Giáo trình Cơ sở ngữ dụng học Tập 1 - GS.TS Đỗ Hữu Châu NXB ĐH Sư Phạm

Dưới đây là meta tags cho bài viết "Giáo trình cơ sở ngữ dụng học tập 1 đỗ hữu châu": { "ai_description": "Giáo trình cơ sở ngữ dụng học tập 1 đỗ hữu châu

Trường đại học

Đại học Sư phạm

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình

2002

416
0
0

Phí lưu trữ

75 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về giáo trình cơ sở ngữ dụng học tập 1 Đỗ Hữu Châu

Giáo trình Cơ sở ngữ dụng học tập 1 của GS.TS Đỗ Hữu Châu là tài liệu chuyên ngành quan trọng trong lĩnh vực ngôn ngữ học tại Việt Nam. Xuất bản năm 2002, tác phẩm ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu nghiên cứu và giảng dạy ngữ dụng học ở bậc đại học, sau đại học và chương trình tiếng Việt các cấp học. Tác giả khẳng định ngữ dụng học là chuyên ngành nghiên cứu ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp, tập trung vào mối quan hệ giữa ngôn ngữ, người sử dụng và bối cảnh xã hội. Giáo trình cung cấp nền tảng lý thuyết vững chắc, bao gồm các khái niệm cơ bản về tín hiệu học, nghĩa học, dụng học và mối quan hệ giữa chúng. Đây là công trình có ý nghĩa thúc đẩy sự phát triển của ngữ dụng học Việt Nam, góp phần hiện đại hóa chương trình giảng dạy ngôn ngữ học trong hệ thống giáo dục quốc dân.

1.1. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi ứng dụng

Ngữ dụng học nghiên cứu ngôn ngữ dưới góc độ hoạt động giao tiếp, bao gồm các yếu tố ngữ cảnh, mục đích giao tiếp và tác động qua lại giữa người nói người nghe. Giáo trình tập trung vào ba chiều quan trọng của tín hiệu ngôn ngữ: chiều nghĩa học (quan hệ giữa tín hiệu và đối tượng được biểu thị), chiều dụng học (quan hệ giữa tín hiệu và người sử dụng), cùng chiều kết học (quan hệ giữa các tín hiệu trong hệ thống). Phạm vi ứng dụng của giáo trình bao gồm chương trình đào tạo cử nhân, thạc sĩ ngành Ngữ văn, chương trình tiếng Việt từ tiểu học đến trung học phổ thông, góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy ngôn ngữ học.

1.2. Điểm mới và đóng góp của giáo trình

Giáo trình thể hiện sự kế thừa và phát triển các lý thuyết ngữ dụng học đương đại, đặc biệt là những đóng góp của F. de Saussure về tín hiệu học và Morris về hệ thống tín hiệu. Tác giả đã hệ thống hóa các khái niệm phức tạp thành những nội dung dễ tiếp cận, phù hợp với bối cảnh giáo dục Việt Nam. Điểm mới nổi bật là việc tích hợp lý thuyết vào thực tiễn giảng dạy, tạo điều kiện cho sinh viên tiếp cận ngôn ngữ học ứng dụng. Giáo trình cũng phản ánh xu hướng phát triển toàn cầu của ngữ dụng học thông qua việc giới thiệu các hội nghị quốc tế và tạp chí chuyên ngành.

II. Phân tích các vấn đề nền tảng trong ngữ dụng học

Giáo trình Cơ sở ngữ dụng học tập 1 của Đỗ Hữu Châu đề cập đến những vấn đề cốt lõi trong ngôn ngữ học đương đại, đặc biệt là sự đối lập giữa ngôn ngữ học miêu tả và ngôn ngữ học lý thuyết. Tác giả phân tích sự hạn chế của quan điểm nội tại luận trong ngôn ngữ học miêu tả, vốn tách biệt ngôn ngữ khỏi hoạt động giao tiếp thực tế. Giáo trình nhấn mạnh tầm quan trọng của ngữ dụng học trong việc giải thích các hiện tượng ngôn ngữ như hàm ý, ngụ ý và các chiến lược giao tiếp. Ngoài ra, tác giả cũng chỉ ra những hạn chế của ngữ pháp tạo sinh khi loại trừ yếu tố tâm lý cá nhân khỏi nghiên cứu ngôn ngữ. Vấn đề trọng tâm là mối quan hệ biện chứng giữa hệ thống ngôn ngữ (langue) và hoạt động ngôn ngữ (parole) theo quan điểm của de Saussure.

