Cách sử dụng thành ngữ trong tác phẩm Võ Thị Hảo và Di Li - Luận văn thạc sĩ

Tìm hiểu cách sử dụng thành ngữ trong các tác phẩm của Võ Thị Hảo và Di Li. Phân tích sâu sắc về vai trò, ý nghĩa và tác động của thành ngữ đối với giá trị văn

Trường đại học

Trường Đại học Vinh

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

163
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về cách sử dụng thành ngữ trong tác phẩm Võ Thị Hảo

Thành ngữ là đơn vị ngôn ngữ cố định, mang tính biểu hình và biểu nghĩa cao trong tiếng Việt. Trong sáng tác văn học, thành ngữ đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường sức biểu đạt nghệ thuật. Tác phẩm của Võ Thị Hảo thể hiện cách vận dụng thành ngữ đa dạng và sáng tạo. Nhà văn sử dụng thành ngữ từ nhiều nguồn gốc khác nhau, bao gồm thành ngữ Hán Việt, thành ngữ dân gian và thành ngữ có yếu tố tự nhiên. Cách dùng thành ngữ trong tác phẩm không chỉ dừng ở dạng nguyên thể mà còn có sự biến đổi linh hoạt về cấu tạo. Sự biến đổi này giúp thành ngữ hòa nhập tự nhiên vào ngữ cảnh văn bản, đồng thời tạo nên phong cách ngôn ngữ riêng. Nghiên cứu cách sử dụng thành ngữ trong tác phẩm Võ Thị Hảo cho thấy mối quan hệ mật thiết giữa ngôn ngữ dân gian và ngôn ngữ nghệ thuật hiện đại. Thành ngữ trở thành công cụ đắc lực để nhà văn khắc họa tâm lý nhân vật, miêu tả cảnh vật và biểu đạt tư tưởng sâu sắc.

1.1. Khái niệm thành ngữ và vai trò trong sáng tác văn học

Thành ngữ được định nghĩa là tổ hợp từ cố định, quen dùng, nghĩa của thành ngữ thường là nghĩa bóng, mang tính khái quát và trừu tượng. Thành ngữ có ba đặc trưng cơ bản: tính cố định về hình thức, tính chỉnh thể về ý nghĩa và tính biểu cảm cao. Trong văn bản nghệ thuật, thành ngữ tạo nên sắc thái riêng, hàm súc cô đọng mà gần gũi đời sống. Nhà thơ, nhà văn vận dụng thành ngữ bằng nhiều hình thức khác nhau. Có khi thành ngữ xuất hiện ở dạng nguyên thể không biến đổi. Có khi được biến đổi linh hoạt để phù hợp ngữ cảnh sáng tạo.

1.2. Đặc trưng nổi bật trong cách dùng thành ngữ của Võ Thị Hảo

Võ Thị Hảo là nhà văn có phong cách ngôn ngữ độc đáo, giàu hình ảnh và biểu cảm. Cách sử dụng thành ngữ trong tác phẩm của bà thể hiện sự am hiểu sâu sắc kho tàng thành ngữ tiếng Việt. Nhà văn vận dụng thành ngữ từ nhiều nguồn gốc: Hán Việt, dân gian, tôn giáo và đời sống thường nhật. Đặc biệt, Võ Thị Hảo thường biến đổi cấu tạo thành ngữ để tạo hiệu quả nghệ thuật mới. Bà sử dụng thành ngữ với tần suất cao trong các tác phẩm truyện ngắn và tiểu thuyết. Mỗi thành ngữ đi vào tác phẩm đều mang dấu ấn cá nhân rõ nét của tác giả.

