Tổng quan luận án
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Văn học dân gian là một bộ phận của văn hóa dân gian, lưu giữ các giá trị phản ánh quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của cộng đồng. Các nghiên cứu văn học dân gian truyền thống chủ yếu dựa trên quan điểm diễn giải văn bản từ các thành tố ngôn ngữ nội tại. Tuy nhiên, hướng tiếp cận bối cảnh (contextual approach) trong folklore học hiện đại xem folklore là một quá trình diễn hóa bao gồm hiện thực, nghệ thuật và giao tiếp, đặt trọng tâm vào các yếu tố ngoài văn bản.
Tại Việt Nam, trong khi hướng tiếp cận bối cảnh đã bước đầu được áp dụng cho một số thể loại như tục ngữ, truyện kể dân gian thì thể loại ca dao - dân ca vẫn chưa được khảo sát tương xứng. Thực tế này dẫn đến việc nhiều bối cảnh sử dụng và dạng thức tồn tại cụ thể của ca dao - dân ca ít được ghi nhận, có nguy cơ mai một trong đời sống hiện đại. Luận án lựa chọn đối tượng khảo sát là ca dao - dân ca người Việt tại tiểu vùng văn hóa Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nhằm giải quyết khoảng trống trong việc nghiên cứu thể loại này gắn liền với bối cảnh diễn xướng và giao tiếp thực tế.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Vận dụng lí luận của lí thuyết bối cảnh để xác định những vấn đề còn bỏ ngỏ trong nghiên cứu, sưu tầm ca dao - dân ca; xây dựng cơ sở lí luận và công cụ tiếp cận cho việc sưu tầm, nghiên cứu ca dao - dân ca tại ĐBSCL.
- Làm rõ vai trò, vị trí của ca dao - dân ca ĐBSCL trong đời sống văn hóa qua các giao tiếp nói năng và các hình thức diễn xướng dân ca, khẳng định giá trị của di sản folklore trong đời sống tinh thần của cư dân địa phương.
- Chỉ ra những đặc điểm của ca dao - dân ca ĐBSCL và mở ra những định hướng trong nhận diện thể loại ca dao - dân ca từ góc nhìn bối cảnh.
- Đề xuất định hướng cho các hoạt động nghiên cứu, sưu tầm và quản lí di sản ca dao - dân ca ĐBSCL trong bối cảnh đương đại.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để hoàn thành các mục tiêu trên, luận án thực hiện 7 nhiệm vụ khoa học:
- Hệ thống hóa cơ sở lí luận nghiên cứu văn học dân gian và ca dao - dân ca dưới góc nhìn bối cảnh thông qua tổng thuật các quan niệm lí thuyết và công trình tiêu biểu.
- Xác định các vấn đề còn tồn tại của việc nghiên cứu ca dao - dân ca truyền thống.
- Xây dựng cơ sở lí luận và công cụ tiếp cận đối tượng ca dao - dân ca ĐBSCL từ hướng tiếp cận bối cảnh.
- Thu thập, tập hợp, thống kê ca dao - dân ca ĐBSCL gắn với các dạng thức tương ứng trong thực tế sử dụng.
- Phân loại các dạng thức tồn tại trong bối cảnh của ca dao - dân ca ĐBSCL.
- Nhận diện đặc điểm các yếu tố văn bản và ngoài văn bản; phân tích, đánh giá các thành tố tiêu biểu trong từng dạng thức bối cảnh cụ thể.
- Hệ thống hóa các luận điểm định hướng nhận diện đặc trưng thể loại ca dao - dân ca và hệ thống đặc điểm ca dao - dân ca ĐBSCL từ góc nhìn bối cảnh.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Ca dao - dân ca người Việt ở dạng thức gắn liền với bối cảnh thực tế tại ĐBSCL, bao gồm hai dạng thức chính: ca dao - dân ca trong giao tiếp nói năng và ca dao - dân ca trong các hình thức diễn xướng âm nhạc dân gian.
- Đối tượng loại trừ: Không khảo sát ca dao - dân ca của các dân tộc thiểu số khác cùng sinh sống tại ĐBSCL (như người Hoa, Khmer, Chăm); không khảo sát ca dao - dân ca trẻ em (đồng dao).
