Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VỊ TỪ TÌNH THÁI 30 1. VỊ TỪ TÌNH THÁI 30 1 Vị từ 30 1. Vị từ tình thái 33 1. CƯƠNG VI CU PHAP CUA VI TU TINH THAI TRONG 38 NGỮ ĐOẠN VỊ TỪ Ý kiến thứ nhất: Trung tâm của ngữ đoạn vị từ thuộc 38 về vị từ ngôn liệu 1.
Ý kiến thứ hai: Trung tâm của ngữ đoạn vị từ thuộc về 40 vị từ tình thái 1. CHỨC NĂNG NGHĨA CUA VI TU TINH THAI TRONG TIENG VIET 1. Vị từ tình thái à vấn để phần ánh mối liên hệ giữa sự 45 tình với người nói ra sự tình Vị từ tình thái và vấn để phản ánh mối liên hệ giữa sự 54 tình với chủ thể của sự tình 59 1. Vị từ tình thái và vấn để phản ánh mối liên hệ giữa các nhân tố bên trong sự tình 1.
Vị từ tình thái và vấn để phản ánh mối liên hệ giữa sự. tình với c nhân tố bên ngoài sự tình 70 Chương 2: CƯƠNG VỊ CÚ PHÁP VÀ CHỨC NĂNG NGHĨA CỦA VỊ TỪ TÌNH THÁI TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYEN DU 70 2. CUONG VI CU PHAP CUA VI TU TINH THÁI TRONG TRUYỆN KIỀU 78 2. CHỨC NĂNG NGHĨA CỦA VỊ TỪ TÌNH THÁI TRONG TRUYỆN KIỀU 79 2.
Vị từ tình thái a van dé phan ánh mối liên hệ giữa sự tình với người nói ra sự tình trong Truyện Kiều 95 2. Vị từ tình thái và vấn để phản ánh mối liên hệ giữa sự tình với chủ thể của sự tình trong Truyện Kiểu. Vị từ tình thái và vấn để phản ánh mối liên hệ giữa các nhân tố bên trong sự tình trong Truyện Kiểu 107 Vi tir tình thái và vấn để phản ánh mối liên hệ giữa sự tình với các nhân tố bên ngoài sự tình trong Truyện Kiểu 116 KẾT LUẬN 120 'THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHAO 130 PHỤ LỤC 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀ Truyện Kiểu của Nguyễn Du là một kho tàng nghệ thuật không bao giờ khai thác hết.
Từ trước đến nay đã có rất nhiều nhà nghiên cứu đánh giá cao về tài năng sử dụng ngôn ngữ của nhà thơ, tiêu biểu như: Trường Chinh, Lê Dinh Ky, Đặng Thanh Lê, Nguyễn Lộc, Phan Ngọc, Hoài Thanh, Nguyễn Khánh Toàn. Phần lớn các nhà nghiên cứu, phê bình đều đánh giá cao về tài năng của Nguyễn Du, xem Nguyễn Du là bậc thây của ngôn ngữ dân tộc, là tập đại thành về ngôn ngữ của thời đại ông và cũng là người đã nâng ngôn ngữ văn học dân tộc của thời đại lên một đỉnh cao chói lọi. Thật vậy, qua tác phẩm Truyện Kiểu, bằng tài năng và sự nhạy cảm của mình, Nguyễn Du rất thành công trong việ sit dụng ngôn ngữ. Sự thành công của nhà thơ về phương diện ngôn ngữ đã khẳng định một cách đầy sức thuyết phục sự phong phú và khả năng to lớn của ngôn ngữ dân tộc trong sáng tác văn học.
Đúng như lời nhận xét của GS. Nguyễn Khánh Toàn: “Sé di Truyện Kiều đã trở thành một kiệt tác vĩ đại của Nguyễn Du, một trong những nguyên nhân cơ bản nhất là vì Nguyễn Du đã sử dụng tiếng Việt một cách thân tình, kỳ điệu” (Diễn văn đọc trong buổi lễ kỷ niệm 200 năm ngày sinh Nguyễn Du, tổ chức tại Nhà hát thành phố Hà Nội ngày 25-1 1-1965). Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người. Ngôn ngữ giúp con người truyền đạt những tâm tư, tình cảm, nguyện.
