Chương 1: Cơ sở lý luận Chương 2: Câu điều kiện "nếu A thì B" trong tác phẩm "Báu vật của đời" bản tiếng Việt và tiếng Hán Chương 3: Kết quả luận văn và việc ứng dụng trong việc giảng dạy Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 4 CHƢƠNG 1. CÂU ĐIỀU KIỆN TIẾNG VIỆT VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 1. Khái niệm câu điều kiện Câu điều kiện là một kiểu câu rất phổ biển, tần số xuất hiện rất cao tồn tại trong hầu hết các ngôn ngữ nhƣ tiếng Việt, tiếng Hán, tiếng Anh, v. Về định nghĩa của câu điều kiện, đã có nhiều nhà ngôn ngữ học đƣa ra định nghĩa.
Hoàng Tuệ - nhà ngôn ngữ học Việt Nam, cho rằng “Câu điều kiện là một kết cấu phức hợp bao gồm 2 mệnh đề: một mệnh đề chính và một mệnh đề phụ chỉ điều kiện”. Trong luận án tiến sĩ “Câu điều kiện tiếng Việt - nhìn từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận”, tác giả Nguyễn Khánh Hà đã tổng kết nhƣ sau: “Câu điều kiện là một kiểu câu cơ bản, rất quan trọng trong ngôn ngữ tự nhiên. Nhiều nhà ngôn ngữ học đã nhận thấy câu điều kiện tồn tại hầu hết các ngôn ngữ, nhƣ tiếng Hy Lạp cổ đại, tiếng Đức, tiếng Latin, tiếng Hán và nhiều thứ tiếng khác nữa (Traugott, Meulen, Reilly, & Ferguson,1986).” Theo ngữ pháp truyền thống, đây là những câu phức mà cấu tạo bao gồm hai mệnh đề. Để làm rõ hơn khái niệm cũng nhƣ các vấn đề chung liên quan đến câu điều kiện, chúng tôi đã tham khảo rất nhiều ý kiến khác nhau của các tác giả và thống nhất sử dụng quan điểm về khái niệm câu điều kiện của tác giả Diệp Quang Ban.
Theo tác giả Diệp Quang Ban, câu điều kiện là loại câu nằm trong câu ghép. Để làm rõ khái niệm câu đầu kiện, chúng tôi xin đƣa ra một vài vấn đề cơ bản về câu ghép. Khái niệm câu ghép: “câu ghép là câu do hai (hoặc hơn hai) câu đơn kết hợp với nhau theo kiểu không câu nào bao chứa câu nào, mỗi câu đơn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 5 trong câu ghép tự nó thoả mãn định nghĩa về câu. Có thể dùng tên gọi “dạng câu” hay “vế câu” để chỉ câu nằm trong câu ghép” [2] Phân loại câu ghép: a.
Câu ghép chính phụ: Là câu ghép có quan hệ ngữ pháp không bình đẳng, thƣờng gọi là quan hệ chính phụ, hay quan hệ phụ thuộc giữa hai vế câu, vế phụ phụ thuộc vào vế chính. Vế phụ là vế chứa quan hệ từ phụ thuộc, quan hệ phụ thuộc đƣa vế phụ vào câu. Câu ghép chính phụ đƣợc phân loại thành những loại sau: 1. Câu ghép nguyên nhân 2.
Câu ghép điều kiện/giả thiết 3. Câu ghép nhƣợng bộ 4. Câu ghép mục đích b. Câu ghép đẳng lập: Là câu ghép trong đó quan hệ ngữ pháp giữa các vế câu là ngang hàng nhau, không vế nào phụ thuộc vào vế nào.
Câu ghép đẳng lập đƣợc phân loại nhƣ sau: 1. Câu ghép liên hợp (dùng quan hệ từ liên hợp) 2. Câu ghép tƣơng liên (dùng cặp phó từ, đại từ hô ứng) 3. Câu ghép tiếp liên (không dùng quan hệ từ và cặp từ hô ứng) Nhƣ vậy, câu điều kiện/giả thiết thuộc câu ghép chính phụ, chính vì vậy nó mang đầy đủ tính chất của câu ghép và câu ghép chính phụ.
Khái niệm câu điều kiện đƣợc tác giả Diệp Quang Ban đƣa ra trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (đã đƣợc Hội đồng thẩm định sách của Bộ Giáo dục và Đào tạo giới thiệu làm sách dùng chung cho các trƣờng đại học Sƣ phạm) nhƣ sau: “ Câu ghép điều kiện giả thiết là câu ghép chính phụ mà ở đầu vế phụ có chứa các quan hệ từ diễn đạt quan hệ điều kiện/giả thiết như: nếu, hễ, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 6 miễn (là), giá.Trong câu ghép điều kiện/giả thiết, ở đầu vế chính có thể xuất hiện từ “thì” đánh dấu vế chỉ hệ quả khi vế chính đứng sau.”[2] Ví dụ: Nếu mai trời nắng, chúng tôi sẽ đi du lịch. Một số điểm cần chú ý: + Trong kiểu câu này, khi vế phụ đứng trƣớc vế chính thì sẽ tạo ra quan hệ điều kiện/giả thiết hệ quả nhƣ ví dụ trên. + Nếu trật tự thay đổi ngƣợc lại, tức là vế chính đứng trƣớc thì sẽ tạo ra quan hệ sự việc – điều kiện/giả thiết, và trong trƣờng hợp này không đƣợc dùng từ “thì” đứng đầu vế chính nữa. Ví dụ nếu vế chính đƣợc đƣa lên trƣớc vế phụ thì câu sẽ có dạng: Chúng tôi sẽ đi du lịch, nếu trời nắng.” thƣờng đƣợc dùng khi sự việc là điều kiện đƣợc lặp đi lặp lại nhiều lần.
Ví dụ: Hễ trời mưa to thì con đường này lại bị ngập. + Ngoài cách biểu thị quan hệ điều kiện hệ quả, kểu câu ghép “nếu.thì” với trật tự vế phụ (vế chứa “nếu”) đứng trƣớc, còn đƣợc dùng diễn đạt quan hệ so sánh (không coi là câu chỉ điều kiện): Ví dụ: - Nếu tỉnh anh có nhiều mía, thì tỉnh tôi lại có nhiều dừa. - Nếu lớp các bạn đứng thứ nhất thì lớp chúng tôi cũng đứng vào hàng thứ hai. Tình hình nghiên cứu câu điều kiện trong tiếng Việt Trong lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ, đã có rất nhiều tác giả đề cập đến vấn đề câu điều kiện, các mức độ nông sâu của các nghiên cứu cũng không giống nhau.
Sau đây chúng tôi xin đƣa ra một số công trình nghiên cứu về câu điều kiện, xếp theo trật tự thời gian từ trƣớc đến nay. Hoàng Tuệ (1992) đã đƣa ra phân tích những câu có dùng cặp liên từ “ nếu.thì” và đƣa ra định nghĩa “Câu điều kiện là một kết cấu phức hợp, gồm 2 mệnh đề: một mệnh đề chính và một mệnh đề phụ chỉ điều kiện”. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 7 Nguyễn Kim Thản (1977): xếp kiểu câu có liên từ “Nếu” vào loại câu phức hợp có quan hệ qua lại. Tác giả cho rằng quan hệ điều kiện/giả thiết gồm 2 loại nhỏ.
Loại thứ nhất đƣợc gọi là câu điều kiện trong đó có một đoạn câu biểu thị ý nghĩa điều kiện. Hoàng Trọng Phiến (1980) sắp xếp câu điều kiện vào loại câu ghép qua lại hai chiều. Tác giả đƣa ra 82 mô hình câu điều kiện với 30 nhóm. Ông chỉ ra “Quan hệ 2 vế của câu điều kiện là quan hệ giữa cái đề xuất và cái hiệu quả phát sinh từ sự đề xuất đó.
Vế trƣớc nêu ra điều kiện, vế sau thuyết minh tình hình phát sinh hoặc hiệu quả”. [22] Nguyễn Anh Quế (1988) đề cập đến câu điều kiện xuất phát từ góc độ nghiên cứu cấu trúc của từ và từ loại tiếng Việt. Diệp Quang Ban (1989) xếp câu điều kiện/giả thiết vào câu ghép chính phụ (nhƣ đã trình bày trong phần khái niệm nhƣ trên). Cao Xuân Hạo (1991) đƣa ra quan điểm kết cấu " Nếu A thì B" bao gồm hai phần Đề (tƣơng đƣơng với Nếu A), và phần Thuyết (tƣơng đƣơng với thì B).
Đồng quan điểm này tác giả Diệp Quang Ban cũng đƣa ra quan hệ Đề - Thuyết trong câu ghép điều kiện/giả thiết. Hồ Lê (1992) chỉ ra câu điều kiện hệ quả có 2 tiêu chí ngữ pháp cơ bản là: a. Nội dung của điều kiện b. Tính chất của mối quan hệ điều kiện hệ quả Ngô Thị Minh (2001) khảo sát 26 cặp tác tử tình thái, trong đó có 10 cặp tác tử tình thái thuộc cấu trúc câu ghép điều kiện, bao gồm: Nếu A thì B, cứ A thì B, Hễ A thì B, chí có A mới có B, đã A thì B, giá A thì B, nếu nhƣ A thì B, phải chi A thì B, ƣớc gì A thì B, Bao giờ A thì B, Dù/mặc dù/dẫu A vẫn B.
Lê Thị Minh Hằng (2005), Câu điều kiện trong tiếng Việt (có đối chiếu với tiếng Nhật) là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách chuyên sâu về câu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 8 điều kiện. Tác giả chủ trƣơng tiếp cận câu điều kiện tiếng Việt từ góc độ ngữ nghĩa, logic. Quan hệ nhân quả đƣợc tác giả xem là đặc trƣng cốt lõi của ngữ nghĩa điều kiện và là cơ sở phân chia câu điều kiện thành 2 loại: câu điều kiện điển hình và câu điều kiện không điển hình. Ngoài ra tác giả cũng phân tích chi tiết các phƣơng tiện hình thức biểu hiện tính điều kiện trong câu điều kiện tiếng Việt, chú ý phân biệt câu điều kiện ở các bình diện nội dung, hình thức và hành động ngôn từ.
Nguyễn Chí Hoà (2008) phân tích câu điều kiện dựa trên các cách phân loại câu điều kiện quy định khả năng, câu điều kiện chỉ là mong muốn, không có tính khả thi, câu điều kiện tất nhiên, câu điều kiện giả định, câu điều kiện không có thật. Nguyễn Khánh Hà (2009, Câu điền kiện nhìn từ góc độ tri nhận) Có thể coi cuốn sách này là công trình đầu tiên ở Việt Nam áp dụng lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận vào nghiên cứu phạm trù câu điều kiện tiếng Việt. Thông qua việc nghiên cứu và ứng dụng lý thuyết ngôn ngữ học tri nhân vào nghiên cứu câu điều kiện, công trình góp phần giới thiệu một hƣớng đi mới trong việc tham khảo và ứng dụng các lý thuyết hiện đại trong ngôn ngữ học thế giới vào nghiên cứu tiếng Việt. Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã chỉ ra tính phổ biến của câu điều kiện “nếu A thì B” và phân tích các loại câu điều kiện trong nhóm nếu A thì B.
Có thể nói đây là một bƣớc tiến dài trong việc xác định tính phổ biến và đƣa ra ranh giới phân loại kỹ càng cho câu điều kiện thuộc nhóm nếu A thì B. Ngoài ra tác giả cũng phân tích cặn kẽ các nhóm kết cấu câu điều kiện có liên từ/cặp liên từ câu điều kiện, kết cấu có cặp từ hô ứng, nhóm kết cấu không có cặp từ/cặp liên từ hô ứng. Với mỗi loại câu tác giả đều Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 9 phân tích đặc điểm hình thức, đặc điểm ngữ nghĩa và đánh giá mức độ đáp ứng tiêu chí điển mẫu.3 Phân loại câu điều kiện tiếng Việt Hoàng Trọng Phiến (1980) phân loại nhƣ sau: - Câu điều kiện biểu hiện điều kiện tất nhiên: Loại này vế chính khẳng định hệ quả dựa vào tiền đề, điều kiện nêu ra ở vế phụ. Ví dụ: nếu không có nƣớc tƣới, lúa sẽ chết rụi.