DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Đỗ Ngọc Thống (chủ biên), Tài liệu chuyên Văn, ba tập, NXB Giáo dục Việt Nam, 2012. Bùi Minh Toán – Lê A – Đỗ Việt Hùng, Tiếng Việt thực hành, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011. Nhiều tác giả, Sách giáo khoa Ngữ văn các lớp 6, 7, 8, 9, NXB Giáo dục Việt Nam.
Nhiều tác giả, Sách giáo khoa Ngữ văn các lớp 10, 11, 12 (chương trình Cơ bản), NXB Giáo dục Việt Nam. Nhiều tác giả, Sách giáo khoa Ngữ văn các lớp 10, 11, 12 (chương trình Nâng cao), NXB Giáo dục Việt Nam. Nhiều tác giả, Sách giáo viên Ngữ văn các lớp 10, 11, 12 (chương trình Cơ bản), NXB Giáo dục Việt Nam. Nhiều tác giả, Sách giáo viên Ngữ văn các lớp 10, 11, 12 (chương trình Nâng cao), NXB Giáo dục Việt Nam.
Nhiều tác giả, Tài liệu Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn lớp 10, 11, 12, NXB Giáo dục Việt Nam. 1 skkn THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN 1. Tên sáng kiến: Xây dựng hệ thống câu hỏi phần đọc hiểu văn bản trong các bài kiểm tra định kì môn Ngữ văn chương trình THPT 2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Dạy môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông 3.
Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ ngày 15 tháng 08 năm 2014 đến ngày 25 tháng 05 năm 2015 4. Tác giả Họ và tên: Vũ Thị Mỹ Hạnh Năm sinh: 1973 Nơi thường trú: 21/623 Trường Chinh - Nam Định Trình độ chuyên môn: Thạc sĩ Ngữ văn Chức vụ công tác: Giáo viên Nơi làm việc: Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong – Nam Định Địa chỉ liên hệ: Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong – Nam Định Điện thoại: 0987916411 5. Họ và tên: Cao Thị Huệ Năm sinh: 1976 Nơi thường trú: ngõ 32 đường Lê Hồng Phong – Nam Định Trình độ chuyên môn: Thạc sĩ Ngữ văn Chức vụ công tác: Giáo viên Nơi làm việc: Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong – Nam Định Địa chỉ liên hệ: Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong – Nam Định Điện thoại: 0978297943 2 skkn 5. Họ và tên: Nguyễn Thị Nghĩa Năm sinh: 1982 Nơi thường trú: 30D Liên Cơ, Phường Vị Xuyên, TP Nam Định Trình độ chuyên môn: Thạc sĩ Ngữ văn Chức vụ công tác: Giáo viên Nơi làm việc: Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong – Nam Định Địa chỉ liên hệ: Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong – Nam Định Điện thoại: 0946526383 5.
Họ và tên: Vũ Lan Phương Năm sinh: 1976 Nơi thường trú: 12/9 – Nguyễn Trãi – Phan Đình Phùng- Nam Định Trình độ chuyên môn: Thạc sĩ Ngữ văn Chức vụ công tác: Giáo viên Nơi làm việc: Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong – Nam Định Địa chỉ liên hệ: Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong – Nam Định Điện thoại: 0945497360 6. Đơn vị áp dụng sáng kiến Tên đơn vị Truờng THPT chuyên Lê Hồng Phong Địa chi: 76 Vị Xuyên – Nam Định Điện thoại: 0350. Điều kiện, hoàn cảnh tạo ra sáng kiến Năng lực, theo Từ điển tiếng Việt là: a) Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; b) Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao. Như vậy, năng lực được hiểu là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể, là sự tích hợp các kĩ năng tác 3 skkn động một cách tự nhiên lên các nội dung trong những tình huống cho trước để giải quyết các vấn đề do những tình huống này đặt ra.
