Chương 1 MỘT SỐ VĂN ĐÈ VÉ PHƯƠNG NGỮ NAM BỘ. VÀ TÁC GIÁ SƠN NAM. Phương ngữ. Khái niệm phương ngữ Về khái niệm phương ngữ, các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều cách hiểu khác nhan.
‘Theo Vương Toàn, Đái Xuân Ninh, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Quang: "Phương ngữ là hình tiức ngôn ngữ có hệ thồng từ vừng, ngữ pháp và ngữ âm riêng biệt được sử dụng ở mặt phạm vĩ lãnh thỏ hay xã hội hẹp hơn là ngôn ngữ. Là hệ tiếng kí hiệu và quy tắc kết hợp có ¡guằn gắc chủng với hệ thẳng khắc được coi là ngôn ngữ (cho toàn dẫn tộc) các phương uf (cổ người gor là tiểng địa phương, phương ngõn) khác nhau trước hết là ở cách phát âm, sau đỏ là vốm từ vựng” (36: 232]. Hay ngắn gọn hơn như định nghĩa của. Hoàng Thị Châu: "Phương nạữ là một thuật ngữ ngôn nạữ học để chí sự biển hiển của ngân ngữ toàn dân ở một địa phương cứ thể với những tiết khác biến của nổ 4ö với nôn ngữ toàu đân hay với một phương nggữ khác”.
[]: 24] Ở đây, chúng ti thấy cũng cản phần biệt ngôn ngữ taàn đân và phương. Phương ngữ chỉ là biển thể của ngôn ngữ toàn đân. Tuy nhiên, phương nat là một he thẳng hoàn chỉnh riếng của nó chữ không phải là "một cất nhánh được tách ra từ thân cây” [7: 54] ngôn ngữ toàn dân. Ngôn ngữ toàn dẫn.
cũng không phải là cái trừu tượng còn phương nạữ là cái cụ thể, */PMương ngữ cũng như ngân ngữ lon đân đẫu có mặt triu tượng và mặt cụ thể". [T: 54] Trong Từ điển Tiểng Việt, khái niệm phương ngũ được hiểu như sau: Nguyễn Văn Ái trong Từ điển phương ngữ Nam Bộ chó tẳng: ®Có thể nối một cách nêm na phương ngữ là một chuỗi các nét biển dạng địa phương: cũa một Ngôn ngữ chung toàn dân,” [1:1] Trần Thị Ngọc Lang trong Đương ngữ Nam Bỏ thì cho rằng hầu hết cấc ngôn ngữ trên thế giới đều có những biển dạng địa phương và được thể hiện dưới các dạng ngân ngữ địa phương đó. Vì thể, có thể hiểu "Phương ngữ tà phương tiện diễn đạt và giao tiếp của một địa bàn (khu vực) dân cư." 13:10] Hoàng Thị Châu trong Tiếng Việt trên cúc miễn đất nước cho rằng: "Phương ngữ là thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biễu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phương cụ thểv “những nét khác biệt của nó sơ với ngôn ngữ toàn dan hayvới một ngôn ngữ Khác.” [6/24] Nguyễn Như Ý trung Tử điển đổi chiếu từ địa phương lại cho rằng: "Phương ngữ hay côn gọi là tiếng địa phương là linh thức ngữ ngữ được sử dụng trang công đẳng cứ đân tại một vùng, miễn nhất định trên một lãnh thổi một nước. ”, "phương ngữ là các hình thức biển thể địa lí và biển thể xã hội của ngôn ngữ đân tộc”.
[37:3] Huỳnh Công Tín trong Cám nhận bản sắc Nam Bộ cho rằng "phương. ngữ là một chuỗi các nết biển dạng địa phương từ một ngôn ngữ toàn dân, do những tác động địa l, xã hội mà dẫn hình thành. " (36; 344-245] Như vậy, tuycó nhiễu cách hiểu, cách diễn đạt khác nhau vẻ khái niệm phương ngữ nhưng tròng các cách hiểu trên vẫn có nét tương đồng, đó là phương ngữ chỉ được sử đụng giới hạn trong một địa phường, niột vùng nào. đồ và nó có những nết khác biệt so với ngôn nạữ toàn đân.