II. Phân tích nguồn gốc và cấu tạo thành ngữ trong tác phẩm

Nghiên cứu nguồn gốc thành ngữ trong tác phẩm Võ Thị Hảo cho thấy sự đa dạng đáng chú ý. Nhóm thành ngữ có nguồn gốc Hán Việt chiếm tỷ lệ lớn, phản ánh ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa trong tiếng Việt. Nhóm thành ngữ dân gian phản ánh đời sống lao động, sinh hoạt của người Việt qua nhiều thế hệ. Bên cạnh đó, một số thành ngữ xuất phát từ kinh điển Phật giáo và văn hóa phương Đông. Về cấu tạo, thành ngữ trong tác phẩm Võ Thị Hảo thể hiện nhiều dạng thức phong phú. Có thành ngữ cấu tạo theo kiểu đối xứng, tạo nhịp điệu cân bằng cho câu văn. Có thành ngữ phi đối xứng, mang sắc thái biểu đạt riêng. Sự biến đổi cấu tạo thành ngữ là đặc điểm nổi bật. Nhà văn có thể thêm bớt yếu tố, thay thế thành phần hoặc đảo thứ tự. Mục đích nhằm tạo sự mới lạ, phù hợp ngữ cảnh nghệ thuật. Phương pháp này thể hiện trình độ ngôn ngữ bậc thầy của tác giả.

2.1. Nguồn gốc thành ngữ được sử dụng trong tác phẩm

Thành ngữ trong tác phẩm Võ Thị Hảo có ba nguồn gốc chính. Thứ nhất là nhóm thành ngữ gốc Hán, như 'bách phát bách trúng', 'bán tín bán nghi'. Thứ hai là nhóm thành ngữ dân gian Việt Nam, gắn liền đời sống nông nghiệp và sinh hoạt cộng đồng. Thứ ba là nhóm thành ngữ từ kinh điển tôn giáo, chủ yếu Phật giáo. Tỷ lệ thành ngữ dân gian chiếm phần lớn, cho thấy vốn sống phong phú của nhà văn. Sự kết hợp nhiều nguồn gốc tạo nên tầng tầng lớp lớp ý nghĩa trong tác phẩm.

2.2. Cấu tạo và hình thức biến đổi thành ngữ

Về cấu tạo, thành ngữ trong tác phẩm Võ Thị Hảo phân thành hai loại chính. Loại thứ nhất là thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng, có cấu trúc cân bằng, tạo nhịp điệu hài hòa. Loại thứ hai là thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng, ít phổ biến hơn. Nhà văn còn biến đổi thành ngữ theo nhiều cách: thêm yếu tố, rút gọn, thay thế hoặc đảo vị trí. Biến đổi giúp thành ngữ hòa nhập tự nhiên vào dòng văn bản. Mỗi hình thức biến đổi đều phục vụ mục đích biểu đạt nghệ thuật cụ thể của tác giả.

III. Phương pháp phân loại chức năng ngữ pháp và ngữ nghĩa

Thành ngữ trong tác phẩm Võ Thị Hảo đảm nhận nhiều chức năng ngữ pháp khác nhau trong câu. Chức năng phổ biến nhất là vị ngữ, giúp câu văn sinh động và giàu hình ảnh. Thành ngữ cũng xuất hiện ở chức năng trạng ngữ, bổ sung ý nghĩa cho hành động. Chức năng định ngữ tạo sự miêu tả cụ thể, gợi hình cho đối tượng được nhắc đến. Xét về ngữ nghĩa, thành ngữ trong tác phẩm thuộc nhiều nhóm trường nghĩa phong phú. Nhóm trường nghĩa về tính cách con người chiếm tỷ trọng lớn. Nhóm về đời sống xã hội phản ánh hiện thực đa chiều. Nhóm về tình cảm thể hiện nội tâm nhân vật sâu sắc. Phương pháp phân loại theo chức năng ngữ pháp và trường nghĩa giúp hiểu rõ cách nhà văn khai thác kho tàng thành ngữ. Mỗi chức năng đều phục vụ mục đích nghệ thuật riêng. Sự kết hợp nhiều chức năng tạo nên tầng ý nghĩa phong phú cho tác phẩm văn học.

3.1. Chức năng ngữ pháp của thành ngữ trong văn bản

Trong tác phẩm Võ Thị Hảo, thành ngữ đảm nhận bốn chức năng ngữ pháp chính. Chức năng vị ngữ xuất hiện nhiều nhất, đóng vai trò nòng cốt trong việc xây dựng câu văn. Chức năng trạng ngữ bổ sung hoàn cảnh, thời gian cho sự kiện được kể. Chức năng định ngữ mang tính miêu tả, tạo nét đặc trưng cho nhân vật hoặc sự vật. Chức năng bổ ngữ nhấn mạnh kết quả hoặc mức độ của hành động. Sự đa dạng chức năng cho thấy khả năng vận dụng linh hoạt của nhà văn. Mỗi chức năng đều góp phần làm phong phú cấu trúc ngữ pháp trong tác phẩm.

3.2. Các nhóm trường nghĩa của thành ngữ tiêu biểu

Nghiên cứu chỉ ra nhiều nhóm trường nghĩa thành ngữ trong tác phẩm Võ Thị Hảo. Nhóm về tính cách con người bao gồm thành ngữ miêu tả phẩm chất tốt và xấu. Nhóm về đời sống xã hội phản ánh quan hệ giữa người với người. Nhóm về tình cảm thể hiện cung bậc yêu thương, hờn giận, đau khổ. Nhóm về tự nhiên miêu tả cảnh vật, thời tiết qua lăng kính ẩn dụ. Nhóm về lao động sản xuất ghi nhận đời sống thường nhật của người dân. Mỗi nhóm trường nghĩa đều có tần suất sử dụng và hiệu quả nghệ thuật riêng biệt.

IV. Kết luận và ứng dụng cách dùng thành ngữ trong sáng tác

Nghiên cứu cách sử dụng thành ngữ trong tác phẩm Võ Thị Hảo mang lại nhiều kết quả đáng giá. Thành ngữ được vận dụng đa dạng về nguồn gốc, cấu tạo và chức năng ngữ pháp. Nhà văn không đơn thuần sử dụng thành ngữ nguyên thể mà chủ động biến đổi sáng tạo. Sự biến đổi này phục vụ mục đích nghệ thuật, tạo nên phong cách ngôn ngữ độc đáo. Về ngữ nghĩa, thành ngữ trong tác phẩm thuộc nhiều nhóm trường nghĩa phong phú. Các nhóm về tính cách con người và đời sống xã hội chiếm tỷ trọng lớn nhất. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa trong nhiều lĩnh vực. Trong giảng dạy ngôn ngữ, phát hiện về cách dùng thành ngữ giúp soạn bài giảng sinh động. Trong sáng tác văn học, phương pháp biến đổi thành ngữ là bài học quý giá. Nghiên cứu cũng mở ra hướng tiếp cận mới trong phân tích phong cách ngôn ngữ nhà văn. Từ đó, giá trị nghệ thuật của thành ngữ trong văn học Việt Nam hiện đại được nhìn nhận đầy đủ hơn.

4.1. Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa học thuật

Nghiên cứu đã thống kê định lượng thành ngữ trong tác phẩm Võ Thị Hảo một cách hệ thống. Kết quả cho thấy tần suất sử dụng thành ngữ cao, phản ánh vốn ngôn ngữ phong phú. Thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng chiếm tỷ lệ áp đảo so với loại phi đối xứng. Phát hiện về sự biến đổi cấu tạo thành ngữ là đóng góp quan trọng. Ý nghĩa học thuật nằm ở việc xây dựng cơ sở lý luận phân tích phong cách ngôn ngữ. Nghi究也为越南语言学研究提供了宝贵资料。Nghiên cứu cũng đóng góp tài liệu quý cho ngôn ngữ học Việt Nam.

4.2. Ứng dụng trong giảng dạy và sáng tác văn học

Kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực. Trong giảng dạy tiếng Việt, giáo viên có thể sử dụng ví dụ từ tác phẩm Võ Thị Hảo để minh họa cách dùng thành ngữ. Học sinh, sinh viên được tiếp cận phương pháp phân tích thành ngữ khoa học. Trong sáng tác văn học, nhà văn trẻ có thể học hỏi kỹ thuật biến đổi thành ngữ. Phương pháp này giúp tăng sức biểu đạt cho câu văn mà không mất đi tính dân tộc. Nghiên cứu cũng hỗ trợ công tác biên soạn từ điển thành ngữ và giáo trình ngôn ngữ học.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Cách sử dụng thành ngữ trong tác phẩm của võ thị hảo

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Những giới thuyết liên quan đến đề tài. Chương 2: Thành ngữ trong tác phẩm của Võ Thị Hảo và Di Li xét về nguồn gốc, cấu tạo và chức năng ngữ pháp. Chương 3: Thành ngữ trong tác phẩm của Võ Thị Hảo và Di Li xét về ngữ nghĩa. 8 Chƣơng 1 NHỮNG GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.

Khái quát về thành ngữ 1. Khái niệm thành ngữ Cũng như trong tục ngữ, ca dao, dân ca, thì thành ngữ là tiếng nói quen thuộc nhất, được đúc kết từ kinh nghiệm cuộc sống, từ triết lý nhân sinh quan và thế giới quan. Từ xưa đến nay thành ngữ luôn được xem là loại hình ngôn ngữ đặc sắc, nhưng lại gần gũi với mọi tầng lớp xã hội cho nên thành ngữ thường được vận dụng một cách sáng tạo trong những câu thơ, câu văn để làm tăng thêm tính cô đọng, hàm súc, đậm đà màu sắc dân tộc. Chính vì thế, thành ngữ đã trở thành đối tượng thu hút được sự chú ý quan tâm của các nhà nghiên cứu.

Người đầu tiên trong số các nhà nghiên cứu văn học đưa ra nhận định để xác định khái niệm thành ngữ tiếng Việt là Dương Quảng Hàm. Trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu (1951), tác giả viết: “Thành ngữ là những lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn đạt một ý gì hoặc một trạng thái gì cho có màu mè”. [17, 15] Tác giả Nguyễn Văn Tu trong Từ vựng học tiếng Việt hiện đại (1968) đưa ra định nghĩa: “Thành ngữ là từ tố cố định mà các từ trong đó đã mất tính độc lập đến một trình độ cao, kết hợp làm thành một khối vững chắc, hoàn chỉnh. Nghĩa của chúng không phải do nghĩa của từng thành tố (từ) tạo ra.

Những thành ngữ này cũng có tính hình tượng hoặc cũng có thể không có. Nghĩa của chúng đã khác nghĩa của những từ nhưng cũng có thể cắt nghĩa nguyên do như từ nguyên học”. [44, 147] Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn Từ và nhận diện từ tiếng Việt (1996) đã nói rằng: “Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh về 9 nghĩa, vừa có giá trị gợi tả tính hình tượng là đặc trưng cơ bản của thành ngữ. Thành ngữ biểu thị khái niệm nào đó dựa trên những hình ảnh, những biểu tượng cụ thể.

Tính hình tượng của thành ngữ được xây dựng dựa trên cơ sở của hiện tượng so sánh và ẩn dụ”. [16, 181] Theo quan niệm của Nguyễn Hữu Quỳnh trong quyển Tiếng Việt hiện đại (1994) thì: “Thành ngữ là một cụm từ cố định có tính hoàn chỉnh về nghĩa, có sắc thái biểu cảm, có tính hình tượng và tính cụ thể. Phần lớn thành ngữ đồng nghĩa hoặc tương đương với một từ (danh từ, động từ, tính từ)”.212] Trong Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại (1976) tác giả Hồ Lê có nói rằng: “Thành ngữ là những tổ hợp từ (gồm nhiều từ hợp lại) có tính vững chắc về cấu tạo và tính bóng bẩy về ý nghĩa dùng để miêu tả một hình ảnh, một hiện tượng, một tính cách hay một trạng thái nào đó”. [27, 97] Phong cách học tiếng Việt và đặc điểm tu từ tiếng Việt (1983) của tác giả Cù Đình Tú đã khái quát về thành ngữ như sau: “Thành ngữ là những tổ hợp từ có sẵn (cụm từ cố định) trong ngôn ngữ có chức năng định danh như: từ dùng để gọi tên sự vật, tính chất, hoạt động”.

[46, 274] Theo Nguyễn Văn Hằng trong cuốn Thành ngữ bốn yếu tố trong tiếng Việt hiện đại (1999) thì: “Thành ngữ là một cụm từ đặc biệt có cấu trúc bền chặt (cố định) có vần điệu và thành phần ngữ âm đặc biệt, nghĩa của thành ngữ không chỉ suy ra từ tổng số nghĩa của các yếu tố thành ngữ. Thành ngữ có nghĩa bóng, nghĩa hình ảnh khái quát thường có kèm theo giá trị biểu cảm. Thành ngữ thường dùng để định danh những hiện tượng của hiện thực và thường hoạt động trong câu với tư cách là một bộ phận cấu thành của nó”. [23, 38] Hoàng Văn Hành trong Thành ngữ học tiếng Việt (2004) thì cho “Thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái - cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ”.

[20, 27] 10 Hay theo Từ điển tiếng Việt (2010) thì: “Thành ngữ là tập hợp từ cố định đã quen dùng mà nghĩa của nó thường không thể giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên”. [37, 1178] Hoặc theo Kiều Văn trong Tân từ điển thành ngữ tiếng Việt (2005): “Thành ngữ tiếng Việt là một tổ hợp từ ngữ cố định có cấu trúc từ hoặc câu nhưng hoàn toàn thuộc phạm trù cấp độ từ, được mã hóa, hầu hết đều có tính chất cách điệu nghệ thuật và chỉ làm một thành phần trong câu nói”. [47, 89] Cuốn Từ điển thuật ngữ văn học (2004) do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên đưa ra định nghĩa như sau: “Thành ngữ là những đoạn câu, những cụm từ sẵn có tương đối cố định, bền vững, không nhằm diễn đạt trọn một ý, một nhận xét như tục ngữ mà nhằm thể hiện một quan niệm dưới một hình thức sinh động, hấp dẫn, được sử dụng tương đương như từ nhưng là từ đã được tô điểm và nhấn mạnh nghĩa bằng sự diễn đạt sinh động, có nghệ thuật”. [18, 249] Như vậy, nhìn chung các nhà nghiên cứu đã đưa ra những cách nhìn nhận chưa thống nhất về những đặc điểm, thuộc tính của thành ngữ.

Tiếp thu ý kiến của các tác giả đi trước, chúng tôi xin đưa ra cách hiểu của mình về thành ngữ như sau: Thành ngữ là những cụm từ cố định, mang tính bền vững về cấu tạo, tính bóng bẩy về nghĩa và được sử dụng tương đương như từ. Đặc trưng thành ngữ Thành ngữ là những tổ hợp từ đặc biệt, được ví như đội quân tinh nhuệ của ngôn ngữ dân tộc, nó có chức năng định danh và được sử dụng để cấu tạo câu. Khi xét về đặc trưng của thành ngữ, ta nhận thấy thành ngữ có bốn đặc trưng cơ bản về kết cấu, về nghĩa, về sử dụng, về tính dân tộc. Đặc trưng về kết cấu Thành ngữ được hình thành cùng sự phát triển của tiếng nói dân tộc.

Thành ngữ tiếng Việt có tính ổn định, cố định về thành phần từ vựng và cấu trúc của nó. Nó vốn chỉ là một tổ hợp từ tự do. Qua thời gian dài, khi con 11 người sử dụng một cách sáng tạo, được lặp đi lặp lại, trau chuốt gọt giũa trong lời nói đã tạo nên sự chuyển đổi về ngữ nghĩa và hình thành nên những thành ngữ như ngày nay. Cũng có những thành ngữ ra đời gắn với thời hiện đại.

