Tổng quan nghiên cứu

Thành ngữ tiếng Việt là di sản ngôn ngữ đặc sắc, kết tinh từ tư duy triết mỹ và vốn sống hàng ngàn năm của dân tộc. Trong dòng chảy văn học hiện đại, việc vận dụng vốn từ cố định này trở thành thước đo tài năng và dấu ấn cá nhân của người cầm bút. Nghiên cứu thực nghiệm trên 6 tác phẩm văn xuôi tiêu biểu với tổng số 209 đơn vị thành ngữ và 268 lượt xuất hiện đã phản ánh sinh động bức tranh ngôn ngữ đương đại.

Vấn đề then chốt của đề tài tập trung giải mã phương thức tiếp nhận, tái tạo và chuyển hóa hệ thống thành ngữ của hai gương mặt nữ văn sĩ nổi bật: Võ Thị Hảo (đại diện cho thế hệ văn học đổi mới thập niên 1990) và Di Li (cây bút trẻ đương đại thành danh từ thập niên 2000). Mục tiêu cụ thể là thống kê tần suất, phân loại nguồn gốc, cấu trúc ngữ pháp và giá trị tu từ - ngữ nghĩa của thành ngữ, từ đó xác lập sự tương đồng và dị biệt về phong cách nghệ thuật.

Phạm vi khảo sát giới hạn trong 6 tác phẩm văn xuôi gồm 4 tác phẩm của Võ Thị Hảo (Biển cứu rỗi năm 1993, Chuông vọng cuối chiều năm 1994, Ngậm cười năm 1998, 101 cái dại của đàn ông năm 2006) và 2 tác phẩm của Di Li (Đảo thiên đường năm 2012, San hô đỏ năm 2012). Công trình được hoàn thành tại Nghệ An vào tháng 10 năm 2015. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua hệ thống số liệu định lượng chuẩn xác: 171 thành ngữ với 225 lượt dùng ở Võ Thị Hảo và 38 thành ngữ với 43 lượt dùng ở Di Li, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho chuyên ngành ngôn ngữ học và lý luận văn học.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng nền tảng trên lý thuyết cụm từ cố định của ngôn ngữ học hiện đại, kết hợp lý thuyết phong cách học văn bản nghệ thuật và ngữ nghĩa học tri nhận. Công trình kế thừa các quan điểm học thuật chuẩn xác từ các nhà ngôn ngữ học đầu ngành như Hoàng Văn Hành, Đỗ Thị Kim Liên, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Văn Tu và Cù Đình Tú.

Hệ thống lý thuyết vận dụng bao gồm 4 khái niệm cốt lõi:

  1. Thành ngữ: Cụm từ cố định mang tính bền vững về cấu tạo, hoàn chỉnh và bóng bẩy về ngữ nghĩa, đảm nhiệm chức năng định danh và hoạt động tương đương như một từ trong câu.
  2. Tính biểu trưng: Đặc trưng ngữ nghĩa lấy hình ảnh, sự vật cụ thể để phản ánh các thuộc tính, trạng thái trừu tượng thông qua cơ chế chuyển nghĩa ẩn dụ hoặc hoán dụ.
  3. Cấu trúc đối xứng và phi đối xứng: Sự phân bố cân bằng về âm tiết, nhịp điệu và ngữ nghĩa giữa hai vế trong mô hình 4 âm tiết truyền thống.
  4. Biến thể thành ngữ: Sự cải biên linh hoạt về hình thức như thêm từ, bớt từ, thay từ hoặc hoán đổi trật tự cấu tạo nhằm thích ứng với ngữ cảnh diễn ngôn nghệ thuật.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu khảo sát toàn văn từ 6 ấn phẩm văn xuôi với tổng quy mô 268 lượt xuất hiện của thành ngữ. Phương pháp chọn mẫu mục đích (purposive sampling) được áp dụng để bao quát các thể loại truyện ngắn, bút ký và phóng tác phản ánh đầy đủ chặng đường sáng tác từ năm 1993 đến năm 2012 của hai tác giả.

