CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Xu thế đổi mới và phát triển dạy học hiện nay 1. Những nét đặc trưng cơ bản của xu hướng đổi mới dạy học 1) Trong xu thế mở rộng không gian tri thức nhằm phát triển một “xã hội học tập” ở tất cả các quốc gia, giáo dục ngày càng có vai trò như một động lực quan trọng nhất để bồi dưỡng nhân lực, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế xã hội. Do tác động đó, nhà trường muốn tồn tại và phát triển thì phải đổi mới cách dạy học cả về mục tiêu, nội dung và phương pháp, trong đó phương pháp là nhân tố quyết định chất lượng đào tạo.
Để đảm bảo cho sản phẩm đào tạo được nhanh chóng thích ứng với cơ chế mới, nhà trường phải tạo ra những hệ dạy học mềm dẻo, đa năng và hiệu nghiệm, thích hợp với đối tượng HS rất khác nhau về nhu cầu, trình độ và khả năng. Vì thế đã xuất hiện những hệ dạy học phù hợp với quá trình đào tạo phân hóa, cá thể hóa trình độ, như những hệ dạy học theo nguyên lý “tự học có hướng dẫn” đòi hỏi sự tự lực cao ở người học, đồng thời cả sự điều khiển sư phạm thông minh, khéo léo của người thầy. 2) Các phương pháp dạy học hiện đại được phát sinh từ những tiếp cận khoa học hiện đại, như tiếp cận hệ thống, tiếp cận môđun, phương pháp grap… Từ những phương pháp đó, đã xuất hiện những tổ hợp PPDH phức hợp, như dạy học nêu vấn đề, graph dạy học, mođun dạy học… Những tổ hợp phương pháp phức hợp này rất thích hợp với những hệ dạy học mới của nhà trường, và chỉ có chúng mới cho phép GV sử dụng phối hợp có hiệu quả với những hệ thống đa kênh, kể cả kỹ thuật vi tính, điều mà các PPDH cổ truyền không có khả năng thực hiện. 3) Ngày nay, khi mà mục tiêu của nhà trường đang định hướng rõ rệt cho việc bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực cho một nền kinh tế đang phát triển và biến đổi sâu sắc, nội dung trí dục của nhà trường cũng biến đổi cơ bản theo với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ.
Do đó, việc đổi mới PPDH phải gắn liền và chịu sự chi phối của cả mục tiêu (M) nội dung (N) và phương pháp dạy học (P) theo cấu trúc: 17 M N P Hình 1.1 Mối quan hệ giữa mục tiêu, nội dung và PPDH Việc dạy học ngày nay đã đạt đến trình độ công nghệ, do vậy, không chỉ nêu khẩu hiệu “cải tiến phương pháp dạy học” đơn thuần mà cần có sự tiến hành, theo tư tưởng tiếp cận hệ thống, cải cách cả hệ thống giáo dục, xác định mục tiêu đào tạo, nội dung trí dục và từ đó đổi mới PPDH. Một số mô hình đổi mới dạy học hiện nay ở Việt Nam 1. Dạy học lấy học sinh làm trung tâm 1) Khái niệm “học sinh là trung tâm” Quan điểm này được đưa ra lần đầu tiên vào đầu thế kỷ XX do nhà sư phạm nổi tiếng J. Với mong muốn đổi mới về phương châm giáo dục thời đó, J.Dewey đã khởi xướng tư tưởng: “Học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục”.
Đây là một tư tưởng hết sức tiến bộ thời đó. Quan điểm coi “học sinh là trung tâm” của J.Dewey muốn làm đa dạng hóa hoạt động học tập của HS ngoài sách giáo khoa và lời giảng của thầy giáo ở trường. Theo Dewey, dạy học không chỉ là công cụ truyền thụ tri thức mà còn là sự phát triển của kỹ năng và gây hứng thú cho người đọc. Đây là một điều mới mẻ, hấp dẫn và đáng chú ý, trái với lối học trung cổ còn ngự trị trong xã hội phương tây thời bấy giờ, mặc dầu chế độ phong kiến đã tiêu vong nhường chỗ cho chế độ tư bản công nghiệp.
Một điều đáng nói nữa về lý thuyết “học sinh là trung tâm” là một khuynh hướng tiến bộ lành mạnh nhằm giải phóng năng lực sáng tạo cho con người HS. 2) Bản chất của việc dạy học lấy học sinh làm trung tâm Để làm rõ bản chất của dạy học lấy HS làm trung tâm, chúng ta hãy so sánh những điểm khác nhau giữa hai kiểu dạy học theo bảng sau đây (theo tài liệu Chương trình dạy học của Intel).1 Sự khác nhau giữa dạy học lấy GV làm trung tâm với dạy học lấy HS làm trung tâm 18 Đặc Dạy học lấy GV làm trung tâm Dạy học lấy HS làm trung tâm điểm Nội Nội dung được quy định bởi một HS học các chủ đề dựa trên dung chương trình giảng dạy và tất cả chương trình giảng dạy và chuẩn HS học cùng một nội dung ở kiến thức, kĩ năng nhưng được cùng một thời điểm. phép có nhiều lựa chọn trong một chủ đề học. HS được quyền sử dụng thông HS được quyền sử dụng không tin trong giới hạn, do GV lựa hạn chế thông tin có các cấp độ chọn hoặc thư viện trường.
chất lượng đa dạng. Các chủ đề học thường cách biệt HS học nội dung có liên quan và không liên quan đến nhau, đến tất cả các chủ đề và đến thế đến các lĩnh vực chủ đề và đến giới thật. thế giới thật. HS học thuộc lòng các sự kiện HS thường xuyên tham gia vào và đôi khi phân tích thông tin việc phân tích, tổng hợp ở mức một cách độc lập.