Theo đó năng lực được xem như điểm hội tụ của các yếu tố tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, tinh thần sẵn sàng hành động, trách nhiệm đạo đức của mỗi con người được bộc lộ khi đối mặt với những vấn đề của cuộc sống. Trong xã hội hiện đại, mỗi cá nhân cần có những năng lực cần thiết như: tiếp nhận thông tin đa chiều của cuộc sống; thích ứng với những thay đổi trong thực tiễn; tham gia vào các hoạt động giao tiếp ứng xử có văn hóa; tự học, tự đánh giá và phê phán… Việc giảng dạy trong nhà trường vì vậy không chỉ trang bị những kiến thức sách vở, những vấn đề lí thuyết mà còn phải hướng tới rèn luyện, nâng cao các năng lực cho học sinh, bao gồm những năng lực chung (năng lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làm việc bình thường trong xã hội) và năng lực cụ thể, chuyên biệt (năng lực riêng được hình thành và phát triển do một lĩnh vực/ môn học nào đó). Là một môn học trong nhà trường, việc giảng dạy bộ môn Ngữ văn nói chung, môn Ngữ văn trong trường THPT nói riêng cũng cần đáp ứng yêu cầu đó. Cùng với những năng lực chung mà bất kì môn học nào cũng hướng tới góp phần hình thành và phát triển cho học sinh, môn Ngữ văn trong nhà trường nói chung và trường THPT nói riêng còn nhằm hình thành cho học sinh khả năng chiếm lĩnh khoa học về tiếng Việt và văn học; khả năng tư duy, diễn đạt và trình bày hiểu biết của bản thân về những gì học sinh lĩnh hội được qua môn học.
Theo đó, yêu cầu cơ bản của việc dạy học Ngữ văn là hình thành, phát triển cho học sinh hai năng lực: tiếp nhận văn bản (năng lực đọc - hiểu, giải mã văn bản được cung cấp và các văn bản cùng loại) và tạo lập văn bản (năng lực sản sinh ra các kiểu văn bản theo những yêu cầu cụ thể bằng cả hình thức nói và viết). Như vậy, đọc hiểu văn bản là một trong hai năng lực cần thiết mà người giáo viên Ngữ văn cần chú ý rèn luyện, nâng cao cho học sinh. Bên cạnh đó, trong đề thi THPT Quốc gia, phần đọc hiểu chiếm 3/10 điểm, không chỉ rèn cho học sinh năng lực 4 skkn đọc - hiểu, giải mã văn bản được cung cấp và các văn bản cùng loại, học sinh còn cần biết cách trả lời câu hỏi đọc hiểu trong một đề thi cho phù hợp. Xuất phát từ mục tiêu đó, người giáo viên có nhiều giải pháp để nâng cao năng lực đọc hiểu văn bản cho học sinh.
Trong phạm vi của sáng kiến kinh nghiệm, chúng tôi đưa ra giải pháp xây dựng Hệ thống câu hỏi phần đọc hiểu văn bản trong các bài kiểm tra định kì môn Ngữ văn chương trình THPT. Thực trạng vấn đề - Rèn năng lực tiếp nhận văn bản cho học sinh là một trong những mục tiêu quan trọng của môn Ngữ văn, đặc biệt là của các tiết đọc hiểu văn bản. Thông qua những văn bản cụ thể, người giáo viên cần hướng dẫn học sinh biết cách đọc hiểu những văn bản cùng một thời kì văn học, cùng một tác giả, cùng một thể loại… Tuy vậy, đưa đọc hiểu văn bản trở thành một yêu cầu trong đề thi Quốc gia môn Ngữ văn là vấn đề mới. Đứng trước yêu cầu của đổi mới thi cử, có một bộ phận không nhỏ học sinh thụ động, chỉ trông chờ vào sự hướng dẫn của thầy cô giáo với những văn bản trong chương trình sách giáo khoa trở nên hoang mang không biết sẽ tìm hiểu một văn bản ngoài chương trình sách giáo khoa như thế nào.
