CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lí luận của đề tài 1. Khái quát về đọc hiểu và dạy học đọc hiểu văn bản * Đọc hiểu Theo Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (Programme for Internationnal Student Assessment, viết tắt là PISA) do Hiệp hội các nước phát triển OECD khởi xướng và chỉ đạo đã đưa ra quan niệm đọc hiểu là người đọc sử dụng những hiểu biết của mình để hiểu nội dung đang đọc, sau đó liên hệ, vận dụng với thực tiễn đời sống của mình, từ đó bổ sung trí thức và kinh nghiệm sống của cá nhân [66]. Theo quan niệm này, hiểu biết là hiểu nghĩa rộng, nghĩa hẹp, nghĩa tường minh và hàm ý từ tài liệu.
Tác giả Rumelhart lại quan niệm đọc hiểu là quá trình có sự tương tác giữa người đọc với văn bản. Còn theo Dilthey đọc hiểu là quá trình đọc có tính toán, có dự tính và suy ngầm về nội dung đọc để hiểu nó [64, Tr. Một số quan niệm đọc hiểu khác tập trung giải quyết ba vấn đề sau: Một là, đọc là đọc hiểu văn bản, thể hiện qua ba cấp độ của đọc hiểu là hiểu nguồn gốc của từ ngữ trong văn bản (nghĩa đen), hiểu những yếu tố không được nói trực tiếp trong văn bản (nghĩa bóng), hiểu được mối liên hệ giữa thông tin có trong văn bản và kiến thức hiện có của bản thân (liên hệ); Hai là, đọc hiểu là đọc và hiểu văn bản, đánh giá văn bản. Đọc hiểu bao gồm quá trình đọc hiểu, mức độ hiểu, tác dụng của việc đọc hiểu, ý nghĩa của việc đọc hiểu và thực hành đọc hiểu; Ba là, đọc hiểu giúp người đọc nâng tầm hiểu biết và tạo khả năng tư duy, phân tích.
Ở trong nước, phần lớn các tác giả đều quan niệm đọc hiểu là quá trình thâm nhập đầy đủ và sâu sắc vào ý nghĩa và giá trị của văn bản thông qua hoạt động đọc. Quá trình đọc hiểu theo 4 cấp độ là đọc hiểu từ ngữ, đọc tái tạo hình tượng từ văn bản nghệ thuật, đọc hiểu ý nghĩa TP và tình cảm của tác giả trong 12 TP, đọc hiểu sâu sắc nghệ thuật của TP. Tác giả Phạm Thị Thu Hương có viết: “Đọc hiểu văn bản thực chất là quá trình người đọc kiến tạo ý nghĩa của văn bản đó thông qua hệ thống các hoạt động, hành động, thao tác” [22]. Kế thừa các quan niệm trên, tác giả quan niệm: Đọc hiểu là một động từ chỉ hoạt động cơ bản của con người sử dụng các giác quan để lĩnh hội tri thức có trong tài liệu.
Nội hàm của đọc hiểu gồm có chủ thể, đối tượng, phương tiện, mục đích rõ ràng và quá trình thực hiện. Chủ thể đọc hiểu là con người; đối tượng đọc hiểu là tài liệu dưới dạng chữ, âm thanh hoặc hình ảnh; phương tiện đọc hiểu là các giác quan, tài liệu và các thao tác tư duy, trực tiếp là thị giác; mục đích đọc hiểu là nhằm hiểu thông tin trong tài liệu và cảm nhận cảm xúc của tác giả, có thể suy luận và vận dụng theo những ý muốn khác; đọc hiểu diễn ra hai quá trình song song, hỗ trợ cho nhau là quá trình đọc và quá trình hiểu. Đọc hiểu có chức năng phát triển khả năng tư duy và biểu đạt của người đọc. * Dạy học đọc hiểu văn bản Dạy học đọc hiểu là một khái niệm quen thuộc đối với GV ngữ văn bậc trung học phổ thông, nó được sử dụng nhiều trong dạy học môn ngữ văn, biến những người GV từ chỗ là người giảng văn thành người hướng dẫn đọc văn.
