Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Đề xuất một số cách thức sử dụng kĩ thuật DR-TA trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học ở lớp 10 (Trường hợp bộ sách Chân trời sáng tạo)" của tác giả Trần Huỳnh Tâm Anh, do TS. Nguyễn Thị Ngọc Thúy hướng dẫn tại Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (2023), được thực hiện dựa trên các căn cứ thực tiễn và lý luận sau:
- Sự chuyển đổi mô hình giáo dục theo Chương trình Giáo dục phổ thông (CT GDPT) môn Ngữ văn 2018: CT GDPT 2018 đánh dấu bước chuyển từ dạy học truyền thụ kiến thức (chương trình 2006) sang phát triển phẩm chất và năng lực học sinh (HS), tập trung vào bốn kỹ năng đọc, viết, nói và nghe. Dạy đọc hiểu đòi hỏi giáo viên (GV) phải tổ chức hoạt động để HS chủ động tiếp xúc trực tiếp với văn bản (VB), tự kiến tạo ý nghĩa thay vì tiếp nhận thụ động qua lời bình giảng của GV. Kỹ thuật DR-TA (Directed Reading-Thinking Activity - Hoạt động Đọc-Tư duy có định hướng) đáp ứng định hướng này khi đặt HS vào vị trí chủ thể tư duy.
- Đặc thù tiếp nhận văn bản văn học trong nhà trường: VB văn học chiếm tỷ trọng lớn trong chương trình môn Ngữ văn. Quá trình đọc hiểu VB văn học đòi hỏi người học phải vận dụng các kỹ năng như tưởng tượng, suy luận, theo dõi và liên hệ để giải mã thế giới hình tượng nghệ thuật. Những kỹ năng này chủ yếu được hình thành và rèn luyện ở giai đoạn trong khi đọc, giai đoạn mà kỹ thuật DR-TA phát huy tối đa công năng hướng dẫn.
- Tính cấp thiết ở cấp lớp 10: Lớp 10 là năm đầu cấp trung học phổ thông và là năm đầu tiên triển khai CT GDPT 2018 ở cấp THPT (năm học 2022–2023). Việc rèn luyện phương pháp đọc hiểu thông qua kỹ thuật dạy học tích cực ở giai đoạn này tạo tiền đề vững chắc cho các khối lớp tiếp theo và thói quen đọc ngoài nhà trường.
- Khoảng trống nghiên cứu tại Việt Nam: Mặc dù kỹ thuật DR-TA đã được ứng dụng rộng rãi ở các nền giáo dục phát triển (Mỹ, Anh, Úc), tài liệu sư phạm trong nước về kỹ thuật này còn rất hạn chế (chủ yếu được giới thiệu sơ lược trong giáo trình của Nguyễn Thị Hồng Nam và Dương Thị Hồng Hiếu, 2022). Chưa có công trình nào nghiên cứu hệ thống về cách thức vận dụng DR-TA trong dạy đọc hiểu VB văn học lớp 10 phù hợp với quy mô lớp học đông HS tại Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu: Đề xuất một số cách thức sử dụng kỹ thuật DR-TA trong dạy học đọc hiểu VB văn học ở lớp 10, áp dụng cụ thể trên ngữ liệu bộ sách giáo khoa Chân trời sáng tạo (CTST).
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Xây dựng cơ sở lý thuyết về kỹ thuật DR-TA và việc sử dụng kỹ thuật này trong dạy học đọc hiểu VB văn học lớp 10.
- Khảo sát thực trạng dạy học đọc hiểu VB văn học tại một số trường THPT trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
- Đề xuất một số cách thức sử dụng kỹ thuật DR-TA trong dạy học đọc hiểu VB văn học lớp 10 (bộ sách CTST).
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng tính đúng đắn và khả thi của các đề xuất.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Kỹ thuật DR-TA và quy trình sử dụng kỹ thuật DR-TA trong dạy học đọc hiểu VB văn học ở lớp 10 đáp ứng CT GDPT môn Ngữ văn 2018.