2.1. Sự đối lập giữa ngôn ngữ học miêu tả và ngữ dụng học

Ngôn ngữ học miêu tả nghiên cứu ngôn ngữ như một hệ thống tĩnh tại, tách rời khỏi hoạt động giao tiếp, trong khi ngữ dụng học tập trung vào ngôn ngữ trong bối cảnh thực tế. Giáo trình phân tích sự đối lập này thông qua ví dụ về ngôn ngữ học miêu tả thế kỷ XX, vốn chỉ quan tâm đến cấu trúc ngôn ngữ mà bỏ qua yếu tố người sử dụng. Tác giả chỉ ra rằng ngữ dụng học đã khắc phục hạn chế này bằng cách nghiên cứu ngôn ngữ như một hoạt động xã hội, nơi các yếu tố ngữ cảnh, mục đích giao tiếp và tương tác xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nghĩa.

2.2. Hạn chế của ngữ pháp tạo sinh trong nghiên cứu ngôn ngữ

Ngữ pháp tạo sinh của Chomsky tập trung vào ngữ năng của người nói lý tưởng, loại trừ các yếu tố tâm lý cá nhân khỏi nghiên cứu ngôn ngữ. Giáo trình chỉ ra rằng quan điểm này không phản ánh đầy đủ bản chất xã hội của ngôn ngữ, vốn luôn chịu ảnh hưởng bởi bối cảnh giao tiếp. Tác giả nhấn mạnh rằng ngôn ngữ không thể tách rời khỏi hoạt động giao tiếp thực tế, nơi các yếu tố như tâm trạng, động cơ và mối quan hệ xã hội đóng vai trò quyết định trong việc tạo nghĩa. Sự phê phán này giúp người học hiểu rõ hơn về giới hạn của lý thuyết ngôn ngữ học đương đại.

III. Phương pháp tiếp cận ngữ dụng học trong giáo trình

Giáo trình Cơ sở ngữ dụng học tập 1 trình bày phương pháp tiếp cận ngữ dụng học thông qua hệ thống ba chiều của tín hiệu học: chiều nghĩa học, chiều dụng học và chiều kết học. Tác giả giải thích cách thức các tín hiệu ngôn ngữ tương tác với nhau và với người sử dụng trong quá trình giao tiếp. Giáo trình cung cấp các ví dụ minh họa về cách thức ngôn ngữ được sử dụng trong các tình huống giao tiếp khác nhau, từ giao tiếp hàng ngày đến các tình huống trang trọng. Phương pháp tiếp cận này giúp sinh viên hiểu rõ bản chất xã hội của ngôn ngữ và vai trò của ngữ dụng học trong việc giải thích các hiện tượng ngôn ngữ phức tạp như hàm ý, ám chỉ và chiến lược giao tiếp.

3.1. Hệ thống ba chiều trong tín hiệu học

Chiều nghĩa học nghiên cứu mối quan hệ giữa tín hiệu ngôn ngữ và đối tượng được biểu thị, trong khi chiều dụng học tập trung vào mối quan hệ giữa tín hiệu và người sử dụng. Chiều kết học quan tâm đến mối quan hệ giữa các tín hiệu trong hệ thống ngôn ngữ. Giáo trình giải thích cách thức ba chiều này tương tác với nhau trong quá trình tạo nghĩa. Ví dụ, từ 'ma' có thể được hiểu khác nhau tùy thuộc vào bối cảnh giao tiếp, minh họa cho sự tương tác giữa chiều nghĩa học (ý nghĩa từ vựng) và chiều dụng học (mục đích giao tiếp).

