Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYET 1. Hội thoại và phát ngôn ngôn ngữ 1.Hội thoại Như chúng ta biết, giao tiếp băng ngôn ngữ có nhiều hình thức: Giao tiếp một chiều (độc thoại), giao tiếp hai chiều hoặc nhiều hơn. Giao tiếp hai chiều là hoạt động cơ bản nhất, phô biến nhất của con người. “Hói thoại là một trong những hoạt động ngôn ngữ thành lời giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp, trong một ngữ cảnh nhất định mà giữa họ có sự tương tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành vi nhận thức nhằm đi đến một mục đích nhất định.
18] Hội thoại là một hoạt động xã hội. Trong cuộc thoại khi hoạt động phản hồi nảy sinh, vai trò của hai người tham gia cuộc thoại đã thay đổi. Bên nghe trở thành bên nói và bên nói trở thành bên nghe. Hội thoại là một sự nỗ lực hợp tác giữa các bên tham gia, có thể có ba bên hoặc nhiều hơn thế.
Tuy nhiên hội thoại gồm hai bên là quan trọng nhất. Trong khuôn khổ luận văn của mình, chúng tôi cũng chỉ đề cập đến hội thoại hai bên. Có rất nhiều yếu tố liên quan đến hội thoại. Theo Đỗ Hữu Châu, các cuộc thoại có thể khác nhau ở nhiều khía cạnh như: thời gian, không gian, nơi chốn, số lượng người tham gia, về cương vị với tư cách người tham gia cuộc thoại, về tính chất cuộc thoại, về vị thế giao tiếp, về tính có đích hay không có đích, tính hình thức hay không hình thức, về ngữ điệu hay động tác kèm lời.Những yếu tô này không tách rời nhau mà liên kết nhau, tạo thành một khối lượng thống nhất hữu quan trong hội thoại, chi phối và điều hòa cuộc thoại để đạt đến đích cuối cùng của mỗi bên giao tiếp theo những quy tắc nhất định.
Hành động ngôn ngữ Cũng như mọi hệ thống xã hội khác, hệ thống ngôn ngữ được sinh ra dé thực hiện chức năng hướng ngoại — chức năng làm công cụ giao tiếp. Khi ngôn ngữ được sử 9 dụng để giao tiếp thì người ta nói ngôn ngữ đang hành chức, hay ngôn ngữ hành chức khi con người nói năng bằng một ngôn ngữ nhất định. Vậy nói năng là một dạng hành động đặc biệt của con người — hành động bằng ngôn ngữ [22, tr. Hành động ngôn ngữ được hiểu: Trong hội thoại “vai nói có thé dùng ngôn ngữ dé miêu tả một hiện tượng: a) Bau trời hôm nay rất đẹp; đê thuật lại một sự việc: b) Hôm nay tôi gặp một người lạ mặt, người đó cứ nhìn tôi với vẻ gì đó mà tôi rất khó ta; dé khang định: c) Diéu đó đúng; dé bay tỏ một sự nghỉ vấn: d) Ban dang làm gì?; dé đưa ra một yêu cầu: đ) Anh hãy ra ngoài một lát; đề khuyên nhủ: e) Anh nên bỏ thuốc; dé đe dọa: g) Mày thì liệu hồn; để khen ngợi: h) Em ngoan quá!.
Ta gọi các hành động trong các ví dụ a,b,c,d,d,e,g là những bộ phan năm trong hoạt động giao tiếp nói chung — hành động ngôn ngữ. Austin, có ba loại hành động ngôn ngữ: a. Hành động tạo lời: Là hành động sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ âm, từ, các kiểu kết hợp từ thành câu.để tạo thành những phát ngôn hay những văn bản có thé hiểu được. Hành động mượn lời: Là hành động mượn phương tiện ngôn ngữ hay nói cách khác là mượn các phát ngôn dé gây ra sự tác động hay hiệu quả ngoài ngôn ngữ đối với người nghe.
