà Lạt (3 văn bản mộc bản) và Thư viện Quốc gia Việt Nam (1 văn bản). Luận án chọn lọc 5 văn bản tiêu biểu nhất để phân tích sâu.

Nội dung chính theo từng chương

Bảng tổng hợp 5 văn bản nghiên cứu trọng tâm của luận án:

STT Tên văn bản Ký hiệu Tác giả / Biên tập Năm khắc in / Biên soạn Văn tự Số trang Nơi lưu trữ
1 Tứ thư ước giải (四書約解) AB.376 Lê Quý Đôn Bản in năm Minh Mệnh 20 (1839), Ức Văn Đường Chữ Hán, chữ Nôm 859 Viện Nghiên cứu Hán Nôm
2 Tứ thư tiết yếu (四書節要) AC.226/1-4 Bùi Huy Bích (1744 - 1802) Bản in năm Thành Thái 7 (1895) Chữ Hán 1300 Viện Nghiên cứu Hán Nôm
3 Tiểu học Tứ thư tiết lược (小學四書節略) A.2607 Đoàn Triển (1854 - 1919) Bản viết tay Chữ Hán 168 Viện Nghiên cứu Hán Nôm
4 Sách Mạnh học bậc cao trung học giáo khoa (冊孟學堛高中學教科) AB.314 Ngô Giáp Đậu Bản viết tay năm Duy Tân Quý Sửu (1913) Chữ Hán, chữ Nôm 358 Viện Nghiên cứu Hán Nôm
5 Trâu thư trích lục (鄒書摘錄) A.1142 Hồ Đắc Khải biên tập, Nguyễn Duy Tích tựa Năm Duy Tân Ất Mão (1915) Chữ Hán 97 Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 1 trình bày khái niệm, cơ sở phương pháp luận của thuyên thích học từ cổ điển đến hiện đại; đồng thời tổng quan tình hình nghiên cứu văn bản thuyên thích sách Mạnh Tử tại Trung Quốc và Việt Nam. Chương này xác định rõ các hướng nghiên cứu kinh điển ở Trung Quốc qua các thời kỳ (đặc biệt là bước chuyển từ chương cú huấn hỗ sang thông diễn nghĩa lý thời Tống và các hướng tiếp cận triết học, lịch sử tư tưởng thế kỷ XX). Tại Việt Nam, tác giả tổng hợp các kết quả nghiên cứu thư mục học, các công trình dịch thuật Quốc ngữ và bài viết khoa học của các thế hệ học giả. Luận án chỉ ra khoảng trống về việc nghiên cứu có hệ thống hệ thống văn bản thuyên thích sách Mạnh Tử tại Việt Nam để định hình nhiệm vụ cho các chương tiếp theo.

Chương 2: Tình trạng các văn bản thuyên thích sách Mạnh Tử hiện còn ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX

Chương 2 tiến hành khảo sát thư mục, thống kê và mô tả 21 văn bản thuyên thích sách Mạnh Tử hiện còn ở Việt Nam. Tác giả phân tích các đặc điểm thư mục nổi bật:

  • Về địa điểm lưu trữ: Tập trung chủ yếu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (17 văn bản); Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV lưu trữ 3 văn bản (Mạnh Tử tân ước ký hiệu H73, Trâu thư trích lục ký hiệu H3, Tứ thư nhân vật bị khảo ký hiệu H134); Thư viện Quốc gia lưu giữ 1 văn bản (Mạnh Tử tiết yếu ký hiệu R180). Các bản ngoài Viện Nghiên cứu Hán Nôm đa phần là bản rời hoặc mộc bản không hoàn chỉnh.
  • Về văn tự: Chỉ có 2/17 văn bản tại Viện Hán Nôm có sử dụng chữ Nôm (Tứ thư ước giải và Sách Mạnh học bậc cao trung học giáo khoa), cho thấy việc diễn giải kinh điển bằng chữ Nôm không phổ biến bằng chữ Hán.
  • Về phạm vi thuyên thích: Có 2 văn bản thuyên thích độc lập sách Mạnh Tử (Trâu thư trích lục và Sách Mạnh học bậc cao trung học giáo khoa), còn lại nằm trong chỉnh thể Tứ thư hoặc trích đoạn phục vụ thi cử (như Tứ thư sách lược VHv.391, Tứ thư đoản thiên A.1429, Tứ thư dẫn giải AC.562).
  • Về tác giả và niên đại: Có 11/17 văn bản xác định được tác giả hoặc người hiệu đính; các văn bản chủ yếu ra đời và được khắc in từ nửa cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX (triều Nguyễn). Tác giả cũng giới thiệu chi tiết về lai lịch, văn bản học, bố cục và lý do lựa chọn 5 văn bản nghiên cứu hạt nhân (Tứ thư ước giải, Tứ thư tiết yếu, Tiểu học Tứ thư tiết lược, Sách Mạnh học bậc cao trung học giáo khoa, Trâu thư trích lục).