Luận văn kết hợp 4 phương pháp phân tích chuyên sâu:

  • Phương pháp thống kê định lượng và phân loại: Đo lường chính xác tần số xuất hiện, tỷ lệ phần trăm của từng nhóm thành ngữ nguyên dạng, biến thể, nguồn gốc thuần Việt và Hán - Việt. Lý do lựa chọn là tạo lập cơ sở dữ liệu số hóa khách quan, loại bỏ các nhận định cảm tính.
  • Phương pháp phân tích diễn ngôn: Đặt từng đơn vị thành ngữ vào ngữ cảnh văn bản để làm rõ giá trị tạo nghĩa và dụng ý nghệ thuật của tác giả.
  • Phương pháp so sánh đối chiếu: Đặt song song các tham số ngôn ngữ giữa Võ Thị Hảo và Di Li để nhận diện phong cách cá nhân.
  • Phương pháp tổng hợp: Hệ thống hóa các quy luật ngôn ngữ theo tiến trình nghiên cứu kéo dài 12 tháng từ cuối năm 2014 đến tháng 10 năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát định lượng trên toàn bộ ngữ liệu đem lại 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, tần suất sử dụng thành ngữ có sự chênh lệch lớn giữa hai tác giả. Võ Thị Hảo sử dụng 171 thành ngữ với 225 lượt xuất hiện, cao gấp 5,23 lần so với Di Li (38 thành ngữ với 43 lượt xuất hiện). Số lượt xuất hiện lặp lại ở Võ Thị Hảo đạt 1,32 lượt trên mỗi thành ngữ, tiêu biểu như thành ngữ táng tận lương tâm xuất hiện 4 lần trong tác phẩm 101 cái dại của đàn ông, sơn hào hải vị xuất hiện 3 lần trong Biển cứu rỗi. Ở Di Li, thành ngữ vô thưởng vô phạt và nội bất xuất ngoại bất nhập đều lặp lại 2 lần.

Thứ hai, về nguồn gốc, thành ngữ thuần Việt chiếm tỷ trọng áp đảo ở cả hai nhà văn. Tác phẩm của Võ Thị Hảo có 118 thành ngữ thuần Việt (chiếm 66,24% tổng số lượt dùng) và 43 thành ngữ Hán - Việt (chiếm 28,88% với 65 lượt xuất hiện). Trong khi đó, Di Li ghi nhận 30 thành ngữ thuần Việt (chiếm 75,0% với 33 lượt xuất hiện) và 8 thành ngữ Hán - Việt (chiếm 25,0% với 11 lượt xuất hiện).

Thứ ba, về phương thức cấu tạo, cấu trúc 4 âm tiết chiếm trên 70% tổng lượng thành ngữ khảo sát. Nhóm thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng giữ vị trí chủ đạo: đạt 53,80% (92 thành ngữ, 127 lượt dùng) ở Võ Thị Hảo và 55,26% (21 thành ngữ, 26 lượt dùng) ở Di Li. Thành ngữ so sánh đạt 16,37% (28 thành ngữ) ở Võ Thị Hảo và 21,05% (8 thành ngữ) ở Di Li. Nhóm thành ngữ ẩn dụ phi đối xứng chiếm tỷ lệ thấp nhất, lần lượt là 14,61% (25 thành ngữ) và 13,15% (5 thành ngữ).

Thứ tư, mức độ sáng tạo biến thể có sự phân hóa rõ nét. Võ Thị Hảo cải biến 35 thành ngữ với 38 lượt sử dụng (chiếm 16,88% tổng tần số), bao gồm 25 biến thể thuần Việt và 10 biến thể Hán - Việt qua các thao tác đảo trật tự như chức trọng quyền cao thành quyền cao chức trọng, thay từ như thập tử nhất sinh. Ngược lại, Di Li chỉ sử dụng 3 biến thể thuần Việt (chiếm 6,98%) và hoàn toàn không cải biến thành ngữ Hán - Việt (0%).

Thảo luận kết quả

Sự khác biệt về tần số và cấu trúc thành ngữ phản ánh chiều sâu tư duy và thi pháp thể loại của từng tác giả. Võ Thị Hảo thuộc thế hệ nhà văn gắn liền với những trăn trở về số phận con người sau chiến tranh, các bi kịch thế sự và thân phận nữ giới. Việc sử dụng mật độ cao các thành ngữ Hán - Việt cổ kính như bách chiến bách thắng, bất đắc kỳ tử, táng gia bại sản giúp tăng tính triết lý, độ trầm tích lịch sử và sức nặng phê phán xã hội.

