Chương 1: Chúng tôi sẽ đi vào các lý thuyết nền tảng, ẩn dụ theo quan niệm truyền thống, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, đặc điểm ngôn ngữ văn chương. Chương 2: Qua quá trình khảo sát 74 truyện ngắn trong 7 tập truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, chúng tôi sẽ đưa ra số liệu, ngữ liệu về ân dụ ĐỜI NGƯỜI. Sau đó chúng tôi tiến hành phân tích làm rõ ân dụ và cơ sở hình thành ân dụ ĐỜI NGƯỜI. Chương 3: Dựa trên kết quả khảo sát, chúng tôi cũng sẽ đưa ra số liệu, ngữ liệu về ấn dụ TÌNH YÊU.
Sau đó, chúng tôi tiến hành phân tích làm rõ ẩn dụ và cơ sở hình thành an du TINH YEU. An dụ và ấn dụ tri nhận 1. An dy theo quan niệm truyền thống. Khái niệm Ân dụ là phương thức chuyển nghĩa phổ biến trong tất cả các ngôn ngữ.
Theo Aristotle, ẩn dụ là phương thức chuyển đồi tên gọi. Từ những khái niệm cơ bản được Aristotle khai sáng đã có rất nhiều công trình kế tục và đạt được những thành tựu đáng kể. Có thẻ nói, đây là phương thức chuyên nghĩa quan trọng nhất tạo nên hiện tượng biến đôi ý nghĩa của từ. Đó là phép sử dụng từ ngữ dựa trên cơ sở tương đồng giữa một thuộc tính nào đó của cái dùng đề nói và cái muốn nói.
Nói cách khác, ân dụ là sự chuyên đổi tên gọi giữa hai sự vật có mối quan hệ tương đồng. Có nhiều quan niệm và cách phân loại khác nhau về ân dụ. ~ Củ Đình Tú nhận định ấn dụ là *cách cá nhân lâm thời lắy tên gọi biểu thị đối tượng này dùng để biểu thị đối tượng kia dựa trên cơ sở của mối liên tưởng về nét tương đồng giữa hai đối tượng” [S3, tr.279], ~ Đỗ Hữu Châu cũng đưa ra nhận định: *Ấn dụ là cách gọi tên một sự vat này bằng tên một sự vật khác, giữa chúng có mới quan hệ tương đông” [3, tr54] ~ Theo Đinh Trọng Lạc, ân dụ là “sự định danh thứ hai mang ý nghĩa hình tượng, dựa trên sự tương đông hay giống nhau giữa khách thể A được định danh với khách thể B có tên gọi được chuyển sang dùng cho 4” [32, tr. 52] ~ Nguyễn Thiện Giáp cũng cho rằng: “Ấn dự là sự chuyển đổi tên gọi dựa.
vào sự giống nhau giữa các sự vật hoặc hiện tượng được so sánh với nhau”.162] Mặc dù những nhận định không giống nhau hoàn toàn nhưng hẳu hết các nhận định đều có chung những đặc điềm sau: quan tâm đến sự giống nhau nào đó của sự vật hiện tượng; An dụ từ vựng tạo ra nghĩa mới của từ và nghĩa này có liên hệ với nghĩa gốc hay nghĩa chuyển trước đó, là một nghĩa của từ đa nghĩa; ẩn dụ tu từ ra các nghĩa. lâm thời gắn với hoàn cảnh sử dụng cụ thể nhằm diễn đạt được hiệu quả tu từ. Các đặc điểm này được sử dụng nhiều trong việc nghiên cứu hệ thống ân dụ trong thi ca. Nó được xem là một công cụ trong phong cách học 1.
