CHƯƠNG 1 TẢN VĂN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA NGUYEN TRƯƠNG QUÝ 1.1 Khái niệm tản văn và đặc trưng thể loại 1.1 Khái niệm tản văn Trước khi được các nhà nghiên cứu ghi nhận như là một thé văn học độc lập. khái niệm tản văn được nhìn nhận theo ba cấp độ: tản văn theo nghĩa là văn xuôi; tản văn theo nghĩa là những thể loại ngoài truyện, thơ, kịch và tản văn theo nghĩa là một thể loại văn học. Theo Tw điển Tiéng Việt (Hoàng Phê chủ biên ), tan văn có 2 nghĩa: Một là văn xuôi; Hai là loại văn gồm các thể kí, tùy bút. Trước nay, ở Việt Nam thuật ngữ tản văn vẫn được dùng theo nghĩa “văn xuôi” và nó còn được xếp vào nhóm từ cổ, ít dùng.
Vì vậy khảo sát một số từ điển tiếng Việt hiện hành thì thấy nhiều từ điển không có mục từ “tan văn”, hoặc nếu có thì được giải nghĩa là “văn xuôi”. Việc giải nghĩa như trên có lẽ là do ảnh hưởng của việc sử dụng từ “tản văn” trong văn học Trung Quốc. Ở Trung Quốc, thời cổ trung đại, “tản văn” có nghĩa là văn xuôi (Tiếng Anh: prose) phân biệt với “vận văn” - văn vần (Tiếng Anh: Verse) và “biền văn” - văn biền ngẫu. Đó là cách phân loại đơn thuần dựa vào hình thức câu văn.
Vì thế những sáng tác không phải là thơ, từ, phú, khúc. đều được gọi là tản văn. Cuốn Khái yếu lịch sử văn học Trung Quốc của Nxb Đại bách khoa toàn thư của Trung Quốc đã nói rõ: “Trong quan niệm văn học truyền thống của Trung Quốc, còn có một thé văn quan trọng: tản văn - văn xuôi; cũng là văn học chính tông xếp ngang hàng với thơ từ” [dẫn 50, tr. Trong lịch sử văn học Trung Quốc, tản văn bao giờ cũng được khảo sát với tư cách là một thê loại lớn.
Diệp Thánh Đào trong bài Về sáng fác tản văn (Lý luận tản văn hiện dai Trung Quốc) cũng quan niệm: “Ngoài tiêu thuyết, thơ ca, hy kịch ra còn lại đều là tản văn. Từ cách hiểu như trên mà việc một số từ điển tiếng Việt giải nghĩa từ “tản văn” là văn xuôi là có thể lý giải được”. Theo Từ điển Hán Việt, Đào Duy Anh định nghĩa: “Tản văn, văn xuôi không có vân”. Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên) là cuốn từ điển duy nhất đã xác định tản văn ngoài nghĩa là văn xuôi còn có nghĩa dùng hiện nay là một thé loại văn học có đặc trưng riêng biệt: “Tan văn là loại văn xuôi gọn nhẹ, hàm súc, có thể trữ tình, tự sự, nghị luận, miêu ta phong cảnh, khắc họa nhân vật.
Lối thé hiện đời sống của tản văn mang tính cham phá, không nhất thiết đòi hỏi có cốt truyện phức tạp, nhân vật hoàn chỉnh nhưng có cau tứ độc đáo, có giọng điệu cốt cách cá nhân. Điều cốt yếu là tản văn tái hiện được nét chính của các hiện tượng giau ý nghĩa xã hội, bộc lộ trực tiếp tình cảm, ý nghĩa mang đậm bản sắc cá tính của tác giả” [33, tr. Ở Pháp, vào thế kỷ XVI, với ý thức chống lại thứ văn chương kinh viện, giáo điều của nhà thờ, nhà văn M.Môngtenhơ (1533 - 1592) đã khai sinh ra thể loại tản văn. Năm 1580, ông xuất bản tập Essais.