Ngược lại, Di Li là đại diện của dòng văn học trinh thám, du ký và tản văn đô thị hiện đại. Phong cách của Di Li hướng đến sự sắc sảo, tốc độ tự sự nhanh và tính chân thực của đời sống thường nhật. Do đó, tác giả ưu tiên các thành ngữ so sánh trực quan như chạy như bay, run như cầy sấy, nóng như đổ lửa nhằm khắc họa tức thì cảm xúc nhân vật mà không làm gián đoạn mạch tự sự.

Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua 5 bảng thống kê phân loại chi tiết trong luận văn, cho phép so sánh đa chiều giữa cấu trúc ngữ pháp, nguồn gốc từ vựng và tần số phân bố. Thành ngữ trong văn xuôi nghệ thuật không chỉ dừng lại ở chức năng định danh mà trở thành công cụ kiến tạo nhịp điệu cân đối, tạo tính hàm súc và chiều sâu thẩm mỹ cho câu văn.

Đề xuất và khuyến nghị

Để phát huy giá trị học thuật của đề tài trong nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn, luận văn đưa ra 4 khuyến nghị trọng tâm:

Thứ nhất, nâng cao tỷ trọng phân tích định lượng ngữ liệu trong chương trình giảng dạy học phần Ngữ pháp tiếng Việt và Phong cách học tại các trường đại học sư phạm và khoa học xã hội. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ bài tập thực hành thống kê ngữ liệu văn học đương đại lên 30% đến 40% thời lượng tự học của sinh viên trong năm học 2026 - 2027, do giảng viên bộ môn Ngôn ngữ học trực tiếp hướng dẫn.

Thứ hai, xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa và bộ từ điển tần số thành ngữ trong văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới. Dự án cần tập hợp tối thiểu 1.000 mục từ thành ngữ kèm trích dẫn văn cảnh chuẩn xác trong thời gian 18 tháng, do Viện Ngôn ngữ học chủ trì phối hợp cùng các trường đại học trọng điểm.

Thứ ba, tổ chức định kỳ các chuyên đề bồi dưỡng kỹ năng sáng tạo ngôn ngữ cho người viết trẻ và sinh viên ngành sáng tác văn học. Mục tiêu giúp tác giả trẻ nâng cao 25% hiệu quả sử dụng thành ngữ biến thể và hình ảnh biểu trưng, thực hiện thông qua các hội thảo chuyên môn do Hội Nhà văn tổ chức mỗi quý.

Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng lý thuyết ngữ nghĩa học tri nhận vào công tác dịch thuật tác phẩm văn học Việt Nam ra tiếng nước ngoài. Cơ quan dịch thuật và các dịch giả cần chú trọng đối chiếu cấu trúc ẩn dụ để giảm thiểu ít nhất 20% sai lệch ngữ nghĩa khi chuyển ngữ các thành ngữ mang đậm tính văn hóa bản địa.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho 4 nhóm đối tượng chuyên môn:

  1. Học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Ngôn ngữ học, Văn học Việt Nam: Nắm vững phương pháp thống kê định lượng kết hợp phân tích diễn ngôn, sử dụng bộ dữ liệu gồm 209 thành ngữ làm tư liệu so sánh cho các công trình nghiên cứu phong cách học.
  2. Giảng viên và giáo viên Ngữ văn: Ứng dụng nguồn ngữ liệu thực tế từ 6 tác phẩm văn học để biên soạn giáo án chuyên đề về thành ngữ tiếng Việt, giúp bài giảng sinh động và giàu tính thực tiễn.
  3. Nhà văn, nhà báo và người làm công tác biên tập: Khảo sát cách thức biến đổi thành ngữ của Võ Thị Hảo và Di Li để làm giàu vốn từ, trau chuốt nhịp điệu và nâng cao tính biểu cảm trong văn bản nghệ thuật.
  4. Chuyên gia dịch thuật và nghiên cứu văn hóa: Khai thác các phân tích ngữ nghĩa và trường nghĩa thành ngữ để tìm kiếm giải pháp chuyển dịch tương đương sang các ngôn ngữ khác, phục vụ công tác quảng bá văn học Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