Con người sử dụng ngôn ngữ không những phản ánh hiện thực mà còn thể hiện nhận thức, thái độ, cách đánh giá. của mình về sự tình (statc of affairs), về chủ thể được đề cập đến trong câu. Thống nhất với luận điểm vừa nêu trên, về cơ bản, đến nay nhiều nhà ngôn ngữ học, nhất là các nhà ngữ pháp chức năng, thừa nhận trong một câu như: (1) Thúy Vân chợt tỉnh giấc xuân. <713> có hai thành phân được phân biệt với nhau về chức năng biểu đạt: ~ Thành phần thứ nhất: Tập hợp các yếu tố thể hiện nội dung sự tình (lõi sự tình) và các tham tố (arguments) của sự tình trong câu.
Cái lõi của sự tình trong vi du (1) là TỈNH, hai tham tố của né 1a THUY VÂN và GIẤC XUÂN. Thành phần này được gọi là Ngôn liệu (lexis / dictum). ~ Thành phần thứ hai: Chính là cách thực hiện mối liên hệ của những thành phân ngôn liệu, cho biết mối liên hệ ấy là có thật (hiện thực) hay không có thật (phi hiện thực), là tất yếu hay không tất yếu, là có thể (khả năng) hay không có thể (không khả năng). Ngoài biểu hiện ba phạm trù trên, câu nói còn chứa đựng những thành phần biểu đạt thái độ, cách đánh giá.
của người nói đối với sự tình được phản ánh và biểu đạt tính chất của phát ngôn. Thành phần này được xác lập bằng sự có mặt của từ CHỢT. Thành phần này được gọi là Tinh thai (modality). Đặc biệt trong các yếu tố tình thái tham gia vào cấu trúc câu, có.
những yếu tố tình thái đứng trước các ngữ đoạn vị từ — mot vi tri rất nhạy cảm về nghĩa học, về cú pháp. Sự thâm nhập của chúng vào bên trong cấu trúc câu sâu sắc đến mức chúng có thể tổ chức cấu trúc câu đó. Chúng được xem là một loại vị từ và luôn nhận vị ngữ đứng sau làm bổ ngữ. Đó chính là VJ TỪ TÌNH THÁI (modality verb).
Hơn mười năm trở lại đây, trong toàn bộ các yếu tố tình thái của. tiếng Việt, vị từ tình thái - một bộ phận có ảnh hưởng quan yếu đến việc miêu tả cấu trúc của toàn vị ngữ, có nhiều vấn để lý luận đáng quan tâm, và trong quá trình nghiên cứu tác phẩm văn chương, việc tìm hiểu vị từ tình thái cũng chưa được quan tâm đúng mức. Chính vì lẽ đó, để hiểi u hơn giá trị ngôn ngữ cũng như giá trị nội dung của tác phẩm Truyện Kiểu, chúng tôi chọn vấn để VI TU TÌNH THÁI TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU làm đối tượng nghiên cứu cho luận văn của mình. Luận văn của chúng tôi chỉ là một thử nghiệm vận dụng các quan điểm nghiên cứu của ngữ pháp chức năng để bước đầu xử lý một số vấn để có liên quan đến vị từ tình thái trong tác phẩm Truyện Kiểu.
Vì đây là bước đầu thử nghiệm cộng với những hạn chế của sở học bản thân cũng như hạn chế vẻ thời gian nghiên cứu cho nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Chúng tôi hy vọng rằng những kết quả nghiên cứu cụ thể của luận văn sẽ góp phân vào việc tìm hiểu, nghiên cứu ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Vấn dé tình thái trong sách vở ngôn ngữ học và Việt ngữ học “Tình thái” là một khái ni ệm tương đối mới mẻ trong Việt ngữ học.