3.2. Ứng dụng trong giảng dạy và nghiên cứu

Giáo trình cung cấp các phương pháp giảng dạy ngữ dụng học thông qua các bài tập thực hành, phân tích tình huống giao tiếp và nghiên cứu trường hợp. Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp lý thuyết với thực hành trong giảng dạy ngôn ngữ học. Giáo trình cũng giới thiệu các công cụ nghiên cứu ngữ dụng học hiện đại, bao gồm phân tích diễn ngôn, nghiên cứu tình huống và phân tích tương tác. Những phương pháp này giúp sinh viên phát triển kỹ năng phân tích ngôn ngữ trong bối cảnh giao tiếp thực tế.

IV. Kết luận và ứng dụng giáo trình trong đào tạo

Giáo trình Cơ sở ngữ dụng học tập 1 của Đỗ Hữu Châu đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho lĩnh vực ngôn ngữ học tại Việt Nam. Tác phẩm không chỉ cung cấp nền tảng lý thuyết vững chắc mà còn định hướng nghiên cứu ứng dụng ngữ dụng học trong giảng dạy tiếng Việt. Giáo trình đã góp phần hiện đại hóa chương trình đào tạo ngôn ngữ học, từ bậc đại học đến sau đại học, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của ngữ dụng học Việt Nam. Những đóng góp của tác giả trong việc hệ thống hóa lý thuyết và kết nối với thực tiễn giáo dục đã tạo tiền đề cho các nghiên cứu sâu hơn về ngôn ngữ học ứng dụng.

4.1. Đánh giá đóng góp của giáo trình

Giáo trình đã đáp ứng nhu cầu cấp thiết về tài liệu tham khảo chất lượng cao trong lĩnh vực ngữ dụng học tại Việt Nam. Tác giả đã thành công trong việc kết hợp lý thuyết ngôn ngữ học đương đại với bối cảnh giáo dục Việt Nam, tạo điều kiện cho sinh viên tiếp cận các khái niệm phức tạp một cách dễ dàng. Điểm nổi bật là việc tích hợp các ví dụ thực tế và bài tập ứng dụng, giúp sinh viên phát triển kỹ năng phân tích ngôn ngữ trong bối cảnh giao tiếp. Giáo trình cũng góp phần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của ngữ dụng học trong việc đổi mới chương trình giảng dạy ngôn ngữ học.

4.2. Định hướng phát triển ngữ dụng học Việt Nam

Giáo trình đặt nền móng cho các nghiên cứu sâu hơn về ngữ dụng học tại Việt Nam thông qua việc giới thiệu các lý thuyết tiên tiến và phương pháp nghiên cứu hiện đại. Tác giả khuyến khích các nhà nghiên cứu Việt Nam tiếp tục phát triển ngữ dụng học theo hướng ứng dụng, đặc biệt là trong lĩnh vực giảng dạy tiếng Việt và đào tạo giáo viên. Giáo trình cũng mở ra hướng nghiên cứu mới về mối quan hệ giữa ngôn ngữ học và các lĩnh vực khoa học xã hội khác, góp phần nâng cao vị thế của ngữ dụng học trong hệ thống khoa học Việt Nam.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

20/05/2026
Giáo trình cơ sở ngữ dụng học tập 1 đỗ hữu châu

Trích đoạn nội dung tài liệu

TS ĐỖ HỮU CHÂU Cơ SỞ NGỮ DỤNG HỌC TÂPI TailieuVNU.com Tổng hợp & Sưu tầm NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC s ư PHẠM LỜI NÓI ĐẦU N gữ dụng học - một chuyên ngành mới của ngôn ngữ học quan tâm chủ yếu đến ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp và tác động qua lại giữa hoạt động giao tiếp và ngôn ngữ - tuy vào Việt N am chưa lâu nhưng đã có được một vị trí xứng đáng trong Việt ngữ học. Các chương trình ngôn ngữ học ở các trường đại học Việt Nam, k ể cả các trường Đại học ngoại ngữ, các chương trình thạc sĩ và tiến sĩ ngữ văn đều có ngữ dụng học. Đã có khá nhiều luận văn cử nhân, thạc sĩ và luận án tiến sĩ N gữ Văn về ngữ dụng học bảo vệ thành công. Hơn th ế nữa, một số tư tưởng và khái niệm ngữ dụng học đã được đưa vào chương trinh tiếng Việt ở các bậc học dưới đại học, từ Tiểu học đến Trung học p h ổ thông, góp phần đổi mới môn học này.

