Điển cố, điển tích trong SGK Ngữ văn THCS, THPT - Luận văn ThS Nguyễn Thị Hải

Phân tích vai trò và sự hiện diện của điển cố điển tích trong chương trình sách giáo khoa ngữ văn phổ thông hiện nay, tầm quan trọng và cách tiếp cận.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

137
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về điển cố điển tích trong SGK Ngữ văn

Điển cố và điển tích là những đơn vị ngôn ngữ đặc biệt. Chúng mang trong mình cả một câu chuyện văn hóa, lịch sử đằng sau lớp vỏ từ ngữ ngắn gọn. Trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn phổ thông hiện nay, điển cố điển tích xuất hiện với số lượng lớn. Thống kê cho thấy hệ thống điển trong SGK từ lớp 7 đến lớp 12 rất phong phú. Nguồn gốc chủ yếu của các điển này đến từ văn hóa và văn học Trung Hoa. Các nguồn kinh, sử, truyện, thơ ca cung cấp phần lớn ngữ liệu. Bên cạnh đó, một số điển cố điển tích có nguồn gốc từ văn hóa Việt Nam và phương Tây. Tuy nhiên, số lượng này không đáng kể. Sự hiện diện dày đặc của điển cố điển tích trong SGK phản ánh ảnh hưởng sâu rộng của thi pháp trung đại. Đồng thời, điều này đặt ra yêu cầu cao đối với việc dạy và học trong nhà trường. Học sinh cần có phương pháp giải mã phù hợp để hiểu đúng nội dung.

1.1. Khái niệm điển cố điển tích

Điển cố là những câu chuyện có thật hoặc hư cấu đã trở thành quen thuộc. Chúng được dùng như chất liệu để nhà văn, nhà thơ sáng tạo tác phẩm mới. Điển tích là những sự việc, câu chuyện được ghi lại trong sách vở xưa. Cả hai đều thuộc phạm trù liên văn bản. Khi vận dụng vào sáng tác, điển cố điển tích tạo nên tầng nghĩa sâu. Nghĩa này vượt xa nghĩa đen của từ ngữ. Người đọc phải có kiến thức nền mới có thể giải mã được. Sự hiểu biết về điển cố điển tích giúp tiếp cận tác phẩm văn học trọn vẹn hơn.

1.2. Vị trí trong chương trình Ngữ văn

Điển cố điển tích xuất hiện xuyên suốt chương trình Ngữ văn từ THCS đến THPT. Ở cấp THCS, học sinh bắt đầu tiếp xúc với các điển đơn giản. Các tác phẩm như Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm chứa nhiều điển cố điển tích. Ở cấp THPT, mức độ phức tạp tăng dần. Các tác phẩm thơ ca trung đại đòi hỏi khả năng giải mã cao hơn. Số lượng điển cố điển tích trong SGK Ngữ văn 10, 11, 12 chiếm tỷ trọng lớn. Việc nắm vững hệ thống điển là điều kiện tiên quyết để hiểu sâu văn bản.

II. Phân tích vấn đề về điển cố điển tích trong SGK

Vấn đề lớn nhất nằm ở sự đa dạng nguồn gốc và cấu tạo. Điển cố điển tích trong SGK có cấu tạo rất phong phú. Chúng có thể là một từ đơn, một ngữ hoặc một câu trọn vẹn. Xét về từ loại, điển có thể là danh từ, động từ, tính từ hoặc lượng từ. Thành tố cấu tạo chủ yếu là từ Hán Việt. Một số ít là thành tố thuần Việt. Sự đa dạng này đòi hỏi học sinh phải có vốn kiến thức văn hóa rộng. Nhiều học sinh gặp khó khăn khi giải mã điển cố điển tích. Nguyên nhân là thiếu kiến thức nền về lịch sử, văn hóa cổ. Giáo viên cũng gặp thách thức trong việc truyền đạt đầy đủ. Phương pháp giảng dạy hiện tại chưa đồng bộ và hệ thống. Học sinh thường học thuộc lòng mà không hiểu bản chất. Điều này ảnh hưởng đến khả năng cảm thụ văn học. Cần có cách tiếp cận mới để giải quyết vấn đề này.

2.1. Nguồn gốc điển cố điển tích

Nguồn gốc điển cố điển tích trong SGK rất đa chiều. Phần lớn đến từ văn hóa, văn học Trung Hoa. Các nguồn kinh điển như Tứ thư, Ngũ kinh cung cấp nhiều điển. Lịch sử Trung Quốc với các triều đại cũng là nguồn phong phú. Truyện cổ, thơ ca trung đại Việt Nam đóng góp một phần. Điển từ phương Tây xuất hiện ít và không mấy đặc sắc. Sự tập trung nguồn gốc từ văn hóa Trung Hoa phản ánh ảnh hưởng của thi pháp thể loại. Điều này hé mở sự tiếp thu sáng tạo có chọn lọc của các nhà văn Việt Nam.

2.2. Cấu tạo và đặc điểm ngữ nghĩa

Cấu tạo điển cố điển tích thể hiện sự linh hoạt về ngôn ngữ. Về số lượng từ, điển có thể chỉ một từ hoặc một ngữ phức tạp. Dạng thức chủ yếu là ngữ, tức cụm từ có nhiều thành tố. Một vài trường hợp điển có cấu tạo là một câu hoàn chỉnh. Về mặt từ loại, điển đóng vai trò danh từ hoặc tính từ là phổ biế. Cơ chế biến đổi ngữ nghĩa hoạt động mạnh mẽ. Nghĩa đen của từ chuyển thành nghĩa bóng qua quá trình liên tưởng. Người đọc phải tái hiện câu chuyện gốc để hiểu nghĩa thực sự.

III. Phương pháp giảng dạy điển cố điển tích hiệu quả

Giảng dạy điển cố điển tích cần phương pháp tiếp cận đa chiều. Trước hết, giáo viên phải xây dựng hệ thống kiến thức nền cho học sinh. Việc cung cấp thông tin về lịch sử, văn hóa là bước đầu tiên. Tiếp theo, giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích cơ chế biến đổi ngữ nghĩa. Học sinh cần hiểu quy trình từ nghĩa đen sang nghĩa bóng. Sử dụng sơ đồ tư duy giúp học sinh hình dung mối liên hệ. So sánh điển cố điển tích trong các tác phẩm khác nhau cũng hiệu quả. Phương pháp liên văn bản giúp mở rộng hiểu biết. Giáo viên nên khuyến khích học sinh tự tra cứu điển. Việc sử dụng từ điển điển cố điển tích là cần thiết. Công nghệ thông tin cũng hỗ trợ tốt trong việc tìm kiếm. Bài tập thực hành nên được thiết kế từ dễ đến khó. Đánh giá năng lực giải mã điển cần được đưa vào kiểm tra. Mục tiêu cuối cùng là học sinh tự giải mã được điển trong văn bản mới.

3.1. Phương pháp cho cấp THCS

Ở cấp THCS, học sinh mới bắt đầu làm quen với điển cố điển tích. Phương pháp phù hợp nhất là kể chuyện kết hợp hình ảnh minh họa. Giáo viên kể lại câu chuyện gốc một cách sinh động. Hình ảnh trực quan giúp học sinh ghi nhớ tốt hơn. Bài tập đơn giản như tìm và giải thích điển trong văn bản. Học sinh được khuyến khích ghi chép điển vào sổ tay riêng. Việc lặp lại và ôn tập thường xuyên rất quan trọng. Giáo viên nên liên hệ điển với đời sống hiện tại để tăng hứng thú.

3.2. Phương pháp cho cấp THPT

Cấp THPT đòi hỏi phương pháp phân tích sâu hơn. Học sinh cần hiểu cơ chế hình thành và biến đổi ngữ nghĩa. Phương pháp so sánh liên văn bản phát huy hiệu quả cao. Học sinh so sánh cách dùng điển trong các tác giả khác nhau. Thảo luận nhóm giúp chia sẻ kiến thức và góc nhìn. Giáo viên hướng dẫn học sinh tra cứu tài liệu chuyên sâu. Viết bài phân tích điển cố điển tích nâng cao kỹ năng tư duy. Đưa điển cố điển tích vào đề thi kiểm tra đánh giá năng lực.

IV. Kết luận và ứng dụng điển cố điển tích trong học tập

Điển cố điển tích đóng vai trò quan trọng trong chương trình Ngữ văn. Chúng là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại trong văn học. Hệ thống điển trong SGK phong phú về nguồn gốc và cấu tạo. Việc nắm vững điển cố điển tích giúp học sinh hiểu sâu tác phẩm. Năng lực giải mã điển phản ánh trình độ cảm thụ văn học. Giáo viên cần đổi mới phương pháp giảng dạy liên tục. Học sinh cần chủ động xây dựng vốn kiến thức văn hóa. Từ điển điển cố điển tích là công cụ học tập không thể thiếu. Ứng dụng điển cố điển tích trong viết văn tạo nên chiều sâu ngôn ngữ. Học sinh giỏi văn thường có vốn điển cố điển tích phong phú. Kết quả nghiên cứu cho thấy cần cải thiện cách dạy và học điển. Hệ thống hóa kiến thức là giải pháp then chốt. Mục tiêu cuối cùng là phát triển năng lực ngôn ngữ toàn diện cho học sinh phổ thông.

4.1. Ý nghĩa đối với việc học Ngữ văn

Hiểu biết điển cố điển tích nâng cao khả năng cảm thụ văn học. Học sinh tiếp cận tác phẩm ở tầng nghĩa sâu hơn. Khả năng liên tưởng và tư duy hình tượng được phát triển. Vốn từ vựng Hán Việt mở rộng đáng kể. Kỹ năng viết văn trở nên phong phú và tinh tế hơn. Học sinh hiểu được dụng ý nghệ thuật của tác giả. Đọc hiểu văn bản trung đại trở nên dễ dàng hơn. Năng lực ngôn ngữ được rèn luyện toàn diện qua việc học điển.

4.2. Hướng phát triển trong tương lai

Chương trình Ngữ văn cần tích hợp hệ thống điển cố điển tích rõ ràng hơn. Giáo trình giảng dạy nên có phần chuyên đề về điển. Công nghệ số hỗ trợ xây dựng cơ sở dữ liệu điển cố điển tích. Ứng dụng tra cứu điển trên điện thoại giúp học sinh học mọi lúc. Đào tạo giáo viên về phương pháp giảng dạy điển cần được chú trọng. Nghiên cứu điển cố điển tích trong văn học hiện đại cần được mở rộng. Hội thảo chuyên đề giúp chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy hiệu quả.

28/05/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1, chúng tôi cũng tiến hành khái quát về việc sự xuất hiện điển cố, điển tích trong SGK Ngữ văn ở trường phổ thông hiện nay. Khái niệm ngôn ngữ, văn học và mối quan hệ giữa ngôn ngữ với văn học 1. Khái niệm “ngôn ngữ” Trong tiến trình phát triển của văn minh nhân loại, vấn đề ngôn ngữ là gì đã thu hút được sự quan tâm đáng kể. Ngôn ngữ là kết quả của một quá trình sáng tạo lâu dài, có tổ chức phức tạp bậc nhất và có những năng lực phục vụ cho con người vào loại kỳ diệu nhất trong tất cả những thứ mà con người sáng tạo ra bấy lâu nay.

Ngôn ngữ vốn có nhiều đặc điểm thuộc những bình diện khác nhau cho nên hầu hết các sách nghiên cứu, các giáo trình giảng dạy về ngôn ngữ học đều đưa ra những quan niệm của mình về khái niệm này. Trong giáo trình Dẫn luận ngôn ngữ học, GS. Vũ Đức Nghiệu và GS. Nguyễn Văn Hiệp có đưa ra nhận định về “ngôn ngữ” như sau: “Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt: Ngôn ngữ chỉ sinh ra và phát triển trong xã hội loài người do ý muốn và nhu cầu của chính loài người là phải giao tiếp với nhau trong quá trình liên kết các cá thể để tổ chức thành những cộng đồng và xã hội, để tồn tại và phát triển.

Bên ngoài xã hội, ngôn ngữ không thể phát sinh. Ngôn ngữ không phải là hiện tượng của cá nhân tôi hay cá nhân anh mà là của chúng ta. Đối với mỗi cá nhân, ngôn ngữ như một thiết chế xã hội chặt chẽ, được giữ gìn và phát triển trong kinh nghiệm, trong truyền thống chung của cả cộng đồng. Ngôn ngữ cũng không phải là hiện tượng sinh vật vì nó không mang tính di truyền.

Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt. Nó không thuộc về kiến trúc thượng tầng của riêng một xã hội nào. Ngôn ngữ không mang tính giai cấp” [57]. Trong cuốn Ngôn ngữ học đại cương: những nội dung quan yếu, GS.