Hiệu quả này không đồng nhất ở những người nghe khác nhau. Hành động ở loi (hành động ngôn trung, hành động trong lời): Là hành động người nói thực hiện ngay khi nói năng. Hiệu quả của chúng gây ra những tác động trực tiếp thuộc về ngôn ngữ, gây phản ứng với người nghe. Đối tượng chúng tôi khảo sát là các phát ngôn hỏi — đáp (thuộc hành động ở lời), vì thế trong phần này chúng tôi đi sâu vào nhóm hành động ở lời.
Tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Điêu kiện sử dụng hành vi ở lời là những điều kiện mà một hành vi ở lời phải đáp ứng dé nó có thể diễn ra thích hợp với ngữ cảnh của sự phát ngôn ra no” [3, tr. Searle chỉ ra 4 điều kiện cụ thé sau: điều kiện nội dung mệnh đề, điều kiện chuẩn bị, điều kiện chân thành, điều kiện căn bản. Tiêu chí nhận diện và phân loại hành động ở lời: Dé nhận diện hành động ở lời, có thể căn cứ vào các tiêu chí sau: - Đích ở lời - Cấu trúc hình tượng, bao gồm: Các kiểu kết cấu, những từ ngữ chuyên dùng cho biểu thức ngữ vi, ngữ điệu, động từ ngữ vi - Nội dung mệnh đề - Theo cách thê hiện lực ngôn trung Phân loại hành động ở lời: Đề phân loại hành động ở lời, Austin đưa ra 5 phạm trù: (1) Phan xử, (2) Hành xử, (3) Cam kết, (4) Biểu cảm, (5) Tuyên bố. Phát ngôn ngôn ngữ Theo tác giả Hoàng Trọng Phiến: “Néu xét ở góc độ nhận thức và sử dụng thì, phát ngôn là phạm tri ngữ pháp — lôgic.
Ở phát ngôn có các nhân to của tư duy, tức là có cơ cấu của phán đoán logic gồm thành phan hư thé, thành phan vị thé, thành phan xác định và có các nhân tổ ngữ pháp. Nói đến phát ngôn là nói cu pháp và tư duy thống nhất nhưng không dong nhất” “Nếu xét ở góc độ cấp độ hệ thong cầu trúc thì câu là cái trừu tượng còn phát ngôn là cái cụ thé, câu là bat biến thé phát ngôn là biến thé, các phát ngôn làm chức năng hiện thực hóa các mô hình cú pháp của câu, đồng thời là phương thức tôn tại của mô hình đó.Đến lượt mình, câu vừa thuộc bình diện ngôn ngữ vừa thuộc bình diện lời nói, còn phát ngôn là thuộc vào bình diện lời noi” [44, tr. 199] Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, “Phat ngôn chính là các thông điệp hình thành trên cấu trúc của câu nhưng phải là kết quả của tắt cả những quy tắc, những tác động vừa miêu ta” [44, tr. 200] 11 Theo tác giả Diệp Quang Ban, “Nhìn chung, phát ngôn được hiểu là một hành động giao tiếp, một don vị thông báo mà người nghe có thé tiếp nhận được trong diéu kiện giao tiếp bằng ngôn ngữ nhất định.
Nói một cách thô thiển, phát ngôn là cái biểu hiện cụ thể trong từng lúc của câu. Có thể hình dung một câu do nhiều người nói ra, hoặc do một người nói ra trong những lúc khác nhau. Mỗi lan nói ra tương đương với câu ta có được phát ngôn. Như vậy, một mặt câu là kết quả của quá trình phân tích vô vàn phát ngôn và rút ra được từ chúng, mặt khác câu là cơ sở dé theo đó mà tạo ra những phát ngôn khác nhau ” [44, tr.