Đã có một s ố công trình ít ỏi xuất bản ở Việt N am giới thiệu một cách đủ tin cậy những căn bản có tính dẫn luận về ngữ dụng học. Đến lúc cần những công trình viết về ngữ dụng học có tầm bao quát vân đề rộng hơn, có độ sâu lý thuyết triệt đ ể hơn ngõ hầu phản ánh được trạng thái p h á t triển hiện nay của ngữ dụng học thê giới. N hững công trinh như vậy ít nhiều sẽ có tác dụng thúc đẩy ngữ dụng học Việt N am p h á t triển m ạnh hơn, cố gắng tiến kịp với ngữ dụng học th ế giới. Được sự khuyến khích của trường Đại học sư phạm Hà Nội, 3 công trình "Cơ SỞ NGỮ DỤNG HỌC" này được viết ra nhằm đáp ứng mục tiêu trên đây.

Các tác phẩm nước ngoài viết về ngữ dụng học quá lớn về sốlượng và không dễ tiếp nhận về nội dung. Chắc chắn là, dù có cố gắng đến đâu cuốn sách này củng không thể thâu tóm được tất cả những điều thiết yếu về ngữ dụng học được thảo luận hiện nay trên diễn đàn ngôn ngữ học các nước. Rất mong được nhận những góp ý của các nhà ngôn ngữ học và ngữ dụng học Việt Nam. Hà Nội, ngày 11 tháng 11 năm 2002 Tác giả GS.TS ĐỖ HŨU CHÂU 4 CHƯƠNG THỨI NHŨNG GIỚI HẠN CỦA NGÔN NGỮ HỌC MIÊU TẢ NỬA ĐẦU THÊ KỶ XX T huật ngữ ngôn ngữ học miêu tả dùng để chỉ'"ngôn ngữ học của ngôn ngữ" hiểu theo cách hiểu của F.

De Saussure có đối tượng nghiên cứu là ngôn ngữ độc lập với hoạt động của nó và với lòi nói, có nhiệm vụ phát hiện ra các đặc điểm của ngôn ngữ ở một trạng thái được xem là tĩnh tại trong một thời kỳ nhất định của lịch sử. Thường được xem là các phân ngành của ngôn ngữ học miêu tả là ngữ âm học, âm vị học, hình thái học, từ vựng học, ngữ pháp học, ngữ nghĩa học (miêu tả). Từ 1970 tới nay, ngữ dụng học được th ế giới ngôn ngữ học quan tâm đặc biệt rộng rãi. Đã có bôn hội nghị quốc tế về ngữ dụng học, năm 1985 ở Viareggio (Ý), năm 1987 ở Anvers (Bỉ) năm 1990 ở Barcelona (Tây Ban Nha) và năm 1993 ở Kobe (Nhật).

Hiệp hội Ngữ dụng học Quốc tế (International Pragm atics Association - viết tắ t IPrA) được thành lập năm 1985. Tạp chí Ngữ dụng học (Journal of Pragmatics) một tạp chí quốc tế về ngữ dụng học ra đời năm 1977, sô" trang in 400 những năm đầu tăng lên đến 1200 năm 1993 và sô' phát hành tăng từ 4 sô?năm lên đến 12 sô7năm. Ngoài ra không 5 thể kể hết các chuyên khảo, các công trình nghiên cứu, các luận án về ngữ dụng học lý thuyết và cụ thể ở hầu hết các nước có đào tạo đại học về ngôn ngữ học trên thê giới. Geoffrey Leech năm 1983 đã nhận xét rằng 15 năm trước (trước 1983) ngữ dụng học hầu như không được các nhà ngôn ngữ học nhắc đến, mà nếu có nhắc đến thì cũng chỉ với tư cách là một thứ "sọt rác", một thứ W aste-paper basket, như cách nói của nhà toán học và triết học ngôn ngữ Bar-Hillềl.