Chương 3: Nghiên cứu nhóm văn bản thuyên thích phần chính văn sách Mạnh Tử ở Việt Nam

Chương 3 tập trung khảo sát các phương thức xử lý phần chính văn kinh điển của các nhà Nho Việt Nam qua 3 hình thức:

  • Tóm lược chính văn: Lược bỏ các câu, đoạn không trọng tâm, chọn lọc các mệnh đề cốt lõi về đạo đức, nhân chính, tu thân nhằm phục vụ việc học tập và ghi nhớ ngắn gọn (khảo sát các bảng thống kê câu kinh bị lược bỏ trong Mạnh Tử tiết yếu AC.226 và Tiểu học Tứ thư tiết lược A.2607 so với bản gốc của Chu Hy).
  • Tái cấu trúc chính văn: Khảo sát sự thay đổi kết cấu chương mục truyền thống trong các tài liệu giáo khoa đầu thế kỷ XX. Tiêu biểu là Tiểu học Tứ thư tiết lược của Đoàn Triển, Sách Mạnh học bậc cao trung học giáo khoa của Ngô Giáp Đậu và Trâu thư trích lục của Hồ Đắc Khải. Các tác giả đã sắp xếp lại các đoạn văn trích từ 7 thiên của sách Mạnh Tử theo các chủ đề hoặc bài học luân lý, sư phạm mới phục vụ phong trào cải lương giáo dục (1906 - 1913).
  • Phiên dịch chính văn: Phân tích các đoạn dịch kinh văn từ chữ Hán sang chữ Nôm (đặc biệt trong Tứ thư ước giải và Sách Mạnh học bậc cao trung học giáo khoa). Khảo sát cách dịch sát nghĩa từng từ, cấu trúc câu dịch Nôm và bảng thống kê các thuật ngữ Hán - Nôm tương ứng.

Chương 4: Nghiên cứu nhóm văn bản thuyên thích phần chú thích sách Mạnh Tử ở Việt Nam

Chương 4 đi sâu phân tích hệ thống chú giải trong các văn bản:

  • Nguồn gốc văn bản chú giải: Đối chiếu hệ thống lời chú trong 5 văn bản chính với Tứ thư tập chú của Chu Hy, chỉ ra sự kế thừa tư tưởng Tống Nho nhưng có sự tỉnh lược, gia giảm lời chú cho phù hợp với trình độ học trò và mục tiêu thực dụng của khoa cử Việt Nam.
  • Ngôn ngữ trong văn bản chú giải: Phân tích sự kết hợp giữa chữ Hán văn ngôn và chữ Nôm. Khảo sát lớp từ ngữ Nôm cổ thế kỷ XVII - XVIII xuất hiện với tần số cao trong Tứ thư ước giải (như chưng, ru, vạy, thửa, bui).
  • Nội dung chú giải: Chia thành hai mảng nội dung chính:
    1. Nội dung kinh học: Chú giải các khái niệm triết học Nho gia cốt lõi như tính thiện, tâm tính học, nhân nghĩa, vương đạo, bảo dân, chế dân chi sản, chính đạo.
    2. Nội dung lịch sử: Chú thích về danh nhân lịch sử, điển cố điển tích, địa danh, chế độ quan chế và điển chương thời cổ đại Trung Hoa được dẫn trong lời nói của Mạnh Tử nhằm giúp người học nắm vững bối cảnh lịch sử.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các kết quả và đóng góp mới sau:

  • Về mặt tư liệu: Khảo sát, lập danh mục và mô tả hệ thống 21 văn bản Hán Nôm thuyên thích sách Mạnh Tử hiện còn tại Việt Nam từ đầu thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX; giới thiệu chi tiết 5 văn bản tiêu biểu đại diện cho các xu hướng biên soạn khác nhau.
  • Về mặt phân loại và phương pháp: Phân loại các cách thức thuyên thích sách Mạnh Tử của nhà Nho Việt Nam thành các phương thức rõ ràng: tóm lược chính văn, tái cấu trúc chính văn, chú giải kinh nghĩa/lịch sử và diễn dịch Nôm.
  • Về mặt học thuật: Làm sáng tỏ con đường tiếp nhận và đặc điểm của hoạt động thuyên thích kinh điển Nho gia ở Việt Nam. Luận án chứng minh rằng các nhà Nho Việt Nam không tiếp thu kinh điển một cách thụ động mà có tính chủ động, linh hoạt thông qua việc lược giải, sắp xếp lại kinh văn để phục vụ khoa cử truyền thống cũng như cải cách giáo dục đầu thế kỷ XX.
  • Về mặt ngôn ngữ văn tự: Phân tích đặc điểm ngôn ngữ Hán Nôm, thống kê từ cổ và thuật ngữ Nôm trong văn bản dịch chú kinh điển (Tứ thư ước giải, Sách Mạnh học bậc cao trung học giáo khoa), đóng góp tư liệu cho nghiên cứu lịch sử tiếng Việt.

Luận án không đề xuất các giải pháp kinh tế - xã hội mà nêu các kiến nghị học thuật: tiếp tục khai thác kho tàng thư tịch Hán Nôm giải kinh, bảo tồn mộc bản và bản viết tay, mở rộng việc nghiên cứu đối sánh văn bản thuyên thích kinh điển giữa Việt Nam với các nước trong khu vực đồng văn Đông Á.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế:

  • Luận án chỉ tập trung vào các văn bản Hán Nôm của tác giả Việt Nam từ đầu thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX, chưa bao quát các văn bản thời kỳ Lý - Trần - Lê sơ do tình trạng tài liệu thất truyền (như Tứ thư thuyết ước của Chu Văn An).
  • Một số văn bản lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV và Thư viện Quốc gia bị rách, khuyết trang hoặc chữ in mộc bản bị nhòe mờ, gây khó khăn cho việc đối chiếu toàn văn.
  • Luận án chưa đi sâu phân tích mảng tư liệu các bản dịch sách Mạnh Tử bằng chữ Quốc ngữ trong giai đoạn cận - hiện đại do giới hạn chuyên ngành Hán Nôm.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng nghiên cứu đối sánh toàn diện hệ thống văn bản giải thích các bộ kinh khác trong Tứ thư (Đại học, Trung dung, Luận ngữ) và Ngũ kinh ở Việt Nam.
  • Đi sâu nghiên cứu so sánh hoạt động thuyên thích kinh điển Nho gia giữa Việt Nam với Trung Quốc, Triều Tiên/Hàn Quốc và Nhật Bản trong không gian văn hóa Đông Á.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho các đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, nhà nghiên cứu chuyên ngành Hán Nôm, Văn học trung đại, Lịch sử tư tưởng Việt Nam và Triết học phương Đông: Cung cấp danh mục thư mục mô tả chi tiết, bảng tra cứu ký hiệu văn bản và phương pháp tiếp cận văn bản giải kinh.
  • Giảng viên đại học: Sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy các học phần Văn bản học Hán Nôm, Lịch sử Nho học Việt Nam, Hán Nôm chuyên ngành.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Bảng thống kê thư mục 21 văn bản ở Chương 2; các bảng so sánh câu kinh, cấu trúc chương mục giữa các văn bản Việt Nam với Chu Hy tập chú ở Chương 3; hệ thống phân tích từ Nôm cổ và nội dung kinh học - lịch sử ở Chương 4.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát tổng cộng bao nhiêu văn bản thuyên thích sách Mạnh Tử và phân bố ở những cơ quan lưu trữ nào?
Luận án thống kê được 21 văn bản thuyên thích sách Mạnh Tử tại Việt Nam, phân bố tại 3 nơi: Viện Nghiên cứu Hán Nôm (17 văn bản), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV tại Đà Lạt (3 văn bản mộc bản: Mạnh Tử tân ước H73, Trâu thư trích lục H3, Tứ thư nhân vật bị khảo H134) và Thư viện Quốc gia Việt Nam (1 văn bản: Mạnh Tử tiết yếu R180).