Trước kia, việc dạy văn ở các trường trung học phổ thông được thực hiện bằng cách GV hiểu văn bản sau đó giảng lại sự hiệu đó cho người học chép lại bằng ngôn ngữ của mình, cách ly người học với TP, người học không trực tiếp đối diện với TP. Vì vậy không có thói quen và khả năng khám phá TP. Điểu này là hoàn toàn sai bản chất của văn chương, đi ngược lại với nguyên tắc dạy học. Micheal Pressley trong cuốn “Cẩm nang nghiên cứu đọc” đã đưa ra quan điểm trong dạy học đọc hiểu điều quan trọng nhất là làm việc với văn bản gốc.
Vì vậy, điều đầu tiên là hiểu từ ngữ, phát triển vốn từ vựng và phát triển khả năng giải thích khái niệm [63, Tr. Như vậy, giáo dục nước ngoài coi dạy văn là dạy đọc văn, là phát triển cho người học năng lực đọc, kỹ năng đọc để người học có thể tự đọc và hiểu bất kì một văn bản nào. 13 Ở trong nước, tác giả Trần Đình Sử quan niệm: “Dạy học văn trong nhà trường chỉ có thể là thầy dạy đọc văn, trò học đọc văn chứ không thể có gì khác. Và môn học riêng về văn bản văn học trong nhà trường chỉ có thể định danh là môn đọc văn.
Mọi sự đọc dù động cơ thế nào, đều không thoát lí được việc tìm nghĩa văn bản, cho nên mọi sự đọc đều là đọc hiểu” [43, Tr. Như vậy, tác giả đã khẳng định, dạy văn ở nhà trường phải để cho HS tự mình tiếp xúc với văn bản, từ mình đọc từng câu, từng chữ trong TP, sau đó tự mình hiểu TP và rút ra những kết luận theo suy nghĩ của cá nhân. CTGDTX cấp Trung học phổ thông ban hành năm 2022 đã đưa ra yêu cầu đối với đọc hiểu văn bản nói chung tương tự như quan niệm trên, đó là để học trực tiếp đọc toàn bộ văn bản để hiểu nội dung kiến thức [9, Tr. Từ những dữ liệu trên, có thể quan niệm: Dạy học đọc hiểu văn bản là cách thức tổ chức dạy học phần văn bản trong môn Ngữ văn, nhằm cung cấp cho HS cách đọc, cách tiếp cận, khám phá những vấn đề về nội dung và nghệ thuật của văn bản, từ đó hình thành cho HS năng lực tự học một cách tích cực, chủ động, có sắc thái cá nhân.
GV là chủ thể hướng dẫn, truyền đạt kinh nghiệm và kỹ năng đọc hiểu cho người học. HS cũng là chủ thể tự bồi dưỡng, tự nâng cao khả năng đọc hiểu văn bản. Đối tượng dạy học đọc hiểu văn bản là HS, tiếp nhận thông tin truyền tải của người dạy, chuyển hóa thành kỹ năng và kinh nghiệm đọc hiểu văn bản của bản thân, thực hiện đọc hiểu dưới sự hướng dẫn của GV. Phương tiện dạy học đọc hiểu văn bản là văn bản cần đọc hiểu.
Mục đích của dạy học đọc hiểu văn bản là giúp HS biết cách đọc hiểu văn bản và có khả năng thực hành đọc hiểu văn bản, nâng cao khả năng tự học, từ đó phát huy và phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của HS. Khái quát về văn bản nghị luận văn học Sách giáo khoa Ngữ văn 11 trong Bộ Cánh diều định nghĩa về văn nghị luận là một loại hình văn học dùng lí lẽ, phán đoán, chứng cứ để bàn luận về một vấn đề nào đó [7, Tr. 14 Tiến sĩ Lưu Thị Hương Giang định nghĩa văn bản nghị luận theo hướng phân biệt nghị luận với tư cách một hành vi và văn bản nghị luận với tư cách phương tiện thể hiện hành vi. Hành vi nghị luận được thể hiện bằng văn bản nghị luận dưới hình thức nói và viết [20, Tr.