Thật ra, khái nị này đã có từ lâu trong lý luận ngôn ngữ. Các nhà ngôn ngữ học đã tìm hiểu, giải quyết chúng theo những hướng khác nhau, nhưng những điểm cốt lõi của khái niệm tình thái vẫn được thống nhất về cơ bản. Trong logic học, vấn để tình thái được để cập từ rất lâu. Có thể nói Aristote là người đầu tiên quan tâm đến vấn để này.
Nhưng xem xét logic tình thái theo hướng hiện đại là công lao của C. Trong ngôn ngữ học, vấn để tình thái cũng được để cập khá lâu. Cho đến ngày nay, vẫn phải thừa nhận rằng “không có phạm trà nào mà bản chất ngôn ngữ học và thành phân các ý nghĩa bộ phận lại gây ra nhiều ý kiến khác biệt và đối lập nhau như phạm trà tình thái” (Panfilov)(Lê Đông-Nguyễn Văn Hiệp 2003)[27,19]. Nói về van dé tinh thái, có thể kể đến Ch.
Liapon, John Lyons, M. Nhà ngôn ngữ học Pháp nổi tiếng Ch. Bally đã dùng thuật ngữ dietum để gọi nội dung cốt lõi của câu và modus hoặc modalité để chỉ thái độ của người nói đối với nội dung ấy. Dicuzn gắn chặt với chức năng thông tin, chức năng miêu tả của ngôn ngữ, còn modus gắn với bình điện tâm lý.
Ông cho rằng: “Tính tình thái là linh hôn của câu. Cũng như ý tưởng (idea), tính tình thái về cơ bản được hình thành do kết quả của một thao tác tích cực của chủ thể là người nói. Do đó không thể tạo cho câu ý nghĩa của lời nói / câu nói, nếu trong câu ta không tìm thấy một biểu nào đó của tính tình thái” [96,170]. Trong tiếng Nga, ngay từ những năm 50 của thế kỷ trước, sự phân tích cụ thể vùng chức năng của tính tình thái đã được trình bày trong một công trình của Viện sĩ V.
Vinogradov “Về phạm trù tình thái và các từ tình thái trong tiếng Nga". Tác giả đã khẳng định ý nghĩa quan trọng của vấn để này, xem chúng là một trong những phạm trù ngôn ngữ học trung tâm, cơ bẩn; và ở các ngôn ngữ khác nhau được tìm thấy dưới những dạng khác nhau (Vinogradov 1950)|97,42]. Bondarenko, tính tình thái là một phạm trù ngôn ngữ chỉ ra đặc điểm của các mối quan hệ khách quan được phản ánh trong nội dung của câu và chỉ ra mức độ của tính xác thực về nội dung của chính câu đó theo quan điểm của người nói. Như vậy, dựa vào ý nghĩa, tình thái có hai phạm trù su: tình thái khách quan (objecve modality) và tình thái chủ quan (subjective modality) (Phạm Hùng Việt 2003)491.
Quan điểm của Bondarenko về tình thái đã bắt đầu phát hiện ra những khía cạnh dụng học của vấn để tình thái, nhưng lại chưa thật sự vận dụng một cách triệt để phương pháp. của dụng học để phân tích bản chất của phạm trù tình thái. Quan điểm này được nhiều tác giả tán đồng như: iapon, Lê Đức Trọng, Phạm Hùng Việt Đi xa hơn vào lĩnh vực dụng học có thể kể đến A. Theo ông, phạm trù tình thái thể hiện quan hệ giữa người nói với mối liên hệ do nó lập nên giữa một phát ngôn cụ thể và thực tế, tức là mối quan hệ với mối quan hệ.
Như vậy, khi quan sát phạm trù tình thái, người ta còn xét cả sự phản ứng, các tương tác phức tạp giữa bốn nhân tố của quá trình giao tiếp: người nói, người đối thoại, nội dung của phát ngôn và thực tế (Phạm Hùng Việt 2003)|90,38]. Halliday cũng có rất nhiều ý kiến bàn về tính tình thái. Một mặt, ông chú trọng vào phạm trù zhứe (mood), một mặt lại đặt ra yêu cu về việc cẩn phải xem xét tính tình thái qua việc sử dụng động từ.