- Phạm vi không gian: Tiểu vùng văn hóa Đồng bằng sông Cửu Long. Các vùng miền khác chỉ được đề cập khi cần so sánh, đối chiếu.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào các dạng thức diễn xướng tiêu biểu gồm hát ru, hò, lí và hát huê tình. Luận án tạm thời không đi sâu vào các yếu tố kỹ thuật âm nhạc học thuần túy như hệ thống thang âm hay phân tích bản ký âm chuyên sâu.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu quốc tế về folklore trong bối cảnh
Lịch sử nghiên cứu folklore thế giới ghi nhận sự chuyển dịch trọng tâm từ văn bản sang bối cảnh và diễn xướng:
- Khởi nguồn: Năm 1925, B. Malinowski nêu những nhận xét bước đầu về mối quan hệ giữa văn bản và ngữ cảnh văn hóa.
- Cuộc tranh luận Text - Context (1965–1979): Tại Hoa Kỳ diễn ra cuộc tranh luận học thuật giữa trường phái truyền thống (coi folklore đồng nhất với văn bản ngôn từ tĩnh) và trường phái bối cảnh (coi folklore là thực thể diễn xướng trong bối cảnh sống).
- Alan Dundes (1964) trong bài viết Texture, Text and Context đề xuất mô hình phân tích ba cấp độ: kết cấu, văn bản và bối cảnh, nhấn mạnh việc sưu tầm bối cảnh giúp giải thích nguyên nhân xuất hiện dị bản và xác định thể loại.
- Dan Ben-Amos (1967, 1971) với các tiểu luận Folklore: The Definition Game Once Again và Toward a Definition of Folklore in Context đã định nghĩa lại folklore như một "hành động nghệ thuật trong quá trình giao tiếp ở nhóm nhỏ".
- Barbara Kirshenblatt-Gimblett (1969) với công trình A Parable in Context: A Social Interactional Analysis of Storytelling Performance và Robert A. Georges (1969) với Toward an Understanding of Storytelling Events đã vận dụng phân tích tương tác xã hội vào sự kiện kể chuyện.
- Phái phản biện bảo vệ quan điểm trung tâm văn bản gồm có D. Wilgus (1973 với bài phát biểu The Text is the Thing), Roger Welsch, Stephen Jones, bày tỏ quan ngại việc tuyệt đối hóa bối cảnh sẽ làm mờ nhạt đối tượng trung tâm của văn học dân gian.
Tiếp nhận lí thuyết bối cảnh và nghiên cứu ca dao - dân ca tại Việt Nam
- Tiếp nhận lí thuyết: Các bài viết của Nguyễn Thị Hiền (1999, 2000), Trần Thị An (2008), Hồ Quốc Hùng, Nguyễn Hữu Nghĩa, Huỳnh Vũ Lam, Lê Thị Thanh Vy đã giới thiệu các trường phái folklore phương Tây và phương pháp tiếp cận diễn xướng.
- Các công trình ứng dụng tiêu biểu:
- Lê Thị Thanh Vy (2013, 2020) nghiên cứu bối cảnh sử dụng tục ngữ trong văn học Việt Nam.
- Huỳnh Vũ Lam (2015, 2019) nghiên cứu truyện dân gian Khmer ĐBSCL dưới góc nhìn bối cảnh diễn xướng.
- Nguyễn Hữu Nghĩa (2018) nghiên cứu truyện cổ dân gian có yếu tố Phật giáo tại Việt Nam và Myanmar.
- Nghiên cứu và sưu tầm ca dao - dân ca ĐBSCL:
- Giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX: Trương Vĩnh Ký (Miscellanées, 1888), Trương Minh Ký (Câu hát An Nam, 1886), Huỳnh Tịnh Của (Recueil de Chansons populaires, 1897/1910).
- Giai đoạn trước 1975 ở miền Nam: Phạm Khắc Thiệu, Nguyễn Văn Ngọc, Phạm Duy (Đặc khảo về dân nhạc ở Việt Nam, 1972), Nguyễn Kiến Thiết (Tánh cách đặc thù của ca dao miền Nam, 1972), Nguyễn Văn Hầu, Lê Văn Hảo, Lữ Phương.
- Giai đoạn sau 1975: Lư Nhất Vũ và Lê Giang (Dân ca Bến Tre, 1981; Tìm hiểu dân ca Nam bộ, 1983); Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị (Ca dao dân ca Nam bộ, 1984); Đỗ Văn Tân (Ca dao Đồng Tháp Mười, 1984); Huỳnh Ngọc Trảng (Ca dao dân ca Nam kỳ lục tỉnh, 1999); các công trình địa chí văn hóa của Chu Xuân Diên, Nguyễn Kim Châu, Trần Văn Nam.
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
Qua tổng lược tài liệu, luận án chỉ rõ 4 vấn đề còn bỏ ngỏ:
- Ca dao - dân ca phần lớn vẫn bị tiếp cận như một chỉnh thể ngôn từ độc lập tách rời khỏi sự kiện diễn xướng; công tác sưu tầm truyền thống chủ yếu lược bỏ tiếng đệm, tiếng lót, luyến láy để thu về văn bản thơ cố định.
- Khi bối cảnh được đề cập, các nhà nghiên cứu thường chỉ mô tả bối cảnh lịch sử - xã hội chung mang tính khái quát, chưa xem bối cảnh trực tiếp là một thành tố hữu cơ cấu thành sự kiện folklore cụ thể.
- Quan niệm phân lập xem ca dao thuộc lĩnh vực văn học còn dân ca thuộc lĩnh vực âm nhạc, làm đứt gãy tính nguyên hợp của hiện tượng folklore.
- Thiếu vắng các bộ công cụ thu thập và xử lý tư liệu điền dã phản ánh ca dao - dân ca như một quá trình giao tiếp thực tế trong đời sống thường nhật và trong diễn xướng dân gian ĐBSCL.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm công cụ
- Lí thuyết bối cảnh trong folklore học (Performance Theory / Contextual Folklore): Tiếp cận folklore như một hành vi giao tiếp, một sự kiện tương tác nghệ thuật diễn ra trong bối cảnh cụ thể giữa người biểu diễn và người tiếp nhận.
- Khung phân tích cấu trúc - hệ thống sự kiện diễn xướng: Coi mỗi sự kiện sử dụng ca dao - dân ca là một hệ thống gồm các thành tố: người diễn xướng/người nói, người nghe/người tham gia, văn bản/lời ca, không gian - thời gian, trạng thái tâm lý trước - sau diễn xướng, và hoàn cảnh giao tiếp cụ thể.
- Lý thuyết hội thoại (Conversation Analysis) và Ngữ dụng học: Ứng dụng các khái niệm cuộc thoại, cặp thoại, tham thoại, hành động ngôn từ (dẫn lời, mượn lời, khóa diễn xướng) để giải mã dạng thức nói năng của ca dao.
- Chức năng luận (Functionalism): Phân loại và nhận diện các chức năng cụ thể, chức năng khái quát và tổ hợp chức năng của ca dao - dân ca trong đời sống sinh hoạt và lao động.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp thống kê mô tả:
- Phương pháp thống kê, phân loại: Thống kê tần suất xuất hiện của các dạng thức bối cảnh, cấu trúc cuộc thoại, độ tuổi, giới tính của người sử dụng; phân loại các nhóm chức năng và các tiểu dạng thức diễn xướng.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phân tích chi tiết các mẫu ngữ liệu thu thập được từ điền dã và tác phẩm văn học, từ đó tổng hợp thành các mô hình cấu trúc bối cảnh.
- Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Xác định mối quan hệ tương tác giữa thành tố văn bản và các thành tố ngoài văn bản trong sự kiện diễn xướng.
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: So sánh giữa dạng thức nói năng và dạng thức dân ca; đối chiếu ca dao với tục ngữ; so sánh đặc điểm ca dao - dân ca ĐBSCL với các vùng miền khác.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp tri thức của folklore học, văn học dân gian, nhân học văn hóa, văn hóa học và ngôn ngữ học hội thoại.
- Phương pháp điền dã: Sử dụng mạng lưới cộng tác viên được tập huấn kỹ thuật và quy trình ghi nhận nhân học để thu thập các sự kiện giao tiếp và diễn xướng thực tế tại địa bàn ĐBSCL.
Nguồn tư liệu và quy ước ngữ liệu
Nguồn tư liệu của luận án được phân định theo các đặc tính: hoàn chỉnh/không hoàn chỉnh, trực tiếp/gián tiếp, đồng đại/lịch đại, bao gồm:
- Tư liệu điền dã trực tiếp: Các biên bản ghi nhận cuộc thoại thực tế đời sống (được mã hóa bằng ký hiệu
NN kèm số thứ tự ba chữ số, ví dụ: NN017, NN021, NN058, NN102, NN144).
- Tư liệu văn học và nghệ thuật sân khấu: Trích xuất các sự kiện diễn xướng được tái tạo gián tiếp trong tác phẩm của các tác giả Nam Bộ như Sơn Nam (Con Bảy đưa đò), Nguyễn Ngọc Tư (Làm má đâu có dễ, Của ngày đã mất), vở cải lương của Điêu Huyền (Tiếng hò sông Hậu).
- Tư liệu sưu tầm truyền thống và âm nhạc dân gian: Các tập ca dao, dân ca Nam Bộ đã xuất bản và các bản thu âm/ký âm bài hát dân gian.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề trong tiếp cận ca dao dưới góc nhìn bối cảnh
Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu folklore từ góc nhìn bối cảnh tại Hoa Kỳ và quá trình tiếp nhận tại Việt Nam. Tác giả phân tích cuộc tranh luận học thuật giữa trường phái trung tâm văn bản và trường phái bối cảnh, đồng thời tổng kết thành tựu của các học giả đi trước.
Nội dung chương chỉ ra rằng các công trình nghiên cứu ca dao - dân ca ĐBSCL từ cuối thế kỷ XIX đến nay (từ Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của đến Lư Nhất Vũ, Bùi Mạnh Nhị, Huỳnh Ngọc Trảng) đã tích lũy khối lượng ngữ liệu lớn, nhưng phần lớn tiếp cận dưới góc độ thi pháp học, ngôn ngữ học hoặc phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội chung mang tính bao quát. Chương này xác lập cơ sở để luận án triển khai nghiên cứu ca dao - dân ca như một quá trình giao tiếp nhóm nhỏ, phân rã và khảo sát hai dạng thức thực tồn: dạng thức nói năng và dạng thức dân ca.
Chương 2: Cơ sở lí luận và thực tiễn trong nghiên cứu ca dao - dân ca dưới góc nhìn bối cảnh
Chương 2 thiết lập khung lý thuyết và phương pháp luận cho việc nghiên cứu ca dao - dân ca trong bối cảnh:
- Đặc điểm nguồn tư liệu: Phân tích tính hoàn chỉnh/không hoàn chỉnh, trực tiếp/gián tiếp, đồng đại/lịch đại của tư liệu. Nguồn tư liệu trực tiếp giúp ghi nhận trọn vẹn tiến trình diễn xướng, trong khi nguồn tư liệu gián tiếp (văn học, sân khấu) hỗ trợ tái dựng các bối cảnh lịch sử đã mai một.
- Xác lập hai dạng thức tồn tại:
- Dạng thức nói năng: Ca dao thâm nhập vào lời ăn tiếng nói hằng ngày dưới hình thức dẫn lời hoặc mượn lời trong các cuộc thoại.
- Dạng thức dân ca: Ca dao tồn tại trong môi trường diễn xướng âm nhạc nguyên hợp (hát ru, hò, lí, hát huê tình).
- Cấu trúc sự kiện diễn xướng: Luận án mô hình hóa sự kiện diễn xướng như một hệ thống hoàn chỉnh gồm các thành tố tương tác:
| Thành tố hệ thống |
Nội dung biểu hiện trong sự kiện diễn xướng |
| Bối cảnh không gian - thời gian |
Địa điểm cụ thể (ngoài vườn, trên sông, trong nhà), thời điểm phát sinh giao tiếp |
| Chủ thể phát ngôn / Diễn xướng |
Thông tin nhân học (tên, tuổi, giới tính, nghề nghiệp), trạng thái tâm lý trước và sau khi phát ngôn |
| Đối tượng tiếp nhận / Tham gia |
Quan hệ xã hội với người nói, thái độ và phản ứng tâm lý trước và sau tiếp nhận |
| Văn bản / Lời ca |
Lời ca dao, câu dẫn, khóa diễn xướng, các yếu tố đưa hơi, đệm lót |
| Phương thức diễn xướng |
Nói thường, đọc, ngâm vần điệu, hoặc hát có giai điệu âm nhạc |
Chương 3: Nghiên cứu ca dao - dân ca Đồng bằng sông Cửu Long dưới góc nhìn bối cảnh từ sưu tầm thực tế - trường hợp dạng thức nói năng
Chương 3 khảo sát thực nghiệm dạng thức nói năng của ca dao ĐBSCL từ các dữ liệu điền dã thực tế:
- Nhận diện bối cảnh theo chức năng: Phân loại bối cảnh sử dụng ca dao dựa trên chức năng cụ thể (khuyên răn, than thở, châm biếm, giải thích, hòa giải), chức năng khái quát và các tổ hợp chức năng trong đời sống.
- Đặc điểm hội thoại và cấu trúc tương tác:
- Người sử dụng: Thống kê cơ cấu giới tính (nam/nữ), lứa tuổi (người lớn tuổi chiếm tỷ lệ ưu thế trong việc vận dụng ca dao) và các mối quan hệ xã hội (gia đình, xóm giềng, bè bạn).
- Cấu trúc cuộc thoại: Phân tích cấu trúc cặp thoại và các loại tham thoại có chứa câu ca dao.
- Hành vi dẫn lời và mượn lời: Khảo sát các "lời dẫn" và "khóa diễn xướng" (framing cues), xác định tỷ lệ người nói mượn danh chủ thể dân gian ("người xưa có câu", "ông bà nói") hoặc tự tích hợp ca dao vào lời thoại cá nhân nhằm gia tăng hiệu lực thuyết phục và tính chuẩn mực văn hóa.
Chương 4: Nghiên cứu ca dao - dân ca Đồng bằng sông Cửu Long dưới góc nhìn bối cảnh - trường hợp dạng thức dân ca
Chương 4 tập trung vào dạng thức âm nhạc dân gian của ca dao ĐBSCL qua các nguồn tư liệu điền dã, tác phẩm văn học và âm nhạc dân gian:
- Phân loại bối cảnh diễn xướng:
- Dạng thức dân ca phi đối đáp: Khảo sát môi trường diễn xướng đơn lẻ, tiêu biểu là hát ru (bối cảnh gia đình, nuôi dạy con cháu, nhịp điệu đưa nôi, cơ cấu người diễn xướng chủ yếu là phụ nữ).
- Dạng thức dân ca đối đáp nam nữ: Khảo sát các hình thức hò (hò cấy, hò sông nước), lí và hát huê tình gắn với môi trường lao động tập thể hoặc sinh hoạt giao lưu tình cảm.
- Đặc điểm hình thức định hướng thể loại:
- Hình thức diễn xướng và tiểu dạng thức: Khảo sát hệ thống định danh tiểu dạng thức của Lí, Hò, Hát huê tình, Hát ru tại các địa phương ĐBSCL.
- Yếu tố nhịp điệu: Phân tích nhịp điệu đặc trưng của từng tiểu dạng thức diễn xướng tương ứng với động tác lao động hoặc trạng thái cảm xúc.
- Cơ cấu chủ thể diễn xướng: Thống kê phân bố độ tuổi (theo khoảng cách 4 tuổi và 10 tuổi) và tỷ lệ giới tính (nam/nữ) tham gia cung cấp/diễn xướng từng thể loại.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lí luận
- Luận án giới thiệu có hệ thống hướng tiếp cận bối cảnh trong nghiên cứu folklore đương đại, làm rõ các trào lưu học thuật quốc tế và quá trình vận dụng tại Việt Nam.
- Xây dựng hệ thống công cụ lí luận và phương pháp luận chuyên biệt để tiếp cận thể loại ca dao - dân ca từ góc nhìn bối cảnh, khắc phục lối tiếp cận thuần túy văn bản học.
- Nhận diện và hệ thống hóa các thành tố cấu thành sự kiện diễn xướng ca dao - dân ca (bao gồm cả các thành tố ngoài văn bản như tâm lý, quan hệ giao tiếp, không gian - thời gian).
