CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Quan điểm dạy học theo định hướng phát triển năng lực Khái niệm năng lực có nguồn gốc Latinh “competentia” có nghĩa là “gặp gỡ”. Trong tiếng Anh, khái niệm năng lực hay khả năng tương ứng với các thuật ngữ “competence”, “ability” hay “capability”. Có rất nhiều định nghĩa về năng lực và khái niệm này thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu. Trong cuốn Từ điển thuật ngữ Tâm lý học tác giả Vũ Dũng lại cho rằng: 10 “Năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định”.499] Trong giáo dục học, người ta quan tâm nhiều đến năng lực hành động và coi trọng hơn năng lực cuộc sống.
“Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong những tình huống khác nhau trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động”[19,tr1]. Tóm lại, các năng lực hình thành trong quá trình rèn luyện, học hỏi. Dạy học phát triển năng lực là quá trình xây dựng, tổ chức và phối hợp nhịp nhàng giữa hoạt động của người dạy và hoạt động của người học, trong đó chú trọng tập trung vào kết quả đầu ra của quá trình này, trong đó nhấn mạnh kết quả người học cần đạt được các mức năng lực như thế nào sau khi kết thúc một giai đoạn (hay một quá trình) dạy học. Như vậy, năng lực có thể được định nghĩa theo rất nhiều cách khác nhau, tùy thuộc vào bối cảnh và mục đích sử dụng.
Từ những quan điểm trên, chúng tôi cho rằng năng lực là khả năng giải quyết (thực hiện) một cách hiệu quả các vấn đề đặt ra của cuộc sống trên cơ sở hiểu biết về lí thuyết (nhận thức) của đối tượng. Năng lực là nói đến khả năng đạt được một kết quả nhất định của một công việc cụ thể do một con người cụ thể thực hiện (năng lực học tập, 11 năng lực lao động, năng lực quan sát…). Năng lực không tồn tại chung chung, trừu tượng. Năng lực là một thuộc tính tâm lí phức hợp, là tổ chức các thuộc tính độc đáo của nhân cách, là điểm hội tụ của những yếu tố như tri thức, kĩ năng, thái độ, kinh nghiệm, sẵn sàng hành động, trách nhiệm đạo đức… Năng lực không chỉ dừng ở hiểu biết của con người, mà quan trọng là sự ứng dụng nó bằng những hoạt động cụ thể trên cơ sở vận dụng kiến thức, kĩ năng phù hợp.
Năng lực không phải là cái có sẵn, mang tính bẩm sinh mà bẩm sinh con người chỉ có những tư chất của năng lực.2 Dạy học theo chuẩn kỹ năng Đọc – Viết – Nói – Nghe Chương trình giáo dục phổ thông 2018 lấy việc rèn luyện các kĩ năng giao tiếp (đọc, viết, nói và nghe) làm trục chính xuyên suốt cả ba cấp từ Tiểu học đến Phổ thông nhằm đáp ứng yêu cầu của chương trình theo định hướng năng lực và bảo đảm tính chỉnh thể, sự nhất quán liên tục trong tất cả các cấp học, lớp học; phát triển hơn nữa tư tưởng dạy học tích hợp; coi trọng năng lực ngôn ngữ và chú ý đến việc vận dụng trong giao tiếp, phục vụ trực tiếp cho đọc, viết, nói và nghe hơnlà lý thuyết hàn lâm… Đó là những điểm mới nổi bật của nội dung Chương trình Ngữ văn mới. Đọc bao gồm yêu cầu đọc đúng và đọc hiểu. Yêu cầu về đọc hiểu bao gồm các yêu cầu hiểu văn bản (trong đó có cả đọc thẩm mĩ, cảm thụ, thưởng thức và đánh giá) và hiểu chính mình (người đọc). Ngoài ra, Viết không chỉ yêu cầu học sinh biết đặt câu, viết đoạn mà còn phải tạo lập được các kiểu loại văn bản, trước hết là các kiểu loại văn bản đơn giản, sau đó là một số kiểu loại văn bản phức tạp hơn.
Nói và nghe cũng được căn cứ vào nội dung của đọc và viết để luyện tập cho học sinh trình bày, nói và nghe tự tin, có hiệu quả; từ nói đúng đến nói hay, thuyết phục người nghe. 12 Kỹ năng đọc được hiểu theo nghĩa rộng, đầy đủ hơn với nhiều yêu cầu và mứcđộ khác nhau. Văn bản được chọn làm ngữ liệu đọc bao gồm văn bản văn học (chủ yếu là truyện, thơ, kịch, kí), văn bản nghị luận (nghị luận xã hội, nghị luậnvăn học), văn bản thông tin (văn bản thuyết minh, văn bản nhật dụng). Trong đó kĩ năng đọc văn bản văn học, được đặc biệt chú trọng.
Tuy vậy cần chú trọng cân đối giữa việc dạy đọc văn bản văn học, văn bản nghị luận và văn bảnthông tin; chú ý kết nối vấn đề đặt ra trong văn bản với các vấn đề của đời sống; chú ý kết nối dạy học đọc với dạy học viết, dạy nói và nghe. Kỹ năng viết bao gồm yêu cầu viết chữ, viết câu, viết đoạn và tạo ra được các kiểu loại văn bản, trước hết là các kiểu loại văn bản thông dụng trong thực tiễn cuộc sống, sau đó là một số kiểu loại văn bản phức tạp hơn [3]. Việc luyện viết theo quy trình cũng là một yêu cầu quan trọng của kỹ năng viết. Các kỹ năng nói và nghe thể hiện ở khả năng trình bày, nói và nghe tự tin, có hiệu quả; từ nói đúng đến nói hay.