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào thể loại truyện trong bộ sách giáo khoa Ngữ văn 10 (bộ Chân trời sáng tạo); địa bàn khảo sát và thực nghiệm sư phạm tại Trường THPT Trần Phú và một số trường THPT trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh năm học 2022–2023.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập hệ thống cơ sở lý thuyết đa ngành kết hợp giữa lý luận dạy học hiện đại, tâm lý học nhận thức và lý thuyết tiếp nhận văn học:
- Khung lý thuyết về kỹ thuật dạy học và DR-TA:
- Khái niệm kỹ thuật dạy học theo Bernd Meier và Nguyễn Văn Cường (2012): Những cách thức hành động vi mô của GV và HS trong các tình huống hoạt động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học.
- Kỹ thuật DR-TA do Russell G. Stauffer đề xuất (1969) với quan niệm đọc là một quá trình giải quyết vấn đề trong ngữ cảnh xã hội, bao gồm hai hình thức: DR-TA nhóm (Group DR-TA từ 8–12 HS) và DR-TA cá nhân (Individualised DR-TA cho người đọc độc lập). Khóa luận tiếp thu các nghiên cứu kế thừa của Martha Rapp Ruddell (1997), Katherine A. Stahl (2003), Camille Blachowicz và Donna Ogle (2008), Robert J. Tierney và John E. Readence (2005).
- So sánh đối chiếu với kỹ thuật DRA (Directed Reading Activity của Emmett Albert Betts, 1946) vốn tập trung vào việc giải thích khái niệm từ vựng khó, và kỹ thuật Content DR-TA vốn chỉ tập trung vào kiểm soát nội dung thông tin.
- Khái niệm Vùng phát triển gần (Zone of Proximal Development - ZPD) của L. Vygotsky (1978) làm cơ sở cho vai trò "bắc giàn giáo" của GV khi thiết lập các điểm dừng đọc.
- Lý thuyết tiếp nhận và đặc trưng văn bản văn học:
- Bản chất thẩm mỹ, tính hình tượng, tính biểu tượng đa nghĩa và tính độc đáo của VB nghệ thuật theo quan điểm của Trần Đình Sử (2013, 2014) và Huỳnh Như Phương (2014).
- Khái niệm "cấu trúc vẫy gọi" và "khoảng trống" của Wolfgang Iser (1995); lý thuyết kiến tạo nghĩa trong quá trình thâm nhập thế giới văn bản của Judith Langer (1995).
- Mô hình tiến trình đọc ba giai đoạn: Trước khi đọc, Trong khi đọc, Sau khi đọc (tham chiếu chương trình của Singapore, Úc, Ontario Canada và Debbie Draper, 2010).
- Khung pháp lý giáo dục: Yêu cầu cần đạt (YCCĐ) về đọc hiểu văn bản văn học lớp 10 theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ban hành CT GDPT môn Ngữ văn 2018.
| Nhóm phương pháp |
Phương pháp cụ thể |
Mục đích và công cụ triển khai |
| Nghiên cứu lý thuyết |
Phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu tài liệu |
Xây dựng khung khái niệm DR-TA, đối chiếu DRA/DR-TA/Content DR-TA, xác lập cơ sở tiếp nhận VB văn học. |
| Nghiên cứu thực tiễn |
Điều tra bằng bảng hỏi |
Khảo sát thực trạng dạy học đọc hiểu của GV Ngữ văn tại một số trường THPT ở TP. Hồ Chí Minh. |
|
Quan sát sư phạm |
Quan sát tiến trình dạy học, ghi chép hành vi và thái độ tiếp nhận của HS trong các tiết học thực nghiệm. |
|
Thực nghiệm sư phạm |
Tổ chức dạy học thực nghiệm tại THPT Trần Phú; đo lường năng lực đọc hiểu trước và sau tác động (Pre-test và Post-test). |
| Phân tích dữ liệu |
Phân tích định lượng |
Thống kê, xử lý số liệu điểm kiểm tra kỹ năng đọc của HS theo các tiêu chí Rubric đánh giá (Phần 1, Phần 2, Phần 3). |
|
Phân tích định tính |
Phân tích câu trả lời cụ thể của HS trên phiếu học tập, tổng hợp biên bản phỏng vấn và góp ý của GV dự giờ. |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở đề xuất một số cách thức sử dụng kĩ thuật DR-TA trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học ở lớp 10
Chương 1 làm rõ hệ thống cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn định hướng cho việc áp dụng kỹ thuật DR-TA:
- Bản chất của kỹ thuật DR-TA: Kỹ thuật được cấu thành từ 4 yếu tố cốt lõi:
- D - Directed (Có định hướng): GV dẫn dắt quá trình đọc - tư duy qua hệ thống câu hỏi tại các điểm dừng chiến lược.