Từ đó tản văn được nhiều nhà văn, nhà triết học sử dụng, trở thành một thể loại quan trọng của văn học hiện đại. Đặc biệt, sự xuất hiện của truyền thông báo chí ở thế kỷ XVIII đã giúp tản văn phát huy tính năng động tiềm ẩn và nhanh chóng khang định vị thế bằng những thành tựu rực rỡ. Không chỉ ở Pháp, ở Anh mà ở Mỹ cũng đã xuất hiện nhiều nhà tản văn nổi tiếng. Ở Việt Nam thể loại tản văn được hình thành khá sớm và phát triển vào khoảng thập kỷ thứ hai của thế kỷ XX với sáng tác của Tản Đà, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Bá Trac, Dam Phượng, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Tất Tố.
Trong số đó, Tan Đà được coi là người đi tiên phong, đặt nên móng cho thể loại tản văn ở Việt Nam. “Người thứ nhất có can đảm làm thi sĩ” ấy trong khi “Nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng” đã bứt phá ra khỏi hệ thống thê loại cũ gò bó, xơ cứng. Tản Đà đã tự đi tìm cho minh một hình thức biểu đạt phù hợp với đời sống tinh than và “gu” thâm mỹ của con người buổi giao thời. Những tìm tòi thể nghiệm ấy có trong thơ, tiêu thuyết và đặc biệt là trong tản văn.
Chang thé mà Phan Khôi đã nhận xét: “Anh Quỳnh, anh Vĩnh chỉ viết theo sách, theo tư tưởng phương Tây; chứ đến thăng cha này (Tản Đà), hắn viết ra tư tưởng của hắn, chính hắn mới là tay sáng tạo”. Giới trẻ sáng tác văn chương hiện nay quan niệm về thể loại này khoáng đạt hơn. Tác giả Nguyễn Hồng Nga trên trang phongdiep.net cho rằng: “Nếu như so với triết tự từ Trung Quốc thì định nghĩa của khái niệm đã thay đôi rất nhiều. Hiéu một cách đơn giản, nó là một loại mỹ văn, hay loại văn thủ thỉ tâm tình, những chuyện 7 kể tai nghe mắt thấy.
Ngay cả cái ranh giới của các thê loại như tan văn, tạp bút, tản mạn cũng đã nhòa dần, ngược lại cũng chính vì điều đó mà tản văn đã không bị gò bó, thậm chí đã nới rộng ranh giới thể loại và làm phong phú đề tài, chủ đề. Đúng là tản văn không còn là địa hạt dành riêng cho những cây bút lão luyện trữ tình ngoại đề hoặc bàn luận thêm những vấn đề mà họ chưa có đưa vào những tác phâm lớn mà tản văn còn là nơi các bạn trẻ mạn đàm về những vấn đề đang diễn ra trong thực tế. Quan niệm như trên hoàn toàn phù hợp với khuynh hướng dân chủ hóa trong đời sông văn chương cũng như tình hình phát triển hiện nay của thể loại này. Thông qua những phương tiện đó, người viết có thể trình bày quan điểm của mình một cách rộng rãi về nhiều vấn đề mà xã hội đang quan tâm hoặc thậm chí đó là những triết lý nhân sinh trong mối liên hệ với muôn màu muôn vẻ của cuộc sống.
Có rất nhiều các quan niệm xoay quanh khái niệm tản văn tuy nhiên các quan niệm trên đều thống nhất: tan văn là một thé loại văn xuôi có tinh hàm súc, có thé là trữ tình, tự sự, nghị luận đan xen và đều bộc lộ trực tiếp dấu ấn riêng, cái tôi tác giả. Có lẽ cũng vì vậy, nhà văn trẻ Nguyễn Trương Quý đã lựa chọn tản văn. Nhà văn từng thổ lộ: “Tôi chọn tản văn, tùy bút hay tiểu luận dé viết vì tôi ý thức rằng đây là thé loại có kha năng thể hiện đời sống dưới lăng kính chủ quan của người viết. Tản văn có một lợi thế là cho phép người viết tung tây như đi trên một con lộ mà có thé họ tùy nghi dễ queo vào những con hẻm, con ngõ rồi trở về lộ trình chính.