Nói một cách khát quất, phương ngữ là ngôn ngũ riêng của một vùng hay một khu vực với những tiết khác biệt sơ với ngôn ngữ toàn dân. Vấn để phân vùng phương ngữ tiếng Việt 'Vẻ phân vũng phương ngữ của tiếng Việt, có rất nhiều quan điểm khác nhau và cũng hễt sức phúc tạp. Có quan điểm cho rằng tiếng Việt không có vũng phương ngữ nào cả mà chỉ có một ngôn ngữ tiếng Việt mà thôi, Nhưng cũng cổ quan điểm cho là hai, là ba, là bến, hoặc thâm chí là năm vùng phương ngữ |7; 85-38]. Thomson ti người đưa re quan điểm không chia vùng phương.
ngữ của tiếng Việt. Bustrov có cũng quan điểm chia hai vùng phương ngữ: phương ngữ Bắc và phương ngữ Trung (tiếng miễn Nam giống phương ngữ Bắc). Hoàng Phê cũng chia làm hai vùng nhưng ranh. giới có khác: tiếng miễn Bắc (Hà Nội).
tiếng miễn Nam (có thành phổ Hỗ Chí Minh), ở khu vực giữa là vùng chuyển tiếp. ~ Quan điểm chia ba vùng phương ngữ: phương ngữ Bắc (Thanh Hoá và. Bắc Bộ), phương ngữ Trung (từ Nghệ An đến Đà Nẵng) và phương ngữ Nam. Đây là quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu mã tiêu.
biểu là Hoàng Thị Châu. - Cñe đại điền cho tan, điểm chu làm Bn: vùng phương sạữ có Nguyễn Kừn Thản: phương ngữ Bắc (Bắc Bộ và một phẩn Thanh Hoá), phương ngữ Trung Bắc (phía nam Thanh Hoá đến Bình Trị Thiên), phương ngữ Trung Nam (từ Quảng Nam đến Phú Khánh), phương ngữ Nam (từ Thuận. Hải trở vào); Nguyễn Văn Ái: phương ngữ Bắc Bỏ (từ các tình biên giới phía Bắc đến Thanh Hoá). phương ngữ Bắc Trung Bồ (từ Nghệ Tĩnh đến Bình Trị Thiên), phương ngữ Nam Trung Bộ (tử Quảng Nam - Đà Nẵng đến Thuận.
'Hãi), phương ngữ Nam Bỏ (tử Đồng Nai, Sông Bé đến mũi Cà Mau). - Chia làm năm vùng phương ngữ: phương ngữ miễn Bắc (Bắc Bộ và Thanh Hoá), phường ngữ Trung trên (tứ Nghệ An đến Quảng Trị), phương ngữ Trung giữa (từ Thừa Thiên đến Quảng Ngãi), phương ngữ Trung dưới (từ Bình Định đến Bình Tuy), phương ngữ Nam (tử Bình Tuy trở vào) là quan điểm của Nguyễn Bat Tu Các ÿ kiến, quan điểm trên đều lẫy trước hết ngữ ấm làm tiếu chí chính. để phân chía các vàng phương ngữ: Nếu lấy thêm tiêu chí từ vựng - ngữ nghĩa, ngữ phúp thì cũng chí đừng ở những vũng phương ngữ lớn mã thôi. Phương ngữ Nam Bộ 12.
Khái niệm phương ngữ Nam Bộ và phân vùng phương ngữ. Nam Bộ “Tiếng Việt xuất hiện ở vùng địa lí tử Thuận Hải trở vào, Hoàng Phê gọi 18 riểng miễn Nam, nơi có Sài Gòn (tp HCM) là trùng lâm (rong bài “Y kiến về một vấn để nhỏ: tru hay 2”, Ngôn ngữ số 4/ 1973). Nguyễn Kim Thần, Nguyễn Trọng Báu. Nguyễn Văn Tu gọi là phương ngữ Nom [28; 51-69] Tiếng Việt ở vùng địa lí từ Bình Tuy trở vào, Nguyễn Bạt Tuy cũng gọi là phương ngữ Nam (trong bài “Ngữ Việt trên đất Việt”, Văn hoá nguyệt san, Sài Gòn 1961.
Tiếng Việt ở vũng địa lí trải dài từ đềo Hải Văn đến cực nam Tế quốc, Hoàng Thị Châu gọi là piwơng ngữ Nam [7; 90], Tiếng Việt ở vũng địa lí từ Quảng Nam trở vào, Cao Xuân Hạo cho là phương ngữ miễn Nam [10: 140.v ‘Tir thé ki XVI, xuất hiện tiếng Việt ở địa phương Nam Bộ - vũng địa lí từ Đỗng Nai, Sông Bé đến mũi Cả Mau. Tiếng Việt ở vùng này được Nguyễn. gọi Tà phương ngữ Nam Bồ. Như vậy, không gian dia lí của tiếng miễn Nam, phương ngữ miễn Nam.
hay phương 0gữ Nam được các tắc giả xác định khá rông. Không gian địa lí của phương ngữ Naạt Bộ được xắc định hẹp hơn. Ranh giới phương ngữ Nam BO trùng với ranh giới địa lí tư nhiền Nam Bỏ ¡mà chủng ta đang quan niệm. Đây cũng là quan điểm trong việc xác định vùng phương ngữ Nam "Bộ của chúng tôi ở để tài này.2, Đặc điểm của phương ngữ Nam bộ.