Phân loại Trong lý thuyết ngôn ngữ học truyền thống có nhiều cách phân loại ân dụ. Nhiing cơ sở khác nhau sẽ có các kiểu, loại an dụ khác nhau ~ Tác giả Cù Đình Tú [S3] dựa trên cơ sở tương đồng phân loại an dụ tiếng Việt ra làm năm loại: tương đồng về màu sắc, tương đồng về tính chất, tương đồng về trạng thái, tương đồng về hành động, tương đồng về cơ cấu. - Theo Đỗ Hữu Châu Từ vựng - Ngữ nghĩa tiếng Liệt [4 tr.134, 135] có sự phân loại như sau: Ân dụ hình thứ „ Ấn dụ vị trí, ẩn dụ cách thi , ấn dụ chức năng, an dụ kết quả. - Theo Đỉnh Trọng Lạc [32] căn cứ vào từ loại và chức năng định danh của từ ẩn dụ, chia làm ba loại: ân dụ định danh, ẩn dụ nhận thức và ân dụ hình tượng.
~ Theo Nguyễn Thiện Giáp — Từ vựng học tiếng Việt [19, tr.163, 164]: Ân dụ có sự giống nhau về hình thức, ân dụ có sự giống nhau về chức năng, an dụ từ cụ thể đến trừu tượng, chuyển tên các con vật thành con người, chuyển tính chất của sinh vật sang sự vật hoặc hiện tượng khác. Sự phân loại trên, khi dựa vào chức năng, đều chia thành ấn dụ từ vựng và ân dụ tu từ. Ấn dụ từ vựng là phương thức phát triển nghĩa mới của từ, trong đó nghĩa mới tạo thành là một ý nghĩa từ vựng ổn định chứ không lâm thời. Nhìn chung ẩn dụ từ vựng là sự chuyển nghĩa mang tính chất xã hội, ôn định và có định.
Bên cạnh ân dụ từ vựng là ân dụ tu từ cũng được sử dụng phô biến và rộng rãi. Ấn dụ tu từ có tính chat lâm thời làm tăng giá trị nghệ thuật trong các văn bản nghệ thuật 10 1. An dụ tri nhận. Khái lược về ẫn dụ trỉ nhận Trước Lakoff và Johnson, Black đã nhận ra phép ẩn dụ không chỉ là một cách diễn đạt ý tưởng bằng phương tiện lời nói, mà là một cách tư duy về mọi vấn đề [S6, tr.
Thuyết tương tác của ông đã mở rộng giải thích về ân dụ. Black cho rằng một ẩn dụ được tạo thành từ việc chúng ta “lựa chọn, nhắn mạnh, loại trừ, và 16 chức các đặc điểm của chủ thể chính bằng những câu ám chỉ về nó mà chúng ta thường áp dụng. cho các chủ thể phụ” [56, tr. Quan niệm của Black đã đưa ẩn dụ từ cấp độ từ ngữ lên cấp độ tư duy, phép ẩn dụ giữ nhiệm vụ như một phương tiện tri nhận.
Lakoff va Johnson véi cuén Metaphors We live by đã đưa ra một hướng nghiên cứu mới về ân dụ. Hai ông quan niệm: “ẩn dụ xuyên suốt đời sống của chúng ta và không chỉ thể hiện ở ngôn ngữ mà còn cả tr duy và hành động. Hệ thống ÿ niệm thường nhật của chúng ta, mà thông qua đó, chúng ta tư duy và hành động, về thực chất mang tính chất ẩn dụ. Hai tác giả này cho rằng ẩn dụ là một hoạt động thường xuyên của tư duy và ẩn dụ xuất hiện hằng ngày của chúng ta.
Chẳng hạn, Lakoff va Johnson [68] tả mối quan hệ giữa hai người yêu nhau như sau: “Mối quan hệ đã đi vào ngõ cụt”. Trong trường hợp này, TÌNH YÊU đã được ý niệm hóa thành một HÀNH TRÌNH. Miền ý niệm NGUÔN trong trường hợp này là HÀNH TRÌNH và miền ý niệm ĐÍCH là TÌNH YÊU. Điều này có nghĩa là các thành tố trong miễn ý niệm tình yêu như đôi tình nhân, mục tiêu chung của họ, những khó khăn họ gặp phải,.
sẽ có mối liên hệ với các. thành tố tương ứng trong hành trình như: những người du hành, đích đến của hành trình, những trở ngại dọc đường, Ân dụ tri nhận (conceptual metaphor) la m6t trong nhiing hinh thức ý niệm hóa, có chức năng biêu hiện và hình thành những ý niệm mới, tri thức mới. Ấn dụ tri nhận nghiên cứu năng lực nắm bắt và tạo nên sự giống nhau giữa những cá thể và những lớp đối tượng khác nhau của con người trong một không gian tư duy phức tạp. Trong quá trình nhận thức, con người luôn xác lập mối quan hệ tương quan từ cái cụ thê đến cái trừu tượng, từ không gian tư duy quan sát trực tiếp được chuyên sang không gian quan sát gián tiếp.