- R - Reading (Đọc): HS trực tiếp tương tác với văn bản, đọc từng phân đoạn được phân chia.
- T - Thinking (Tư duy): HS vận dụng tri thức nền, đưa ra phán đoán, tìm kiếm bằng chứng văn bản để bảo vệ hoặc điều chỉnh nhận định.
- A - Activity (Hoạt động): Cả GV và HS đều tham gia hoạt động tích cực, trong đó HS là chủ thể kiến tạo nghĩa, GV là người điều phối và hỗ trợ.
- Bốn nguyên tắc bắt buộc khi sử dụng DR-TA:
- Nguyên tắc 1 - Đảm bảo HS chưa đọc trước VB: Giữ tính bất ngờ để kích hoạt tư duy phán đoán tự nhiên.
- Nguyên tắc 2 - Làm chủ lưu lượng thông tin: Phân biệt giữa tốc độ đọc cá nhân và lưu lượng thông tin do GV kiểm soát qua độ dài các đoạn dừng.
- Nguyên tắc 3 - Xác định các điểm dừng tốt: Điểm dừng phải thỏa mãn 3 điều kiện: đủ thông tin để dự đoán, đủ dữ kiện mới để mở ra dự đoán tiếp theo, và mật độ dừng vừa phải để không làm đứt gãy mạch cảm xúc.
- Nguyên tắc 4 - Phản hồi dựa trên căn cứ văn bản: Không áp đặt đúng - sai tuyệt đối mà đánh giá tính hợp lý dựa trên chứng cứ trích xuất từ VB.
- Cơ sở thực tiễn từ CT GDPT 2018 và SGK Ngữ văn 10 (bộ Chân trời sáng tạo):
- Phân tích bảng YCCĐ lớp 10 ở các mạch: Đọc hiểu nội dung (phân tích chủ đề, tư tưởng, thông điệp, cảm hứng chủ đạo); Đọc hiểu hình thức (nhận biết và phân tích người kể chuyện toàn tri/hạn tri, điểm nhìn, lời nhân vật/người kể chuyện, không gian, thời gian); Liên hệ, so sánh, kết nối và Đọc mở rộng.
- Khảo sát ngữ liệu SGK Ngữ văn 10 (bộ CTST): Văn bản văn học chiếm tỷ lệ vượt trội trong hệ thống VB 1, VB 2 và Đọc mở rộng thể loại, trong đó thể loại truyện (thần thoại, sử thi, truyện ngắn) cung cấp cấu trúc cốt truyện và tình huống thích hợp nhất để thiết kế các điểm dừng DR-TA.
Chương 2: Đề xuất cách thức sử dụng kĩ thuật DR-TA trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học
Tác giả xây dựng hệ thống 5 nguyên tắc đề xuất và quy trình triển khai chi tiết qua 2 giai đoạn:
TIẾN TRÌNH THỰC HIỆN KỸ THUẬT DR-TA
[GIAI ĐOẠN 1: CHUẨN BỊ] [GIAI ĐOẠN 2: LÊN LỚP]
• Xác định mục tiêu đọc • Trước khi đọc: Kích hoạt nền,
• Lựa chọn điểm dừng chiến lược: dự đoán qua nhan đề, hình ảnh
- Miêu tả không gian nghệ thuật • Trong khi đọc (Vòng lặp DR-TA):
- Kỹ năng dự đoán [Điều chỉnh/ [Trả lời câu hỏi,
• Chuẩn bị công cụ hỗ trợ: • Sau khi đọc: Tổng hợp, đánh giá
- Thẻ chặn sách gợi nhớ chỉnh thể, liên hệ thực tiễn
- Phiếu học tập, phiếu ghi chép đối thoại
- Năm nguyên tắc đề xuất:
- Đảm bảo đặc điểm tiến trình đọc hiểu 3 giai đoạn.