Đinh Văn Đức lại cho rằng: “Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp, công cụ để tư duy, là chất liệu để biểu đạt ý nghĩ của con người. Ngôn ngữ là phương tiện diễn đạt tư duy và phương tiện giao tiếp tốt nhất được tạo ra theo nhu cầu của xã hội, phụng sự các lợi ích xã hội, cũng là động lực cho sự phát triển xã hội và cũng cho chính bản thân nó” [22]… Từ các nhận định trên, có thể khẳng định, ngôn ngữ là một tổ chức chặt chẽ có hệ thống mà con người vận dụng trong quá trình suy nghĩ, nói năng để định hình, để biểu hiện và trao đổi những tư tưởng, tình cảm với nhau. Cơ cấu của ngôn ngữ bao gồm: Hệ thống ngữ âm: mặt âm thanh của lời nói; Hệ thống từ vựng - ngữ nghĩa: tập hợp các đơn vị định danh sự vật, sự tình, biểu hiện các loại ý nghĩa khác nhau của từng từ ngữ; Hệ thống ngữ pháp: tập hợp các quy tắc, cách tổ chức sắp xếp để tạo nên đơn vị câu, đơn vị văn bản thể hiện chức năng thông báo. Khái niệm “văn học” Khái niệm “văn học” ban đầu chỉ là hình thức văn tự của văn học.

Trong tiếng Latin, literature – littera nghĩa là “chữ cái”, tura nghĩa là “sự tổng hợp”; trong tiếng Hán, văn có nghĩa là “hội họp nhiều thứ mà thành văn chương” có thể hiểu là bài văn dưới dạng văn tự. Thoát thai từ văn học dân gian và ra đời cùng với chữ viết để ghi chép các văn thư nhà nước, văn học buổi đầu ở trong tình trạng gọi là “văn sử bất phân”. Người ta nói đến văn, thơ, phú nhưng chưa có khái niệm văn học như một bộ môn nghệ thuật ngôn từ. Từ điển thuật ngữ văn học quan niệm về văn học như sau: Văn học là một sản phẩm lịch sử, văn học tự nó cũng là một quá trình.

Văn học chịu sự chi phối mạnh mẽ của đời sống thực tại, chịu ảnh hưởng của các hình thái ý thức xã hội khác như chính trị, đạo đức, triết học, tôn giáo, khoa học…Những ảnh hưởng cụ thể sẽ quy định bộ mặt văn học của mỗi thời. Văn học có thể phản ánh quá trình vận động không ngừng của đời sống trong không gian và thời gian ở bất kì giới hạn nào. Với chất liệu ngôn từ, văn học có khả năng tái hiện lời nói và thế giới tư tưởng của con người [30]. Như vậy, cách hiểu khái quát nhất thì văn học là một loại hình sáng tác, tái hiện những vấn đề của đời sống xã hội và con người, lấy con người làm đối tượng nhận thức trung tâm.

Phương thức sáng tạo của văn học được thông qua sự hư cấu, cách thể hiện nội dung các đề tài được biểu hiện qua ngôn ngữ. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn học Lâu nay, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ cũng như nghiên cứu văn học đều thống nhất cho rằng, ngôn ngữ và văn học có mối quan hệ chặt chẽ, không thể tách rời. Mối quan hệ khăng khít này có thể được biểu hiện ra bên ngoài thành những phương tiện vật chất cụ thể, nhưng cũng có thể biểu hiện qua mối quan hệ bên trong. Mối quan hệ bên trong này được hình thành từ một trong những chức năng quan trọng nhất của ngôn ngữ, đó là chức năng tư duy.Mác từng nói “Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng”.

Không có ngôn ngữ, con người không thể tư duy. Nói một cách khác, mọi hoạt động tư duy của con người đều thực hiện trên chất liệu của ngôn ngữ. Lênin ngoài việc đánh giá “Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người” còn nhấn mạnh đến chức năng quan trọng khác của ngôn ngữ là chức năng tư duy. Lênin cho rằng: “không có tư tưởng nào lại trống rỗng cả”.

Từ phương diện này, chúng ta nhận thấy, ngôn ngữ tham gia trực tiếp vào phần cốt lõi, phần ẩn sâu trong văn học. Mối quan hệ này chỉ được bộc lộ khi ta phân tích vai trò và chức năng của ngôn ngữ khi nó tham gia vào quá trình hình thành nên một tác phẩm văn học cụ thể. Trên phương diện này, ngôn ngữ không chỉ là công cụ của tư duy, là linh hồn cho sự sáng tạo ra các tác phẩm văn học mang tính cá nhân của mỗi tác giả mà còn là một phương tiện lưu giữ thông tin, truyền bá những kinh nghiệm từ thế hệ này qua thế hệ khác. Cụ thể là nhờ có ngôn ngữ làm công cụ để tư duy, sáng tạo các tác phẩm văn học mới được ra đời.