Như vậy, ngôn ngữ không chỉ xảy ra trong phạm vi ngôn ngữ mà ở cả pham vi tư duy. Ngôn ngữ học tri nhận đang muốn đưa lại một bức tranh mới sáng tỏ và sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ - một phạm trù vốn nằm trong chính bản chất nhận thức của ngôn ngữ. Trong hai biểu vật X và Y được tư duy nếu là tương đồng thì những đặc điểm, thuộc tính của X cũng có thể gán cho Y và ngược lại. Hai yếu tố cơ bản để tạo thành một ân dụ tri nhận là miền nguồn và miền đích.
Trong đó, miền nguồn là miền có tính cu thé, gần gũi trong cuộc sống thường ngày. Miền đích là miền được tri nhận thông qua miền nguồn. Kövecses đã mô tả phép ẩn dụ như sau: “7rong ẩn dụ tri nhận, một miễn được dùng đề hiểu một miền khác. Chúng ta có gắng hiểu miễn đích bằng những đặc tính của một miền khác, miền đó gọi là miễn nguồn”[65, tr.14] Ông cũng đã đưa ra ví dụ cho ấn dụ ĐỜI NGƯỜI LÀ CUỘC HANH TRÌNH: Anh dy cé một sự khởi đâu trong cuộc sóng (He had a head start in life).
Trong an du trên, đặc tính của miền nguồn HÀNH TRÌNH được phóng chiếu sang miền đích ĐỜI NGƯỜI. Hành trình có sự khởi đầu, quá trình đi, kết thúc, gặp chướng ngại vật,.tương ứng đời người cũng có giai đoạn bắt đầu, quá trình sống, kết thúc hay những lúc gặp khó khăn, Theo lý thuyết của khoa học tri nhận, “ẩn dụ ứri nhận là sự “chuyển di” (tranfer) hay một sự “ánh xạ” (mapping) cấu trúc các quan hệ nội tại của một lĩnh vực hay một mô hình trì nhận nguồn sang một lĩnh vực hay một mô hình tri nhận đích” [41, tr25]. Ân dụ trí nhận về bản chất là một trong những hình thức ý niệm hóa với mục đích tạo ra những ý niệm mới hoặc làm sáng tỏ hơn những ý niệm mới trên nền tảng văn hóa và tri thức kinh nghiệm của người bản ngữ. Trên cơ sở tri nhận những điểm giống nhau của đối tượng, ân dụ tri nhận được xem như việc hiểu biết đối tượng, này thông qua một đối tượng khác.
Chẳng hạn, do đồng nhất hóa thời gian là tiền bạc, nên rắt nhiều đặc diém von chỉ của tiền bạc đã có thể được gán ghép cho thời gian và được dùng đề nói về thời gian. Chúng ta có thể thấy cách sử dụng: lãng phí ziên bạc — lãng phí thời gian, tiết 12 kiệm điển bạc - tiết kiệm ¿hởi gian, mắt điển — mắt thời gian, dành tiền cho con, dành. thời gian cho con,. Hay một ví dụ khác, do ta đồng nhất thời gian với dòng nước hay dòng sông (Thời gian là đòng sông), cho nên những gì nói về dòng nước hay dòng, sông được dùng để nói về thời gian : đhởi gian trôi, ngược dòng thời gian, Ấn dụ tri nhận mang dấu ấn cá nhân của người sáng tạo lẫn người luận giải.
Theo Mai Thị Kiều Phượng “Chính sự đông nhất hóa các hiện tượng thiên nhiên, động vật, thực vật, vật thể nhân tạo với con người đã làm cơ sở cho hàng loạt hiện tượng nhân hỏa trong văn thơ nói chung.