- Đảm bảo các YCCĐ về đọc hiểu văn bản văn học theo CT GDPT 2018.
- Đảm bảo đặc trưng thẩm mỹ và loại thể của VB văn học.
- Đảm bảo đặc trưng cấu trúc của kỹ thuật DR-TA.
- Đảm bảo phối hợp linh hoạt với các phương pháp và kỹ thuật dạy học khác.
- Giai đoạn trước khi lên lớp (Công tác chuẩn bị của GV):
- Xác định các kiểu điểm dừng:
- Điểm dừng ở đoạn miêu tả không gian nghệ thuật: Giúp HS dự đoán bầu không khí tâm lý và diễn biến sự kiện sắp xảy ra.
- Điểm dừng ở đoạn giới thiệu nhân vật: Giúp HS phán đoán tính cách, số phận và vai trò của nhân vật trong cốt truyện.
- Điểm dừng ở đoạn cao trào / xung đột kịch tính: Kích thích HS suy luận về cách giải quyết mâu thuẫn và kết cục.
- Thiết kế công cụ bổ trợ học tập:
- Thẻ chặn sách gợi nhớ: Dùng để che các đoạn văn bản tiếp theo, ngăn ngừa việc đọc trước và nhắc nhở nhiệm vụ tư duy.
- Phiếu học tập và Phiếu ghi chép đối thoại: Thiết kế không gian để HS ghi lại dự đoán ban đầu, bằng chứng trích dẫn từ VB, và kết quả kiểm chứng sau khi đọc tiếp.
- Giai đoạn lên lớp (Tổ chức hoạt động dạy học):
- Giai đoạn Trước khi đọc: GV hướng dẫn HS quan sát nhan đề, ảnh minh họa, cách trình bày trang in để kích hoạt kiến thức nền và dự đoán chủ đề thể loại.
- Giai đoạn Trong khi đọc: Triển khai vòng lặp tư duy: HS đọc đến điểm dừng $\rightarrow$ Dừng lại trả lời câu hỏi dự đoán/suy luận $\rightarrow$ Chỉ ra căn cứ ngôn từ trong VB $\rightarrow$ Đọc tiếp phân đoạn sau $\rightarrow$ Kiểm chứng, điều chỉnh cách hiểu.
- Hình thức tổ chức: Kết hợp linh hoạt giữa làm việc cá nhân, thảo luận cặp đôi, làm việc nhóm nhỏ (6–12 HS) và đàm thoại toàn lớp.
- Xử lý tình huống sư phạm: Đưa ra giải pháp đối với trường hợp HS đã đọc trước văn bản bằng cách chuyển hướng câu hỏi từ "Dự đoán điều gì xảy ra" sang "Tìm kiếm các chi tiết báo hiệu cho kết cục đó".
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Chương 3 trình bày việc kiểm chứng thực tế các đề xuất tại Trường THPT Trần Phú (TP. Hồ Chí Minh):
- Quy trình thực nghiệm:
- Chọn mẫu thực nghiệm trên đối tượng HS lớp 10 học chương trình Ngữ văn 2018 (bộ sách CTST).
- Thiết kế Kế hoạch bài dạy (KHBD) thực nghiệm thể loại truyện có tích hợp kỹ thuật DR-TA, sử dụng thẻ chặn sách và phiếu học tập đối thoại.
- Triển khai bài kiểm tra chẩn đoán năng lực đọc trước thực nghiệm (Pre-test) và bài kiểm tra đánh giá sau thực nghiệm (Post-test).
- Xây dựng khung tiêu chí đánh giá bằng Rubric gồm 3 phần kỹ năng:
- Phần 1 (Rubric 1): Kỹ năng dự đoán và theo dõi diễn biến văn bản.
- Phần 2 (Rubric 2): Kỹ năng trích xuất bằng chứng và suy luận ý nghĩa.