Điều này có tác dụng khơi mở người đọc, có thê nói Đông nói Tây nhưng thu gom lại thì qua kiến thức mà họ thu nhận từ cuộc sống. Nó vừa có cái chất thông tấn báo chí nhưng cũng có thể diễn đạt văn chương một cách cầu kỳ, tắt nhiên phải có một sự gia giam khác nhau” (rfa.2 Phân biệt tản văn với các thể loại có khái niệm gan gui Bởi có rất nhiều ý kiến, quan niệm khác nhau xoay quanh khái niệm tản văn, chính vì vậy, phân loại tản văn với các khái niệm gần gũi là vô cùng quan trọng. * Phân biệt với tạp văn: Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê (Nxb Đà Nẵng): “Tạp văn là loại văn có nội dung rộng, hình thức không gò bó, bao gồm những loại bình luận ngăn, tiêu phẩm tùy bút. Có một số tác giả xếp tạp văn là một dạng nhỏ của tản văn như Đỗ Hải Ninh: “Chúng tôi quan niệm tản văn là một loại văn ngắn gọn, hàm súc với khả năng khám phá đời sống bat ngờ, thể hiện trực tiếp tư duy, tình cảm của tác giả, bao gồm cả tạp văn, tùy bút, văn tiêu phẩm” [3lc].
Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý (Nxb Văn hóa Thông tin, Tr 1495) giải thích: “Tap văn gồm nhiều thé tài linh hoạt như đoản thiên, tiêu phẩm, tùy bút”. Nhà văn Lỗ Tan viết: “Kỳ thực cái gọi là tạp văn cũng không phải là món hàng mới mẻ ngày xưa cũng đã có. Phàm là văn chương, nếu xếp loại thì có loại để mà xếp, bat ké thé gì, mọi thể đều xếp vào một chỗ cả, thé là thành tạp”. Từ điển Văn học định nghĩa: Tạp văn là những bài văn nghị luận có tính nghị luận.
Phạm vi của tạp văn rất rộng, bao gồm tạp cảm, tùy bút, tiêu phẩm bình luận ngắn gọn. Đặc điểm nồi bật là rất ngắn. Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: “Những áng văn tiêu phẩm có nội dung chính tri, có tác dụng chiến đầu mạnh mẽ. Đó là một thứ văn vừa có tính chính luận sắc bén vừa có tính nghệ thuật cô đọng, phản ánh và bình luận kip thời các hiện tượng xã hội”.
Trong cuốn Khái niệm và thuật ngữ lý luận văn học Trung Quoc, Pham Thi Hao cho rằng: "Tap văn là một loại tan văn, bao gồm nhiều hình thức: Tạp cam, tap đàm, tạp luận. loại này yêu cầu phải có sự quan sát tìm hiểu và phân tích sâu sắc cuộc sống xã hội, phải nhạy bén phản ánh những sự kiện xã hội và khuynh hướng xã hội, bang ngòi bút sắc sảo, lão luyện, đánh trúng vào những chỗ yếu của sự việc. Loại văn này, tác phẩm ngắn, thường mang tính tư tưởng cao, giàu tính chiến đấu đồng thời giàu tính nghệ thuật. Ở thời Chiến quốc, loại văn này khá phổ biến.
Thời hiện đại Lỗ Tấn đã khiến "tạp văn" phát huy được nhiều tác dụng phê phán xã hội, châm biếm những tệ nạn đương thời. Cho đến nay thé loại tạp văn vẫn phát triển với diện mạo và nội dung ngày càng phong phú. Từ rất nhiều ý kiến của các nhà nghiên cứu văn học, ta có thê tổng hợp và hiểu một cách đơn giản nhất về tạp văn và đặc trưng của nó như sau: Tạp văn là thé loại văn xuôi ngắn gọn, hàm súc, sinh động. Tạp văn phù hợp với nhu cầu thưởng thức của độc giả hiện đại, chúng thường nghiêng về những vấn đề chính trị xã hội, thê hiện quan điêm riêng của tác giả trước những vân đê này.