Thành ngữ có tính cố định, có kết cấu vững chắc, thể hiện ở số lượng tiếng và trật tự các vế ổn định không thể dễ dàng xáo trộn. Số lượng tiếng ổn định Xét về số lượng, thành ngữ có ít nhất là 2 âm tiết (gieo gió, khố rách, như rùa,.) nhưng đa phần ý kiến cho rằng thành ngữ phải có từ 3 âm tiết trở lên (nhanh như cắt: nghĩa là rất nhanh, chỉ một thoáng, một khoảnh khắc; rợn tóc gáy: nghĩa là quá kinh sợ, đến mức rợn người. Loại này chủ yếu là thành ngữ so sánh như: chậm như rùa, lạnh như tiền, khinh như rác, nổi như cồn, chạy như bay, đẹp như tiên,. Kết quả khảo sát cho thấy loại thành ngữ 4 âm tiết (chia ngọt sẻ bùi, có một không hai, đá thúng đụng nia, đỏ mặt tía tai, vai u thịt bắp, giận cá chém thớt, bặt vô âm tín,.) chiếm tới 70% thành ngữ tiếng Việt, tức chiếm đại bộ phận thành ngữ, các âm tiết chẵn, chia thành hai vế kết hợp lại tạo nên sự cân đối hài hòa, bền chặt về kết cấu, ý nghĩa được nhấn mạnh.

Tính cân đối hài hòa ấy cũng chính là đặc trưng cơ bản của thành ngữ. Loại thành ngữ 5 âm tiết có số lượng ít hơn: gậy ông đập lưng ông, đũa mốc chòi mâm son, lỗ hà ra lỗ hổng,. Có số lượng lớn thứ hai sau thành ngữ 4 âm tiết là thành ngữ 6 âm tiết: nội bất xuất, ngoại bất nhập; thượng cẳng chân, hạ cẳng tay; trời không dung đất không tha; nói có sách mách có chứng; ông nói gà, bà nói vịt; đâm bị thóc, chọc bị gạo;. Loại thành ngữ 7, 8 âm tiết có số lượng ít: lừ đừ như ông từ vào đền,.

Trật tự các vế cố định Thành ngữ là một khối thống nhất, hoàn chỉnh, đã được sử dụng thành thói quen nên ít khi thay đổi trật tự các vế. Ví dụ: 12 Thành ngữ 4 âm tiết: đá thúng đụng nia  đá nia đụng thúng vai u thịt bắp  vai bắp thịt u Thành ngữ 6 âm tiết: thượng cẳng chân hạ cẳng tay  thượng cẳng tay hạ cẳng chân đâm bị thóc chọc bị gạo  đâm bị gạo chọc bị thóc Có những thành ngữ không thể thay đổi hoặc thêm bớt yếu tố nào trong tổ hợp, bởi nó sẽ làm biến đổi ngữ nghĩa của chúng. Chẳng hạn: Thành ngữ 4 âm tiết: có một không hai  không nói có hai không một giận cá chém thớt  không nói giận thớt chém cá Thành ngữ 6 âm tiết: nói có sách mách có chứng  không nói nói có chứng mách có sách Như vậy, những ví dụ trên chỉ là sản phẩm của truyền miệng trong nhân gian, dẫn đến hiện tượng dị bản. Đặc trưng về nghĩa Đặc trưng nổi bật thứ hai của thành ngữ là tính hoàn chỉnh và bóng bẩy về nghĩa.

Thành ngữ biểu thị khái niệm hoặc biểu tượng trọn vẹn về các thuộc tính, quá trình hay sự vật. Nói cách khác, do tính hoàn chỉnh, bóng bẩy về nghĩa đã tạo nên tính biểu trưng của thành ngữ, đó cũng là đặc trưng nổi bật của thành ngữ. Nghĩa biểu trưng của thành ngữ được hiểu như sau: qua hình ảnh, dấu hiệu A thành ngữ gợi ra một ý niệm ở đằng sau nó, biểu trưng một cái gì đó mà không phải A, tức đưa A mà không nói A. Giá trị biểu trưng ở đây có thể hiểu là quan hệ giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện.

Chẳng hạn như thành ngữ: há miệng chờ sung không nhằm miêu tả hình ảnh ta thấy trên câu chữ (tức nghĩa đen) mà nó mang tính chất hàm ẩn, nghĩa của nó được toát ra từ 13 chỉnh thể hoạt động (tức nghĩa bóng). Theo quan niệm của Đỗ Hữu Châu thì: “Biểu trưng là lấy những vật thực, việc thực để biểu trưng cho những đặc điểm, tính chất, hành động, tình thế,.phổ biến, khái quát”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