- Phần 3 (Rubric 3): Kỹ năng kết nối, đánh giá và tạo nghĩa cho văn bản.
- Phân tích kết quả:
- Đánh giá định lượng: Điểm trung bình của HS sau thực nghiệm có sự chuyển biến tích cực rõ rệt ở cả 3 phần kỹ năng so với trước thực nghiệm. Tỷ lệ HS đạt mức độ thành thạo trong việc đưa ra dự đoán có căn cứ và trích dẫn ngữ liệu tăng lên đáng kể.
- Đánh giá định tính: Phân tích bài làm thực tế của các HS (mã số 201, 1804, 213, 223, 1809, 216, 229) cho thấy HS đã từ bỏ thói quen phán đoán tùy tiện, biết dựa vào chi tiết ngôn từ, không gian và hành động nhân vật để xây dựng lập luận. Ý kiến đóng góp từ GV dự giờ khẳng định tiết học diễn ra sôi nổi, giảm tải sự can thiệp áp đặt của GV và nâng cao tính chủ động của HS.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu lý luận và thực nghiệm sư phạm cụ thể:
1. Bảng so sánh đặc điểm kỹ thuật DR-TA với các kỹ thuật liên quan
| Tiêu chí |
Kỹ thuật DR-TA (Directed Reading-Thinking Activity) |
Kỹ thuật DRA (Directed Reading Activity) |
Kỹ thuật Content DR-TA (DR-TA Nội dung) |
| Mục tiêu trọng tâm |
Hình thành kỹ năng đọc-tư duy (dự đoán, suy luận, theo dõi, tạo nghĩa). |
Xóa bỏ rào cản từ vựng, giải thích các khái niệm trừu tượng, khó hiểu. |
Kiểm soát mức độ nắm bắt nội dung và thông tin chính của văn bản. |
| Vai trò của học sinh |
Chủ thể chủ động phán đoán, tìm chứng cứ và tự điều chỉnh cách hiểu. |
Đọc có hướng dẫn để trả lời các câu hỏi nhận biết khái niệm của GV. |
Đọc cá nhân, đánh dấu các ý tưởng trùng khớp với danh sách dự đoán ban đầu. |
| Vị trí tác động chính |
Giai đoạn Trước khi đọc và trọng tâm là Trong khi đọc. |
Trải đều từ Chuẩn bị đọc, Đọc, đến Sau khi đọc/Mở rộng. |
Trọng tâm ở giai đoạn Trước khi đọc và bước chuyển Sau khi đọc. |
| Ngữ liệu phù hợp |
Văn bản văn học (đặc biệt là văn bản hư cấu/truyện), văn bản giàu kịch tính. |
Văn bản có nhiều thuật ngữ khoa học, khái niệm phức tạp. |
Văn bản thông tin, văn bản khoa học xã hội/tự nhiên cung cấp sự kiện. |
2. Các giải pháp và đóng góp của đề tài
- Đóng góp về mặt lý luận:
- Làm rõ cơ chế nhận thức "Đọc - Tư duy" (Reading-Thinking) đồng thời, khẳng định đọc hiểu không phải là hành vi tiếp nhận thụ động tuyến tính mà là quá trình đối thoại liên tục giữa người đọc và văn bản.
- Mở rộng phạm vi hình thành kỹ năng của DR-TA: không chỉ dừng lại ở kỹ năng dự đoán đơn thuần mà phát triển thành hệ thống kỹ năng phức hợp gồm theo dõi tiến trình, trích xuất dữ kiện, suy luận và phản hồi thẩm mỹ.
- Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Xây dựng quy trình 2 giai đoạn (trước khi lên lớp và trên lớp) cùng các tiêu chuẩn xác định điểm dừng (không gian, nhân vật, cao trào) phù hợp với cấu trúc bài học trong SGK Ngữ văn 10 bộ Chân trời sáng tạo.
- Thiết kế bộ công cụ học liệu trực quan gồm thẻ chặn sách gợi nhớ, phiếu học tập, phiếu ghi chép đối thoại và bộ tiêu chí Rubric 3 phần để đánh giá kỹ năng đọc hiểu của HS.