Cùng với đó, nhiều học sinh chưa biết cách trình bày câu hỏi đọc hiểu ví dụ như sa đà vào phân tích văn bản dài dòng mà không rõ ý đề bài yêu cầu… Vì vậy, trong số những giải pháp rèn kĩ năng đọc hiểu văn bản cho học sinh, việc thường xuyên hướng dẫn học sinh thực hiện bài tập đọc hiểu văn bản là việc làm cần thiết. - Kiểm tra, đánh giá là một trong những khâu quan trọng của quá trình dạy học. Trong chương trình THPT, theo kế hoạch của Bộ Giáo dục – Đào tạo, ở mỗi lớp học, học sinh được thực hiện 8 bài kiểm tra định kì, trong đó 6 bài kiểm tra trên lớp và 2 bài thi cuối học kì. Những bài kiểm tra cho học sinh trong chương trình THPT chỉ có yêu cầu tạo lập các loại văn bản (tự sự, thuyết minh, nghị luận) mà chưa có nội dung kiểm tra đọc hiểu.
Thực tế cho thấy, trong những bài kiểm tra, học sinh chưa được thực hiện các yêu cầu đọc hiểu thì trong các kì thi có tính chất Quốc gia, khi thực hiện yêu cầu phần đọc hiểu các em sẽ rất lúng túng. Do đó, cùng với các câu hỏi yêu cầu 5 skkn tạo lập văn bản, việc đưa ra câu hỏi đọc hiểu trong các bài kiểm tra chính là cách hiệu quả để rèn kĩ năng đọc hiểu văn bản cho học sinh. Định hướng xây dựng hệ thống đề - Về cách phân chia hệ thống đề: Chia ra hệ thống đề kiểm tra định kì cho học sinh theo chương trình 3 năm - lớp 10, 11, 12. - Về số lượng bài kiểm tra định kì cho mỗi lớp: 4 bài kiểm tra trên lớp (trừ 2 bài kiểm tra ở nhà) và 2 bài kiểm tra cuối học kì - Về thời gian làm bài: + Bài kiểm tra trên lớp: 90 phút + Bài thi cuối kì lớp 10, 11: 120 phút + Bài thi cuối kì lớp 12: 180 phút - Về cấu trúc đề: Một đề kiểm tra gồm 2 phần Đọc hiểu và Làm văn, trong đó chúng tôi chỉ ra câu hỏi phần đọc hiểu với điểm số 3/10 điểm - Các bước xây dựng đề kiểm tra đánh giá phần đọc hiểu văn bản + Xác định mục đích kiểm tra đánh giá: căn cứ kết quả cần đạt + Xác định nội dung kiểm tra đánh giá: căn cứ vào trọng tâm kiến thức, kĩ năng + Xác định mức độ kiểm tra đánh giá: các mức độ nhận biết, thông hiểu, vận dụng (vận dụng thấp, vận dụng cao) + Biên soạn câu hỏi và hướng dẫn chấm 2.
Hệ thống đề cụ thể 2. Hệ thống đề kiểm tra định kì lớp 10 phần Đọc hiểu Đề 1 (Bài viết số 2 lớp 10) - Yêu cầu chung + Thời gian làm bài 90 phút + Cấu trúc đề: phần Đọc hiểu và Làm văn (Văn tự sự), phần Đọc hiểu 3/10 điểm 6 skkn + Văn bản đọc hiểu: Văn bản văn học dân gian Việt Nam (sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười); Văn bản văn học nước ngoài (sử thi Hi Lạp, Ấn Độ); văn bản tự sự có sử dụng yếu tố miêu tả, biểu cảm. - Đề bài Đọc đoạn văn bản sau và trả lời các câu hỏi: Thời xưa ở làng Chử Xá(1) có hai cha con Chử Cù Vân và Chử Đồng Tử, nhà nghèo đến nỗi phải chung nhau một cái khố, hễ ai đi đâu thì đóng.