Các nội dung kiến thức về văn học và tiếngViệt được tích hợp vào hoạt động dạy đọc, viết, nói và nghe. Tất cả các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung được đề cập trong Chương trình tổng thể đều được quan tâm trong dạy học và đánh giá thông qua các hoạt động dạy đọc, viết, nói và nghe [3]. Như vậy, nói - nghe là những kỹ năng rất quan trọng trong giao tiếp hàng ngày và giúp ích cho các em HS rất nhiều trong quá trình hình thành các mối 13 quan hệ và khẳng định bản thân trong xã hội. Qua thực tiễn dạy học môn Văn trước đây cũng như hiện nay, có thể thấy các kỹ năng này chưa thực sự được chú trọng rèn luyện và được phát triển cùng một lúc.
Vì vậy, chương trình Giáo dục Phổ thông 2018 đã khẳng định, việc dạy học kết hợp Đọc – Viết – Nói – Nghe nói chung và hình thành kỹ năng nói cho học sinh nói riêng cũng là một trong những trọng tâm quan trọng của việc dạy văn ở trường THCS.3 Văn bản nghị luận văn học và dạy học văn bản Nghị luận văn học trong nhà trường phổ thông 1.1 Khái niệm văn bản nghị luận và nghị luận văn học Văn nghị luận là văn được viết ra nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng, quan điểm nào đó. Muốn thế, văn nghị luận phải có luận điểm rõ ràng, có lí lẽ, dẫn chứng thuyết phục. [9, 10] Đặc điểm cơ bản của văn nghị luận là bao gồm luận đề, luận điểm, luận cứ và lập luận. Luận đề là vấn đề tổng quát, bao trùm cần được làm sáng tỏ, được đưa ra bình luận, đánh giá.
Luận đề được triển khai, phân tách thành nhiều luận điểm. Luận điểm là tư tưởng, quan điểm, ý kiến của người nói, người viết về vấn đề được đặt ra. Luận cứ là lí lẽ, dẫn chứng làm sáng tỏ cho quan điểm. Lập luận là cách sắp xếp, tổ chức phối hợp các luận cứ để chứng minh cho luận điểm.
VBNL có vị trí, vai trò rất quan trọng trong cuộc sống. Có thể thấy VBNL có mặt ở hầu khắp các hoạt động, từ những cuộc trò chuyện, trao đổi, hội họp trong sinh hoạt hằng ngày đến các báo cáo, tiểu luận, luận văn, điểm sách,. trong hành chính, khoa học, văn hóa. VBNL là một công cụ để con người hiểu nhau hơn, gần gũi nhau hơn và nhận chân được bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng.
Văn bản nghị luận là kiểu văn bản dùng lí lẽ và dẫn chứng để bàn luận, đánh giá về một vấn đề nào đó. Nói cách khác, văn nghị luận là một thể loại 14 nhằm phát biểu tư tưởng, tình cảm, thái độ, quan điểm của người viết một cách trực tiếp về một vấn đề văn học hoặc chính trị, đạo đức, lối sống… nhưng lại đượctrình bày bằng một thứ ngôn ngữ trong sáng, hùng hồn, với những lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu sức thuyết phục [6]. Văn bản nghị luận văn học: là những văn bản về các vấn đề văn chương – nghệ thuật: phân tích, bàn luận về vẻ đẹp của tác phẩm văn học; trao đổi về một vấn đề lí luận văn học hoặc làm sáng tỏ một nhận định văn học sử… như Nguyễn Đăng Mạnh và Đỗ Ngọc Thống khẳng định “đối tượng của bài nghị luận văn học dứt khoát phải là các vấn đề về tác phẩm, tác giả, trào lưu, xu hướng, giai đoạn văn học, những vấn đề về bản chất, quy luật, chức năng và nhiệm vụ của văn học,…”[46,tr18] Cho nên NLVH có đối tượng hết sức phong phú và đa dạng, đó là tất cả các sự kiện và vấn đề thuộc lĩnh vực văn học. Mục tiêu dạy học văn bản nghị luận văn học trong nhà trường Trong Chương trình Ngữ văn 2006, văn bản nghị luận chủ yếu được học ở các lớp cuối cấp THCS và cấp THPT (Bộ Giáo dục và đào tạo, 2006).
Ở nội dung đọc hiểu, chương trình chủ yếu giới thiệu một số văn bản nghị luận văn học, mục tiêu giúp học sinh phát hiện được hệ thống luận điểm, phân tích được kết cấu, giá trị và ý nghĩa của những luận điểm, luận cứ, dẫn chứng trong văn bản. Ở nội dung làm văn, học sinh được học các kĩ năng tạo lập văn bản nghị luận và xã hội, giúp các em sẽ có nhận thức sâu sắc, có quan điểm đánh giá rõ ràng, đúng đắn về các vấn đề. Đồng thời, các em còn học được cách suy nghĩ để giải quyết vấn đề hợp lí, sáng tạo theo cách của riêng mình, nhất là đối với những vấn đề rất gần gũi với cuộc sống hiện nay như khắc phục bệnh vô cảm, bảo vệ môi trường, ngăn ngừa thiên tai, dịch bệnh,. Theo đánh giá của nhiều giáo viên khi triển khai dạy học kiểu văn bản này, đặc biệt đối với HS đầu cấp lớp 6, khó khăn lớn nhất từ phía HS là tư 15 duy lập luận logic của các em chưa định hình.
Điều này là do chương trình lớp dưới ở cấp tiểu học chủ yếu là văn miêu tả, trần thuật, kể chuyện… nên thói quen của các em vẫn là tư duy phản ánh một chiều đối với hiện thực khách quan.