độ cao đủ loại tài liệu khác nhau. HS làm việc để tìm ra một câu HS làm việc để xây dựng bất cứ trả lời đúng câu trả lời nào trong số những câu trả lời có thể. GV chọn các hoạt động và cung HS lựa chọn từ các hoạt động cấp tài liệu ở cấp độ thích hợp. khác nhau do GV cung cấp và thường quyết định cấp độ thử thách riêng.
Cách GV là người cung cấp thông tin GV là người hướng dẫn bên cạnh dạy – là vị thánh trên bục giảng – cung cấp cơ hội cho HS áp dụng học giúp HS đạt được kĩ năng và các kĩ năng và xây dựng kiến kiến thức. thức của riêng mình. HS là chuyên gia chỉ ra các điểm HS là chuyên gia và GV dựa vào 19 yếu của HS. những điểm mạnh của HS.
Dạy học là quá trình truyền đạt Dạy học là quá trình tự kiến tạo thông tin. HS hoàn thành những hoạt động HS thực hiện các hoạt động và và bài học ngắn, tách rời nhau, các dự án liên quan đến những dựa trên những mảng nội dung mục tiêu lâu dài nhằm xây dựng và kĩ thuật cụ thể. sự hiểu biết khái niệm sâu sắc và việc sử dụng phương pháp thành thạo. Môi HS học một cách thụ động, trong Môi trường lớp học giống như trường một lớp học thường là im lặng.
một nơi làm việc năng động với lớp nhiều loại hoạt động và mức độ học ồn ào khác nhau tùy thuộc vào loại công việc đang thực hiện. HS thường làm việc riêng lẻ. HS thường cộng tác với bạn học, chuyên gia, các thành viên cộng đồng và GV. Cách HS làm bài kiểm tra bằng bút và HS biết trước sẽ được đánh giá đánh giấy, một cách im lặng và riêng như thế nào, hiểu được các tiêu giá lẻ.
Câu hỏi được giữ bí mật cho chí sẽ đánh giá, nhận ý kiến phản đến giờ thi, để HS sẽ phải học tất hồi từ GV và bạn học trong suốt cả tài liệu, mặc dù chỉ kiểm tra bài học và có nhiều cơ hội để một phần trong đó. đánh giá cách học của riêng mình. GV chịu trách nhiệm chủ yếu đối GV và HS chia sẻ trách nhiệm với việc học của HS. đối với thành tích đạt được.
HS được kích thích nhưng không Sự quan tâm và đam mê của HS thực chất bởi mong muốn đạt thúc đẩy sự kích thích và nỗ lực dược điểm tốt, làm hài lòng GV có giá trị bản chất. 20 và giành được phần thưởng. Công GV sử dụng nhiều loại công HS sử dụng nhiều loại công nghệ nghệ nghệ khác nhau để giải thích, khác nhau để nghiên cứu, trao chứng minh và minh họa các chủ đổi thông tin và tạo ra kiến thức. Trong kiểu dạy học lấy HS làm trung tâm thì vai trò tích cực chủ động sáng tạo của người được phát huy, song vai trò của người dạy không hề bị hạ thấp.
Ngược lại, kiểu dạy học này yêu cầu GV phải có năng lực chuyên môn và sư phạm thật tốt, suy nghĩ tìm tòi sáng tạo, có tâm huyết và quyết tâm đổi mới phương pháp giáo dục để đóng vai trò là người gợi mở, hướng dẫn, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động học tập của học sinh, đánh thức các năng lực tiềm tàng trong mỗi cá nhân, chuẩn bị tốt cho các em tham gia đời sống cộng đồng. Tóm lại, bản chất của “dạy học lấy học sinh làm trung tâm” là: đặt người học vào vị trí trung tâm của quá trình dạy học, xem cá nhân người học với những phẩm chất, năng lực riêng của mỗi người – vừa là chủ thể, vừa là mục đích cuối cùng của quá tình đó, phấn đấu cá thể hóa quá trình học tập để cho các tiềm năng của mỗi cá nhân được phát huy tối ưu. Như vậy, định hướng và bản chất của dạy học “lấy học sinh làm trung tâm” không hề mâu thuẫn với quan niệm truyền thống về vai trò quyết định của GV đối với chất lượng và hiệu quả dạy học. Điều cần lưu ý là đề đảm bảo tính hiệu quả của kiểu dạy học lấy học sinh làm trung tâm, GV phải nắm được trình độ của các đối tượng, đặc điểm nội dung của chương trình các môn học, cấp học, các thiết bị dạy học để vận dụng linh hoạt trong tình huống dạy học.
Đổi mới PPDH theo hướng “hoạt động hóa người học” 1) Ý nghĩa, mục tiêu của chương trình “Đổi mới PPDH theo hướng hoạt động hóa người học” 21 Chương trình này do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức xây dựng và thực hiện trong thời gian 2 năm 1994 – 1995 nhằm đáp ứng nhu cầu sự nghiệp đổi mới giáo dục và đào tạo. Đây là một phương hướng thể hiện rõ nét mối quan hệ giữa mục đích – nội dung PPDH. Nó hoàn toàn phù hợp với luận điểm cơ bản của giáo dục học Macxit cho rằng con người phát triển trong hoạt động và học tập diễn ra trong hoạt dộng. Phương hướng này cũng nhằm đáp ứng một cách tích cực yêu cầu đổi mới PPDH để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề.