CHƯƠNG 1 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA LUẬN ÁN Câu điều kiện là kiểu câu rất quan trọng trong ngôn ngữ tự nhiên. Nhiều nhà ngôn ngữ học đã nhận thấy câu điều kiện tồn tại trong hầu hết các ngôn ngữ, như tiếng Hy Lap cổ dai, tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Latin, tiếng Hán và nhiều thứ tiếng khác nữa (Traugott, Meulen, Reilly, & Ferguson, 1986). Theo ngữ pháp truyền thống, đây là những câu phức ma cấu tạo bao gồm một mệnh đề chính (còn gọi là vế chính) và một mệ:h đề phụ (vế phụ). Ở một số ngôn ngữ như tiếng Việt, tiếng Anh., trật tự các mệnh đề rong câu điều kiện như sau: vế phụ thường đứng trước vế chính; đứng đầu vế phụ luôn l một liên từ điều kiện.
Ví dụ: (1) Tiếng Việt: Nếu _ trời mưa (thì) chúng tôi không đi chơi. Liêntừ mệnh đề mệnh đề chính điều kiện phụ (2) Tiếng Anh: If you do not get up early, we will be late. (Nếu anh không dậy sớm, anh sẽ bị muộn.) Liên từ mệnh đề phụ mệnh đề chính điều kiện Trong hoạt động ngôn ngữ, câu điều kiện là một thể loại cực kỳ phức tạp với những cách diễn đạt hết sức đa dạng, với những sự tác động chồng chéo giữa hình thíc, ý nghĩa và công dụng. Chính vì vậy, kể từ thời Aristotle, cấu trúc logic của câu điều kiqn đã là mối quan tâm lớn của các nhà triết hoc.
Chúng trở thành đối tượng nghiên cứu cue một số lý thuyết mà về sau có ảnh hưởng rất lớn trong triết học ngôn ngữ hoc, tiêu biểu là lý thuyết về hàm ý nhân quả (material implicature). Bên cạnh đó, câu điều kiện còn |i đối tượng nghiên cứu của tâm lý học tri nhận. Riêng trong lính vực ngôn ngữ học, các chuyên ngành cú pháp, ngữ nghĩa, ngữ dung, lịch sử ngôn ngữ, các phương pháp day và học igôn ngữ v. đặc biệt quan tâm đến chúng Dưới đây, chúng tôi sẽ điểm qua các khuynh hướng nghiên cứu câu điều kiệntrên thế giới (chủ yếu là ngôn ngữ học Âu Mỹ); tình hình nghiên cứu câu điều kiện trong Việt ngữ học; trình bày cơ sở lý thuyết chính của luận án và quan điểm chung của luận án về phạm trù câu điều kiện tiếng Việt.
Các khuynh hướng nghiên cứu câu điều kiện trên thế giới 1. Khuynh hướng cổ điển Do ảnh hưởng của quan niệm "tiêu chuẩn tính đúng" (the criteria for the truth) theo kiểu triết học, rất nhiều nhà ngôn ngữ học hướng đến một cách hiểu chung như sau về câu điều kiện: Câu điều kiện là những kết cấu trong đó tính đúng của mệnh đề này phụ thuộc vào mệnh đề kia (Palmer 1986; Dudman 1984). Mối quan hệ logic này giữa hai mệnh đề được các nhà logic gọi là hàm ý nhân qua, được biểu thi bằng công thức p> q. Grice (1975) cho rang liên từ điều kiện if (trong tiếng Anh) về mat ngữ nghĩa tương đương với khái niệm hàm nhân qua, được biểu thi bằng mũi tên "—>".
Các câu điều kiện chứa if có những đặc tính logic được phản ánh trong bang sau: Bang 1. Bảng phép toán mệnh dé —_ Mệnh dé đi trước (p) - Mệnh đề đi sau (q) | T T T (i) T F F (ii) F T T (iii) " mm.) T F ____fiv) | T: dung (true) | F: sai (false) _ _ ¬ Theo bảng này, mệnh đề đi trước của câu điều kiện xác định một sự tình, và sự tình đó là đủ cho tính đúng của mệnh đề đi sau. Quan điểm này có vẻ rất đơn giản, dễ áp dụng, và nó đưa ra sự đánh giá chính xác đối với những ví dụ sau: (3) Ifx = 3, then x’ = 0.) (4) If you mow the lawn, I'll give you £ 5. (Nếu anh xén bãi co, tôi sẽ cho anh 5 bảng.) (Dan theo Smith & Smith 1988 : 374) Cac ví dụ này khai thác dòng thứ nhất (i) của "phép toán mệnh dé", va đây là trường hợp phổ biến của hầu hết các câu điều kiện của ngôn ngữ tự nhiên.
Smith & Smith cũng nhận xét rằng "phép toán mệnh dé" áp dụng thuận tiện cho cả những câu như: (5) If you are a policeman, | am a Dutchman. (Nếu anh là cảnh sát, thì tôi là người Hà Lan.) (Dan theo Smith & Smith 1988 : 374) Theo cách phân tích "hàm ý nhân qua", tinh đúng được giả định của toàn bộ câu điều Kiện. kết hợp với tính sai rõ ràng của mệnh đề đi sau, chắc chắn dẫn đến kết luận là mệnh đề đi trước cũng phải sai. Như vậy câu này khai thác dong (iy) cña "phép toán mệnh dé".
Tuy nhiên, "bảng phép toán mệnh dé" tỏ ra không hiệu qua khi áp dụng vào nhiều câu điều kiện trong ngôn ngữ tự nhiên. Trước hết, dòng (ii) có vẻ không hợp lý trong giao tiếp, vì nó có giá trị sai trên tổng thể. Nếu đúng theo dòng (iii), một câu có thé đúng dù cho mệnh đề đi trước đúng hay sai, thì ví dụ (2) phải hiểu là: “dù anh có cắt c2 hay không cat cỏ, tôi vẫn sẽ cho anh 5 bảng”. Nhưng trên thực tế, không người bình thường nào hiểu câu (2) như thế, mà họ chỉ hiểu đơn giản là: "nếu anh không cat cỏ, tôi sẽ không cho anh 5 bảng".
Theo “phép toán mệnh dé” thì toàn bộ câu này có giá trị đúng. Tuy nhiên troag cuộc sống thực, câu này nhìn chung vô nghĩa, không dùng được. Một khó khăn khác, ngoài các nghịch lý kể trên, khi áp dụng "bảng phép toán mệnh dé" để phân tích các câu điều kiện trong ngôn ngữ tự nhiên, là bang này không đưa ra được một sự đánh giá tổng kết có sức thuyết phục dù chỉ rất nh› về tất cả các câu điều kiện. Rõ ràng là quan điểm này không thể dùng để phân ích các câu giả định (subjunctive), chang han, không có cách nào để tính được giá trị ding của ví dụ sau bởi vì mệnh đề đi trước có giá trị sai: (7) If pigs had wings, they could fly.
Tuy thế, có thể thấy là giải pháp này vẫn không làm cho các nghịch lý của “hàm ý nhân quả” giảm thiểu di, và quan điểm ngữ nghĩa này, dù có biện luận thế nào đi chăng nữa, cũng không có tính khả thi cao đối với việc phân tích toàn diện các câu đều Ikiện, đặc biệt khi ta muốn tìm hiểu công năng thực sự của chúng trong những hoàn cin) giao tiếp hiện thực. Một khuynh hướng có tính truyền thống khác là khuynh hướng phân tích theo kiểu miéu ta hình thức đơn thuần, vốn đã tồn tại rất lâu trong ngữ pháp nhà trường. Trường phái này chủ yếu tập trung phân tích những khác biệt trong hình thức ngôn ngữ giữa các câu điều kiện mà không quan tâm nhiều đến ngữ nghĩa. Chẳng hạn, nhà trường tập trung day sinh viên học tiếng Anh cách dùng chính xác các hình thái động từ trong những cấu trúc điều kiện như : (8) If he runs he will get in time.
(Nếu anh ấy chạy thì anh ấy sẽ đến kịp giờ.) (9) IfI lived near my office I would be in time for work. (Nếu ma tôi sống gan cơ quan thì tôi kip giờ di lam.) (10) If he had tried to leave the country he would have been stopped at thefrontier. (Néu ma anh ấy cố vượt biên thi anh ấy cũng bị chặn lai ở biên giới) Sinh viên không được phép nhầm lan các hình thái động từ thuộc ba kiểu câu điều kiện căn bản nói trên nếu muốn nói đúng tiếng Anh (A. Các nhà ngữ pháp chỉ chú ý tới hình thái động từ, tới tính chất thực hữu - phi thực hữu của điều kiện mà thôi.
Hầu như không có ví dụ nào khác được nhắc đến, ngoại trừ các hình thái động từ theo quy tắc trong ba kiểu câu điều kiện căn bản. Tuy nhiên, rất nhiều câu điều kiện không theo đúng quy tác ngữ pháp mà vẫn được sử dụng trong ngôn ngữ hằng ngày lại không thấy xuất hiện trong các công trình nghiên cứu này, chẳng hạn như câu Sau: (11) [f she is in the lobby, the plane arrived early. (Néu cô ấy dang ở tiền sảnh, thì máy bay đã hạ cánh sớm.) (Dẫn theo Dancygier 1998:62) Có thể thấy hai khuynh hướng trên đây có hai hướng tiếp cận khác nhau: một quan tâm nhiều đến ngữ nghĩa logic (thực chất là quan tâm đến tính đúng của câu điều kiện, như một hàm phụ thuộc vào tính đúng của các mệnh đề thành viên), một lại chú ý tới hình thái của động từ. Hai hướng tiếp cận này có những nhược điểm khá tương đồng: hoặc là chúng không bao quát được hết các dữ liệu, và sự đánh giá thường chỉ nhằm vào các trường hợp “trung tâm” hay “điển hình”, hoặc là chúng đưa ra những phân tích võ đoán, thiêu chính xác đối với những dữ liệu “xa trung tâm”.
Tóm lại, các công trình này chưa đưa ra được một sự phân tích thống nhất và toàn diện về hình thức và ý nghĩa của câu điều kiện. cũng như sự chế định qua lại giữa hai khía cạnh này. Khuynh hướng hiện dai Trong hơn một thập kỷ gần đây, ngôn ngữ học tri nhận đã và đang trở thành một trường phái ngôn ngữ hoc lớn mạnh trên thế giới. Ngôn ngữ hoc tri nhận nói chung và ngữ pháp tri nhận nói riêng tìm kiếm những mô hình lý thuyết về ngôn ngữ dựa trên nền tảng tâm lý học tri nhận, với những đại diện tiêu biểu là Fillmore (1977.1982), Lakoff và Johnson (1980), Langacker (1987,1991a, 1991b), Lakoff (1987), Fillmore, Kay, và O’Conor (1988), Fillmore va Kay (1994), Daneygier (1998),.
Theo Langacker: "Ngữ pháp tri nhận trái ngược một cách căn bản với các khuynh hướng nổi trội trong học thuyết ngôn ngữ học đương đại. Nó nói về biểu trưng trong lúc mọi người đang tìm hiểu ngữ nghĩa với sự trợ giúp của logic hình thức. Nó khẳng định sự dong nhất cú pháp với ngữ nghĩa trong lúc hau hết các nhà ngôn ngữ học thừa nhận địa vi của cú pháp nhu một hệ thống hình thức độc lập là một thực tế hiển nhiên. Nó tìm kiếm sự hoà nhập các khía cạnh khác nhau của cấu tric ngôn ngữ trong lúc người ta kêu goi sự chuyên môn hoá về học thuyết để xử lý các lĩnh vực riêng biệt của ngôn ngữ.
Như vay, ngữ pháp tri nhận cho rằng ngữ pháp và ngữ nghĩa có mối quan hệ tương hô chặt chẽ. “Ngữ pháp” không chỉ là sự miêu tả có tính hình thức về ngôn ngữ, mà quan trọng hơn, “ngữ pháp” là sự trình bày trí nhận của người nói về các quy ước ngôn ngữ. Theo quan điểm ngữ pháp tri nhận, “không thé không nói đến ngữ pháp mà không nói đến ngữ nghĩa, nói cách khác, ngữ pháp có chứa nghĩa và có tính biểu trưng trong bản chất của nó.