Nếu không có ngôn ngữ thì không thể tư duy, không thể sáng tạo, các tác giả vì thế cũng không thể cho ra đời các tác phẩm văn học mang nét sáng tạo riêng của cá nhân, phản ánh đời sống hiện thực qua góc nhìn và tư duy của tác giả. Xét cho cùng ẩn sau bên trong các tác phẩm văn học cũng chứa đựng mối quan hệ sâu sắc với ngôn ngữ. Nói tới mặt biểu hiện bên ngoài của mối quan hệ giữa văn học và ngôn ngữ là nói tới khả năng quan sát được những sự liên quan giữa văn học và ngôn ngữ trên cơ sở những dấu hiệu, ký hiệu cụ thể. Ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu được hình thành từ những phản xạ không có điều kiện.

Thực chất nó là ký hiệu của ký hiệu và là hệ thống tín hiệu thứ hai, chỉ con người mới có được. Hệ thống ký hiệu này chính là các phương tiện tạo nên các sản phẩm văn hoá mang giá trị tinh thần, gọi là văn hoá phi vật thể. Trong văn học, ngôn ngữ là phương tiện trực tiếp cấu thành tác phẩm. Nó tham gia vào việc diễn đạt tư tưởng của nhà văn thông qua việc sử dụng từ, việc đặt câu và xây dựng văn bản nghệ thuật.

Hay có thể hiểu đơn giản rằng, nhìn từ bên ngoài vào tác phẩm văn học ta có thể thấy rõ ràng các tác phẩm văn học được xây dựng nên từ ngôn ngữ, từ cách chọn lọc từ vựng, cách tổ chức sắp xếp câu cú trong văn bản hay cách sử dụng các biện pháp nghệ thuật đều bắt nguồn từ hệ thống ngôn ngữ. Ngôn từ là yếu tố thứ nhất của văn học. Sáng tạo, tiếp nhận và đánh giá văn học không thể thiếu được yếu tố ấy. Ngôn từ nghệ thuật (ngôn từ văn học) là một sự phân tầng khác của ngôn ngữ tự nhiên, “tương xâm” nhưng không đồng nhất với ngôn ngữ tự nhiên.

Nếu ngôn ngữ tự nhiên thường mang tính ổn định, thì ngôn từ nghệ thuật - đặc biệt là ngôn từ thơ - với tư cách là một “mã” nghệ thuật lại luôn thay đổi. Mỗi thời đại văn học, mỗi trào lưu, khuynh hướng và mỗi tác giả lại có cách sử dụng ngôn ngữ riêng để mang đến một “thực tại” và hình thức mới cho ngôn từ nghệ thuật. Như vậy, cho dù nhìn từ góc độ nào giữa văn học và ngôn ngữ cũng là mối quan hệ không thể tách rời. Mối quan hệ ấy được bộc lộ trên tất cả các cấp độ ngôn ngữ khi được sử dụng vào văn học, cụ thể là từ cấp độ âm vị cho đến cấp độ văn bản.

Về điển cố, điển tích 1. Khái niệm điển cố, điển tích a) Những vấn đề về cách gọi tên khái niệm Trong tiếng Việt, chúng ta thường gặp hai từ “điển tích” và “điển cố”. Có thể hiểu một cách đơn giản nhất như sau: “Điển” là kinh điển, là thường, phép tắc hay chủ trương, coi sóc việc gì đó; “Tích” là xưa, trước, lâu, ban đêm; Cố là bền, vững bền, kín đáo, sẵn, vốn đã, nhiều lần (cố nhiên, tất nhiên); Điển tích là sự tích chép trong sách vở xưa; Điển cố: Điển cũ tích xưa; sự tích, luật lệ cũ… Sử dụng điển cố là một nét đặc thù của văn học trung đại. Tuy nhiên, có một điều bất cập gây nhiều khó khăn cho những người muốn nghiên cứu, tìm hiểu về lĩnh vực này đó là cho tới ngày nay vẫn chưa có một tên gọi thống nhất cho những điển xưa tích cũ.

Mỗi công trình nghiên cứu của mỗi tác giả lại sử dụng một thuật ngữ khác nhau. Có một số tác giả sử dụng thuật ngữ “điển tích” chẳng hạn như: Điển tích truyện Kiều của Phạm Đan Quế [63], Điển tích chọn lọc của Mộng Bình Sơn [68].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