- Đưa ra giải pháp sư phạm cụ thể giải quyết vấn đề quy mô lớp học đông và tình huống HS đã chuẩn bị/đọc trước văn bản ở nhà.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của đề tài:
- Phạm vi thực nghiệm: Nghiên cứu mới chỉ tiến hành thực nghiệm sư phạm ở phạm vi hẹp tại một trường THPT (THPT Trần Phú, TP. Hồ Chí Minh) trên một số lớp 10, chưa có điều kiện khảo sát diện rộng ở nhiều trường với điều kiện cơ sở vật chất và đối tượng học sinh khác nhau.
- Phạm vi thể loại và bộ sách: Đề xuất mới tập trung sâu vào thể loại truyện trong bộ sách giáo khoa Chân trời sáng tạo, chưa bao quát toàn diện các thể loại văn học khác trong chương trình.
- Rủi ro sư phạm: Tác giả chỉ ra hạn chế vốn có của kỹ thuật DR-TA là nguy cơ gây nhàm chán nếu GV lặp lại cấu trúc câu hỏi đơn điệu tại các điểm dừng, đồng thời kỹ thuật đòi hỏi HS phải có mức độ sẵn sàng nhất định về kỹ năng phán đoán ban đầu.
- Hướng phát triển tiếp theo:
- Nghiên cứu mở rộng việc ứng dụng kỹ thuật DR-TA cho các thể loại văn học khác như thơ trữ tình, kịch bản chèo/tuồng, ký, văn bản thông tin và văn bản nghị luận.
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các khối lớp 11, 12 THPT và cấp THCS.
- Thử nghiệm vận dụng trên các bộ sách giáo khoa khác thuộc CT GDPT 2018 (Kết nối tri thức với cuộc sống, Cánh diều).
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Sinh viên và học viên cao học: Ngành Sư phạm Ngữ văn, chuyên ngành Lí luận và Phương pháp dạy học môn Ngữ văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo về phương pháp dạy đọc hiểu theo định hướng phát triển năng lực.
- Giáo viên Ngữ văn THPT: Đặc biệt là GV trực tiếp giảng dạy lớp 10 theo Chương trình GDPT 2018 có thể ứng dụng trực tiếp các mẫu kế hoạch bài dạy, cách xác định điểm dừng và phiếu học tập vào thực tế đứng lớp.
- Nội dung có giá trị ứng dụng cao:
- Hệ thống tiêu chí và kỹ thuật xác định 3 loại điểm dừng (không gian nghệ thuật, giới thiệu nhân vật, đoạn cao trào).
- Mẫu phiếu ghi chép đối thoại và quy trình sử dụng thẻ chặn sách hỗ trợ kiểm soát lưu lượng thông tin.
- Bộ công cụ đánh giá năng lực đọc hiểu gồm 3 Rubric phân hóa rõ ràng theo các mức độ biểu hiện kỹ năng.
Câu hỏi thường gặp
1. Kỹ thuật DR-TA là gì và các chữ cái D-R-T-A đại diện cho các hoạt động nào?
Theo khóa luận, DR-TA (Directed Reading-Thinking Activity - Hoạt động Đọc-Tư duy có định hướng) là kỹ thuật dạy đọc hiểu, trong đó GV định hướng cho HS thực hiện đồng thời thao tác đọc và tư duy ở giai đoạn trong khi đọc bằng cách đưa ra cách hiểu tại các điểm dừng, kiểm chứng và điều chỉnh cách hiểu để kiến tạo nghĩa cho VB.
- D (Directed - Có định hướng): GV định hướng quá trình tư duy bằng câu hỏi tại các điểm dừng.
- R (Reading - Đọc): HS trực tiếp đọc từng phân đoạn của VB.
- T (Thinking - Tư duy): HS suy nghĩ, đưa ra cách hiểu và tìm chứng cứ trong VB để củng cố lập luận.
- A (Activity - Hoạt động): Hoạt động tương tác hai chiều giữa GV (hướng dẫn, phản hồi) và HS (chủ thể giải mã văn bản).