Ớ thời đó, người ta cho rằng ngữ dụng học sẽ th u nhận những cái gì còn thừa ra của ngữ nghĩa học giống hệt như ngữ nghĩa học trước đó một thập kỷ, được giao nhiệm vụ giải thích tấ t cả những cái mà cú pháp tạo sinh không xử lý nổi. Hiện nay thì ngữ dụng học đã đàng hoàng là một phân ngành của ngôn ngữ học. Trong lịch sử ngôn ngữ học th ế giới, hiếm thấy một phân ngành nào trong một thời gian ngắn lại ph át triển nhanh đến thế. Tuy cũng là một phân ngành của ngôn ngữ học nhưng ngữ dụng học có vị trí khá đặc biệt, không giống như các chuyên ngành "kinh điển" khác đã nhắc qua ở trên của ngôn ngữ học lý thuyết cũng như ngôn ngữ học cụ thể.

Những hạn chế của ngôn ngữ học m iêu tả nửa đầu th ế kỷ XX (từ đấy trở đi sẽ gọi tắ t là ngôn ngữ học tiền - dụng học - TDH) trìn h bày sau đây sẽ làm rõ cái vị trí đặc biệt này của ngữ dụng học. HẠN CHÊ TRONG NHŨNG LUẬN ĐIỂM c ủ a FERDINAND DE SAUSSURE VỂ NGÔN NGỮ F. De Sausure (1857-1913), nhà ngôn ngữ học Thụy Sĩ, từ 6 1907 đến 1911 trình bày ba chuyên đề về ngôn ngữ học đại cương tại Trường Đại học Tổng hợp Genève. Sau khi ông mất Ch.

Bally và Sechehaye - hai nhà ngôn ngữ học lớn, đồng nghiệp của ông đã tập hợp các chuyên đề đó lại, cho xuất bản thành tác phẩm với nhan đề "Cours de linguistique générale" (Giáo trình ngôn ngữ học đại cương - GT) ở Lausane và Paris năm 1916. Có thể không phản ánh hoàn toàn đúng các ý kiến của F. De Sausure nhưng chính tác phẩm này đã làm cho tư tưởng của ông phổ biến rộng rãi trên toàn thê giới. Những luận điểm về ngôn ngữ và ngôn ngữ học, đặc biệt là bôn luận điểm sau đây trình bày trong GT được xem là nền tảng lý luận trên đó xây dựng nên ngôn ngữ học TDH, đặc biệt là ngôn ngữ học cấu trúc luận cho đến những năm 1950.

Vối những luận điểm đó, F. De Saussure được tôn vinh một cách xứng đáng là "cha đẻ của ngôn ngữ học hiện đại". Bôn luận điểm đó là: - Luận điểm về sự đôi lập tuyệt đối hoá giữa ngôn ngữ và lòi nói. - Luận điểm về sự đối lập tuyệt đối hoá giữa m ặt "nội tại" và m ặt "ngoại tại" của hệ thông ngôn ngữ, gọi tắ t là luận điểm về tính nội tại của hệ thông ngôn ngữ.

- Luận điểm về sự đối lập tuyệt đối hoá giữa thể chất và cấu trúc của ngôn ngữ. - Luận điểm về sự đối lập tuyệt đối hoá trạng thái ngôn ngữ đồng đại vối sự biến đổi của ngôn ngữ trong thời gian cũng tức là sự đối lập tuyệt đối hoá ngôn ngữ học tĩnh trạng với ngôn ngữ học lịch sử. Bôn luận điểm trên không hoàn toàn tách rời nhau luận 7 điểm này dường như là hệ quả của luận điểm kia và ba luận điểm sau là hệ quả lô gích của luận điểm thứ nhất: tuyệt đôi hoá đối lập ngôn ngữ và lời nói. Nói theo Paul Ricoeur thì "Mỗi một phương châm (tức luận điểm - ĐHC) mà chúng ta vừa kể ra vừa là một cái được vừa là một cái mất"(26).