Văn bản nghị luận được phân chia thành các loại khác nhau, dựa trên các tiêu chí khác nhau như về nội dung luận bàn, mục đích xã hội, vấn đề được nghị luận, ngôn ngữ được sử dụng. Trong đó, nhóm tác giả Bùi Mạnh Hùng, Đỗ Ngọc Thống, Nguyễn Minh Thuyết đã căn cứ vào vấn đề được nghị luận để phân chia văn bản nghị luận thành VBNLVH và văn bản nghị luận xã hội [28]. Quan điểm này phù hợp với yêu cầu dạy học môn Ngữ văn lớp 10 trong CTGDTX cấp Trung học phổ thông được ban hành kèm theo Thông tư 12/2022/TT-BGDĐT. Kế thừa quan điểm trên, tác giả quan niệm VBNLVH là một bộ phận chính của văn bản nghị luận và có mối liên hệ với văn bản văn học.
Đi sâu phản ánh hiện thực khách quan và khám phá thế giới tình cảm, tư tưởng, thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ của con người bằng các luận điểm, luận cứ, dẫn chứng cụ thể, logic, có tính thuyết phục cao. Như vậy, có thể khẳng định, VBNLVH là loại văn bản có nội dung văn học nhưng được viết bằng phương pháp nghị luận, có chức năng phẩm bình, đánh giá và lí giải các hiện tượng văn học như tác giả, TP, khuynh hướng và trào lưu văn học, thể hiện sự cảm thụ tinh tế, phong phú về những giá trị văn chương. Những hình tượng nghệ thuật, ngôn ngữ thẩm mỹ trong văn học được biến thành các luận điểm và lý lẽ sắc bén vừa thuyết phục vừa để lại hình ảnh nghệ thuật trong người đọc. Ví dụ các VBNLVH như: Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, Gió thanh lay động cành cô trúc của Chu Văn Sơn, Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh, văn học và tác dụng chiều sâu trong việc xây dựng nhân cách văn hóa con người của Hoàng Ngọc Hiến.
Có thể đánh giá đặc trưng của VBNLVH như sau: 15 Một là, VBNLVH có tính thuyết phục cao, vừa thấu lí vừa thấu tình. Đây cũng là đặc trưng nổi bật của VBNLVH so với các văn bản khác như thơ, kịch, truyện,. Do vậy, khi đọc VBNLVH người đọc cần nắm được bản chất của vấn đề, các luận điểm, luận cứ được sử dụng trong TP. Đối với văn bản nghị luận xã hội, chủ yếu nghiêng về quan điểm cá nhân của tác giả, còn đối với VBNLVH lại được tác giả lập luận trên cơ sở khoa học sau đó mới bày tỏ quan điểm của mình.
Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh là một ví dụ điển hình nhất, Hồ Chí Minh đã dựa trên cơ sở là thắng lợi của cách mạng Việt Nam sau khi đánh đuổi được thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc, tự do cho nhân dân để tuyên bố với toàn thể nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế về nền độc lập, tự do của nước nhà. Hai là, phương tiện thuyết phục người đọc là lí lẽ, dẫn chứng sắc bén, logic mang dấu ấn của lý trí và tình cảm của tác giả. Để người đọc tin theo, đồng tình và ủng hộ thì VBNLVH phải lập luận và giải thích chặt chẽ bằng hệ thống luận chứng, lí lẽ và dẫn chứng sắc bén có tình khoa học, chân thực và đúng trong thực tiễn đời sống, luôn nhất quán trong TP, không phải là những lý luận xa rời thực tiễn.