2. Một "điểm dừng tốt" trong kỹ thuật DR-TA cần thỏa mãn những điều kiện nào?
Theo nguyên tắc số 3 của khóa luận, một điểm dừng được xem là tốt khi thỏa mãn 3 điều kiện kỹ thuật:
- Cung cấp đủ thông tin để HS có căn cứ đưa ra dự đoán hoặc suy luận hợp lý.
- Chứa đựng yếu tố mới gợi mở để chuẩn bị cho các dự đoán ở phân đoạn tiếp theo.
- Có mật độ phù hợp, không chia cắt văn bản quá vụn vặt làm đứt gãy mạch cảm xúc và trải nghiệm thẩm mỹ của người đọc.
3. Tác giả đề xuất các loại điểm dừng nào khi dạy đọc hiểu thể loại truyện lớp 10?
Tác giả đề xuất 3 vị trí điểm dừng chiến lược trong văn bản truyện:
- Điểm dừng ở đoạn miêu tả không gian nghệ thuật: Dừng lại để HS dự đoán tính chất câu chuyện, bối cảnh tâm lý hoặc biến cố sắp xảy ra.
- Điểm dừng ở đoạn giới thiệu nhân vật: Dừng lại để HS nhận diện đặc điểm ngoại hình, ngôn ngữ, từ đó suy đoán tính cách và xung đột nhân vật.
- Điểm dừng ở đoạn cao trào: Dừng lại ngay trước nút thắt quyết định để HS phán đoán cách giải quyết mâu thuẫn và kết cục câu chuyện.
4. Giáo viên cần xử lý như thế nào nếu học sinh đã đọc trước văn bản ở nhà?
Khóa luận chỉ ra rằng nếu HS đã biết trước kết cục, câu hỏi dự đoán tương lai cốt truyện sẽ mất đi tính tự nhiên. GV cần linh hoạt điều chỉnh chiến thuật bằng cách chuyển từ câu hỏi dự đoán sự việc sang câu hỏi truy tìm dấu hiệu nghệ thuật (Ví dụ: "Em hãy tìm các chi tiết, hình ảnh trong đoạn văn vừa đọc đóng vai trò báo hiệu hoặc chuẩn bị cho kết cục mà em đã biết").
5. Kết quả thực nghiệm tại THPT Trần Phú chứng minh kỹ thuật DR-TA phát triển những kỹ năng cụ thể nào ở học sinh?
Dữ liệu định lượng từ các bài kiểm tra Pre-test/Post-test và bảng Rubric chứng minh DR-TA cải thiện rõ rệt 3 nhóm kỹ năng:
- Kỹ năng dự đoán và theo dõi: HS biết dựa vào các manh mối văn bản (nhan đề, không gian, hành động) thay vì suy đoán cảm tính.
- Kỹ năng trích xuất bằng chứng và suy luận: HS hình thành thói quen chỉ ra câu chữ cụ thể trong bài để bảo vệ quan điểm.
- Kỹ năng kết nối và đánh giá: HS biết tự kiểm soát quá trình hiểu, so sánh dự đoán ban đầu với kết quả thực tế để điều chỉnh nhận thức và tạo nghĩa cho văn bản.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Huỳnh Tâm Anh đã giải quyết thấu đáo vấn đề lý luận và thực tiễn của việc vận dụng kỹ thuật DR-TA trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học lớp 10 theo CT GDPT 2018. Bằng việc xây dựng quy trình triển khai chặt chẽ, xác lập các kiểu điểm dừng khoa học kết hợp với bộ công cụ học liệu bổ trợ (thẻ chặn sách, phiếu đối thoại, Rubric đánh giá), công trình đã cung cấp giải pháp sư phạm trực quan cho giáo viên Ngữ văn khi giảng dạy bộ sách Chân trời sáng tạo. Kết quả thực nghiệm sư phạm tại Trường THPT Trần Phú đã khẳng định tính khả thi và hiệu quả của kỹ thuật trong việc tích cực hóa vai trò chủ thể của học sinh, giúp người học làm chủ kỹ năng đọc - tư duy và tiếp nhận văn bản văn học một cách sâu sắc.