Chúng ta hãy lần lượt xem xét từng luận điểm. l ể Luận điểm về sự đối lập tu y ệt đối h oá giữa ngôn ngữ và lời nói Sự thực thì F. De Saussure nêu ra không phải là hai mà là ba "thực thể": Ngôn ngữ (langue) hoạt động ngôn ngữ (langage) và lời nói (parole). Khái niệm hoạt động ngôn ngữ trong GT không tương đồng với khái niệm này trong cách hiểu hiện nay.

Theo cách hiểu hiện nay thì hoạt động ngôn ngữ là hoạt động của con người sử dụng ngôn ngữ của mình nhằm thực hiện các chức năng xã hội của chính ngôn ngữ, chủ yếu là chức năng giao tiếp và chức năng làm công cụ tứ duy trừ u tượng. Nếu tạm gạt con người ra thì hoạt động ngôn ngữ là vận động của chính ngôn ngữ khi nó thực hiện các chức năng xã hội. Với cách hiểu này thì hoạt động ngôn ngữ trùng với khái niệm hành chức (fonctionnement) của ngôn ngữ. Trong GT, thì "Hoạt động ngôn ngữ vốn đa dạng và kỳ lạ; nó đã cưỡi lên nhiều lĩnh vực, vừa vật; lý, vừa sinh lý, vừa tâm lý, lại còn liên quan lĩnh vực cá nhân, lĩnh vực xã hội nữa; không thể đem xếp nó vào một phạm trù nào của các sự kiện nhân loại, vì ngưòi ta không biết làm th ế nào để xác định tính thống n h ất của nó" (GT; 31).

Khái niệm hoạt động ngôn ngữ trong GT như chúng ta thấy trong đoạn trích trên, không lấy gì làm ràn h mạch cho lắm, chính GT cũng đã viết: 8 "(Trong khi) hoạt động ngôn ngữ có tính chất không thuần nhất" (GT; 38); "Nó (ngôn ngữ - ĐHC) là một đôi tượng tách bạch trong cái mớ hỗn tạp những sự kiện của hoạt động ngôn ngủ" (GT; 38). Có thể thấy GT đã không quan tâm lắm đến việc phân lập các nhân tô nằm trong "cái mớ hỗn tạp. những sự kiện không thuần nhất. của hoạt động ngôn ngữ" trừ việc khảng định rằng trong hoạt động ngôn ngữ có sự phân biệt giữa ngôn ngủ và lời nói.

"Vậy việc nghiên cứu hoạt động ngôn ngữ gồm có hai bộ phận: bộ phận thứ nhất, bộ phận chủ yếu, thì đối tượng là ngôn ngữ, vốn có tính chất xã hội tự bản chất và vốn độc lập với cá nhân., bộ phận thứ hai, bộ phận thứ yếu thì đốĩ tượng là phần cá nhân trong hoạt động ngôn ngữ, nghĩa là lời nói (chúng tôi gạch dưối - ĐHC) trong đó có cả quá trình phát âm" (GT: 44). Nêu khái niệm hoạt động ngôn ngữ ra, F. De Saussure nhằm định vị ngôn ngữ để rồi gạt ngay nó (hoạt động ngôn ngữ) ra khỏi ngôn ngữ học, ra khỏi đổi tượng của ngôn ngữ học "không những khoa học ngôn ngữ không cần đến các yếu tố khác của hoạt động ngôn ngữ. mà hơn nữa chỉ có thể có được khoa học đó nếu không có những yếu tô' ấy xen vào" (GT; 38).

Rút cục thì, trong ba khái niệm "Ngôn ngữ", "hoạt động ngôn ngữ", "lời nói" chỉ còn hai: "Ngôn ngữ" và "lời nói" là quan yếu đối với việc xác định đối tượng của ngôn ngữ học.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