2. Năm văn bản trọng tâm được tác giả lựa chọn nghiên cứu kỹ lưỡng là những văn bản nào?
Năm văn bản gồm: Tứ thư ước giải (Lê Quý Đôn, bản in năm 1839), Tứ thư tiết yếu (Bùi Huy Bích, bản in năm 1895), Tiểu học Tứ thư tiết lược (Đoàn Triển biên tập, bản viết tay), Sách Mạnh học bậc cao trung học giáo khoa (Ngô Giáp Đậu, bản viết tay năm 1913), và Trâu thư trích lục (Hồ Đắc Khải biên tập, đề tựa năm 1915).

3. Hoạt động thuyên thích phần chính văn sách Mạnh Tử của các nhà Nho Việt Nam gồm những phương thức nào?
Gồm 3 phương thức chính: (1) Tóm lược chính văn (lược bỏ các câu đoạn phụ, giữ lại mệnh đề cốt lõi); (2) Tái cấu trúc chính văn (sắp xếp lại các câu trích đoạn từ 7 thiên theo bài học hoặc chủ đề luân lý/giáo dục mới); (3) Phiên dịch chính văn (chuyển dịch từ Hán văn sang chữ Nôm theo lối trực dịch sát nghĩa).

4. Vì sao số lượng văn bản thuyên thích sách Mạnh Tử có chữ Nôm chiếm tỷ lệ nhỏ?
Qua khảo sát, chỉ có 2 trong số 17 văn bản tại Viện Hán Nôm có chữ Nôm (Tứ thư ước giải và Sách Mạnh học bậc cao trung học giáo khoa). Điều này cho thấy việc thông diễn kinh điển Nho gia bằng chữ Nôm không phổ biến bằng chữ Hán do truyền thống khoa cử chủ yếu dùng chữ Hán và tính chất dung lượng lớn của sách Mạnh Tử không thuận tiện cho việc diễn ca hay phổ biến đại chúng bằng văn Nôm.

5. Điểm khác biệt trong việc tái cấu trúc sách Mạnh Tử ở các văn bản đầu thế kỷ XX (như của Đoàn Triển, Ngô Giáp Đậu, Hồ Đắc Khải) là gì?
Các tác giả đầu thế kỷ XX đã phá vỡ trật tự 7 thiên truyền thống của sách Mạnh Tử để biên soạn lại thành các bài học có hệ thống đề mục rõ ràng, phục vụ trực tiếp cho chương trình cải lương giáo dục khoa cử (1906 - 1913) nhằm giúp học sinh tiếp thu tư tưởng đạo đức và thực nghiệp một cách tinh gọn, có phương pháp sư phạm hiện đại hơn.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Thị Hồng Dung là công trình nghiên cứu chuyên sâu về hệ thống văn bản thuyên thích sách Mạnh Tử tại Việt Nam giai đoạn từ đầu thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX thuộc chuyên ngành Hán Nôm. Thông qua việc phối hợp các phương pháp thư mục học, văn bản học, thuyên thích học và phiên dịch học, luận án đã thống kê, phân loại 21 văn bản hiện còn và đi sâu phân tích 5 văn bản tiêu biểu. Kết quả nghiên cứu làm rõ các phương thức xử lý chính văn và chú giải kinh điển của các nhà Nho Việt Nam, khẳng định sự chủ động, sáng tạo trong việc tiếp nhận Nho học phục vụ khoa cử và cải cách giáo dục. Đây là nguồn tài liệu thư mục và học thuật có giá trị cho nghiên cứu Hán Nôm, lịch sử tư tưởng và văn hóa Việt Nam thời trung - cận đại.