Theo tác giả Tran Ngọc Thêm, “Mộ cách đây đủ, phát ngôn có thể định nghĩa như sau: Phát ngôn là một bộ phận của đoạn văn, với một cầu trúc và nội dung nhất định nào đó (đây đủ hoặc không đây đủ) được tách ra một cách hoàn chỉnh về hình thức, ở dạng viết, nó bắt dau bằng chữ cái hoa và kết thúc bằng dau ngắt phát ngôn; ở dang nói, nó có những kiểu ngữ điệu nhất định và kết thúc bằng quãng ngắt hơi; về mặt khói lượng, nó có thể được tận cùng bằng ngữ khí từ. Theo tác giả, khi phân đoạn, đoạn văn sẽ được chia hết thành các phát ngôn, không có phan dư” [44, tr. Để tiện cho việc khảo sát, trong luận văn của minh, chúng tôi quy ước 1 phát ngôn hỏi tương ứng với 1 câu hỏi, 1 phát ngôn đáp tương ứng với 1 câu trả lời. Khái quát về câu hỏi Hỏi là một hiện tượng có tính chat phố quát trong đời sống, giao tiếp ngôn ngữ của con người.
Đây là một đối tượng có tính chất phúc tạp, đa diện nhưng khá thú vi bởi không chi đơn thuần hỏi chi dé biéu thị “điều chưa biết” “cái không rõ”, thông qua hành vi hỏi còn thể hiện cả một truyền thống văn hóa, tâm lí, phong tục tập quán.những cách hỏi khác nhau sẽ dé lại những dấu ấn văn hóa khác nhau. Qua hành vi hỏi, chúng ta có thê lí giải, đánh giá được ngôn ngữ của người tham gia giao tiếp nói chung và nhân vật trong tác phẩm văn học nói riêng. Có lẽ vì thế, dạng thức câu hỏi thu 12 hút được sự quan tâm chú ý của nhiều nhà ngôn ngữ, đây cũng là nguyên nhân dẫn đến nhiều quan điểm, nhiều cách đánh giá, nhận diện, phân loại khác nhau về câu hỏi. Chúng tôi sử dụng thuật ngữ “câu hỏi” theo cách gọi truyền thống.
Nó trước hết dùng dé hỏi những điều chưa biết, vì thế nghiên cứu câu hỏi thì cũng có nghĩa là đề cập đến vai trò nhận thức của con người, đây là một quá trình phức tạp. Bất cứ ngôn ngữ nao cũng có câu hỏi, và mục đích chính là dùng dé hỏi. Nhưng câu hỏi không chỉ yêu câu trả lời mà trong giao tiếp ngôn ngữ câu hỏi còn dé thé hiện một lời chào, sự mia mai, trách móc, khang định, phủ định hoặc có thé hỏi dé khuyên nhủ, hỏi dé lang tránh câu trả lời, hỏi để gây nên một trạng thái cảm xúc nào đó. Đặc điểm về hình thức của câu hỏi Theo Bách khoa thư ngôn ngữ học do William Bright chủ biên (1992) thì câu hỏi trong các ngôn ngữ thường có đặc trưng hình thức phổ biến là: - Ngữ điệu lên giọng ở cuối câu với câu hỏi có — không.
- Các từ nghi vẫn đứng ở vị trí đầu câu hoặc đứng ở vị trí trước động từ. - Đảo vi trí cua động từ làm vi ngữ đứng sau chủ ngữ trong câu tường thuật lên trước chủ ngữ trong câu hỏi. Việc đảo trật tự này chỉ xảy ra trong các ngôn ngữ có hiện tượng đảo trật tự từ trong các câu hỏi đặc biệt mà trong các câu hỏi ay có từ nghi vấn đứng ở đầu câu. Đặc điểm về nội dung của câu hỏi Theo Bách khoa thư ngôn ngữ học do William Bright chủ biên thì câu hỏi là một loại câu có cấu trúc phổ quát, và có ít nhất một chức năng phổ quát là nhằm cung cấp một lượng thông tin nào đó.
Xét về mặt ngữ nghĩa câu hỏi khác câu tường thuật đó là chúng không thê là chân thực hay không chân thực, là hành động ngôn ngữ câu hỏi giống với câu mệnh lệnh là chúng cần phải có phản ứng đáp lại nào đó. Ngoài yêu cầu cung cấp lượng thông tin, câu hỏi có thể có một số chức năng khác nữa, câu hỏi có thể dùng như những yêu câu gián tiêp mà không cân câu trả lời băng ngôn từ.