Bất cứ một phương ngữ nào cũng đểu có những nét độc trưng vẻ ngữ âm, từ vựng - ngữ nghĩa, ngữ pháp so với các phương ngữ khác. Phương ngữ Nam Bộ cũng không nằm ngoài quy luật trên. Chúng tôi thông nhất với ý kiến sau đây của Hoàng Thị Châu: *. một phương ngữ được xắc định bằng một ấp lợp những dic hime ớ nhiễu mặt: ngữ âm.
từ Vưng ngữ nghĩa đối lập với phương ngữ khác" [T: 90]. 4 Vi Nam Bộ có điều kiện giao thông thuận tiện và là mảnh đất sớm có. nÊn kinh tễ hãng boể so với vùng khác côn đẩt nước cho nên phương ngữ Nam Bồ đã có sự ảnh hướng trên một vùng dân cư rộng lớn. “Một đặc điểm nổi bận tủa phương ngữ Nam Bộ là tính thống nhất cao của nó trên một vùng lãnh thổ.
Đặc điểm về ngữ âm. - Thanh điệu: Tiếng Nam Bộ chỉ sử dụng năm thanh điệu: ngang, huyền, hỏi (phát âm nhẹ nhàng), sắc, năng (theo cảm nhận cúa chúng tôi. thanh này cũng nhẹ hơn tiếng toàn dân). + Phụ ấm đẳu: Chỉ có 19 phụ âm.
So với 23 phụ âm trang hè thong phy âm chuẩn thì phương ngữ Nam Bộ không có 3 phụ âm cong lưỡi ⁄4. z- Ự (giếng phương ngữ Bắc), không có phụ ãm môi ~ răng /// (phụ âm đầu /v, z⁄ đều phát âm là /Z (tuy nhiên, /z không phát âm giống tiếng Việt toän dân mà. phát âm giống *j"). Cá biệt có một số nơi thuộc vừng Đâng Nam Bộ phát âm.
phụ âm đầu /t thành /x/' (thịt — khi), một số nơi thuộc ving miễn Tây Nam. Bộ phát âm /z. Các phụ âm /1-, h-/ khí đứng trước uy, wa, vo thì phát âm giống nhau. (vida, “qua”, “hoa” du thin “wa.
~ Vẩn: Âm đệm #-w-/ hoặc bị lược bỏ (loan — lan, luyễn — liền.), hoặc được nhắn mạnh thành âm chính (loan ~2 lon). Các nguyên âm đồi lie. ty, wo) khi di với /-m, -p/ cuối thì mất yếu tổ sau (tiêm ~> tim, lướm —› lựm, luộm thuộm —»lụm thụm. Các âm đơn /x, x / đứng trước phụ âm cuỗi /-p, - mu đễu thành /oƒ (nom, nem —› nôm), Âm chính /ã/ trong vẫn "ay” đọc thành.
Một số nơi thuốc vùng Đông Nam Bộ phát âm vẫn “êm. êp” thành "im ip” (đêm —z đìm). ~ Phụ âm cuối: Phát âm không phân biệt /-n / với /-p / (tan ~ tăng), /- với /-M/ (mắt = mắc). Ngữ âm trong Phường ngữ Nam Bộ (mà tiêu biểu là tiếng Sài Gòn) đã.
có những biển đỗi tích cực: có xu hướng tiến gắn đến cách phát ấm với các thể đối lập được ghi trên chữ viết. Đặc điểm về từ vựng - ngữ nghĩa Phương ngữ Nam Bồ cũng như các phương ngữ khác, nó có quy luật phát triển riêng, gắn với đặc điểm xã hội và tâm lí con người địa phương. VỀ nguyên tắc làm việc. theo chúng tôi.
muốn xác định đó có phải từ địa phương Nam Bộ hay không. người ta phái căn cử vào việc người Nam Bộ. có thông hiểu và quen dùng không. Hơn thể nữa, như đã hình dung.
mỗi phương ngữ là một hệ thống. việc sưu tập tư liệu đầu tiên và trướ là dựa vào tính phổ biển ở địa bàn đang kháo sát. Các cuộc khảo sát ở các phương. ngữ khác sẽ làm rõ thêm đặc điểm này.
Mặt khác, như ai nấy đều biết. tiếng Việt là mốt ngôn ngữ thống nhất khá cao.