  1. Vì sao Võ Thị Hảo sử dụng số lượng thành ngữ nhiều gấp hơn 5 lần Di Li? Sự chênh lệch này bắt nguồn từ phong cách và đề tài sáng tác. Võ Thị Hảo tập trung vào văn xuôi thế sự, bi kịch lịch sử và tâm lý chiều sâu nên cần mật độ thành ngữ dày đặc (225 lượt xuất hiện) để tăng sức khái quát triết lý. Ngược lại, Di Li viết tản văn, du ký và truyện ly kỳ nên ưu tiên diễn đạt nhanh gọn với 43 lượt dùng.

  2. Cấu trúc thành ngữ 4 âm tiết mang lại ưu thế gì cho văn bản nghệ thuật? Thành ngữ 4 âm tiết chiếm trên 70% ngữ liệu nhờ cấu trúc đối xứng hài hòa gồm 2 vế cân bằng về ngữ âm và ngữ nghĩa. Cấu trúc này tạo nhịp điệu nhịp nhàng cho câu văn, giúp người đọc dễ tiếp nhận và ghi nhớ thông tin, đồng thời cô đọng lượng ý nghĩa trừu tượng lớn vào một chỉnh thể ngắn gọn.

  3. Việc cải biến thành ngữ đem lại hiệu quả nghệ thuật như thế nào? Thủ pháp biến thể giúp câu văn thoát khỏi sự sáo mòn, tạo bất ngờ cho độc giả. Võ Thị Hảo đã chuyển đổi 35 thành ngữ thành dạng biến thể (đạt tỷ lệ 16,88%) bằng cách thay từ hoặc đổi trật tự vế, giúp sắc thái biểu cảm ăn khớp hoàn hảo với diễn biến tâm lý phức tạp của nhân vật trong tác phẩm.

  4. Thành ngữ Hán - Việt giữ vai trò gì trong việc tạo dựng phong cách tác giả? Thành ngữ Hán - Việt chiếm 28,88% ở Võ Thị Hảo và 25,0% ở Di Li. Lớp từ này tạo nên sắc thái trang trọng, bi tráng và cổ kính cho lời văn. Khi miêu tả các tình huống thế sự hiểm nghèo, việc dùng các thành ngữ như thập tử nhất sinh hay bách chiến bách thắng gia tăng tính thuyết phục và màu sắc lịch sử.

  5. Luận văn phân biệt thành ngữ và tục ngữ dựa trên những tiêu chí nào? Nghiên cứu phân định dựa trên 3 tiêu chí khoa học: hình thức ngữ pháp (thành ngữ là cụm từ cố định tương đương từ, tục ngữ là câu hoàn chỉnh), chức năng (thành ngữ mang chức năng định danh, tục ngữ mang chức năng thông báo phán đoán) và dung lượng âm tiết (thành ngữ phổ biến 4 âm tiết, tục ngữ thường từ 6 âm tiết trở lên).

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện 209 thành ngữ với 268 lượt xuất hiện trên 6 tác phẩm văn xuôi giai đoạn 1993 - 2012 của Võ Thị Hảo và Di Li.
  • Xác lập tỷ lệ thành ngữ 4 âm tiết chiếm ưu thế tuyệt đối trên 70%, trong đó mô hình ẩn dụ hóa đối xứng chiếm tỷ trọng cao nhất (53,80% ở Võ Thị Hảo và 55,26% ở Di Li).
  • Chứng minh tính linh hoạt của Võ Thị Hảo qua 35 thành ngữ biến thể (16,88%), đối lập với phong cách diễn đạt trực diện, hiện đại của Di Li (6,98% biến thể).
  • Đóng góp bộ dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác và hệ thống phân loại khoa học cho chuyên ngành Ngôn ngữ học và Phong cách học văn học Việt Nam.
  • Đề ra định hướng ứng dụng phương pháp định lượng và ngữ nghĩa học tri nhận cho các đề tài nghiên cứu giai đoạn 2026 - 2027.

Độc giả, học viên và các nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác toàn văn luận văn tại thư viện Đại học Vinh để tiếp cận hệ thống ngữ liệu chi tiết và mở rộng các hướng nghiên cứu liên ngành trong tương lai.