- Đề xuất tiêu chí nhận diện đặc trưng thể loại ca dao - dân ca dựa trên chức năng thực tế và phương thức diễn xướng, hỗ trợ xác lập ranh giới phân định thể loại giữa ca dao và tục ngữ.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Thu thập, mã hóa và xử lý một hệ thống ngữ liệu ca dao - dân ca ĐBSCL gắn liền với bối cảnh giao tiếp cụ thể (cả dạng thức nói năng và diễn xướng dân ca).
- Phát hiện những đặc điểm văn hóa - xã hội đặc thù của cư dân ĐBSCL thể hiện qua cách thức dẫn lời, mượn lời ca dao trong sinh hoạt ngôn ngữ hằng ngày.
- Đóng góp cơ sở thực tiễn cho việc thẩm định ưu thế của lý thuyết bối cảnh khi áp dụng vào môi trường văn hóa dân gian Việt Nam.
- Cung cấp luận cứ khoa học định hướng công tác sưu tầm, bảo tồn và phát huy giá trị di sản ca dao - dân ca ĐBSCL trong đời sống đương đại.
Kiến nghị và định hướng ứng dụng
- Đổi mới phương pháp sưu tầm điền dã văn học dân gian: chuyển từ việc chỉ ghi chép lời văn bản sang ghi nhận trọn vẹn diễn trình của sự kiện diễn xướng và thông tin nhân học của nghệ nhân.
- Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào việc giảng dạy văn học dân gian địa phương và xây dựng chính sách bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể tại các tỉnh vùng ĐBSCL.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Giới hạn đối tượng tộc người: Luận án chỉ tập trung khảo sát ca dao - dân ca của người Việt, chưa mở rộng sang kho tàng ca dao - dân ca của các cộng đồng dân tộc cùng cộng cư tại ĐBSCL như Khmer, Hoa, Chăm.
- Giới hạn nhóm thể loại: Chưa bao quát mảng ca dao - dân ca trẻ em (đồng dao).
- Hạn chế về phương diện nhạc học: Luận án tiếp cận chủ yếu từ góc độ văn học dân gian và nhân học văn hóa, chưa phân tích chuyên sâu các yếu tố kỹ thuật âm nhạc học như hệ thống thang âm hay biến trình ký âm chi tiết.
- Tính chất dữ liệu lịch sử: Do nhiều hình thức diễn xướng truyền thống (như hò trên sông nước, hò cấy) đã mai một ngoài đời sống thực tế, việc phân tích lịch đại phải dựa vào các nguồn tư liệu gián tiếp (văn học, sân khấu) vốn mang tính khúc xạ nghệ thuật nhất định.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng khảo sát so sánh ca dao - dân ca trong bối cảnh giữa các dân tộc Việt, Khmer, Chăm, Hoa tại ĐBSCL.
- Áp dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành kết hợp sâu hơn với nhạc tấu học và nhân học âm nhạc để giải mã các dạng thức diễn xướng nguyên hợp.
- Tiếp tục số hóa và xây dựng cơ sở dữ liệu đa phương tiện (âm thanh, hình ảnh, hoàn cảnh diễn xướng) cho các sự kiện sử dụng ca dao - dân ca trong cộng đồng.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Văn học dân gian, Văn hóa học, Ngôn ngữ học: Luận án cung cấp khung phương pháp luận, mẫu phiếu điều tra điền dã và quy trình phân tích sự kiện diễn xướng theo lý thuyết bối cảnh.
- Đối với giảng viên và nhà nghiên cứu văn hóa Nam Bộ: Tài liệu hữu ích để tham khảo khi biên soạn giáo trình chuyên đề, nghiên cứu văn hóa vùng ĐBSCL và phân tích thi pháp văn học dân gian gắn với ngữ cảnh.
- Đối với các cơ quan quản lý văn hóa và bảo tồn di sản: Cung cấp phương pháp tiếp cận di sản phi vật thể sống, định hướng các chương trình sưu tầm và duy trì không gian sinh hoạt văn hóa dân gian tại địa phương.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân chia ca dao - dân ca Đồng bằng sông Cửu Long thành những dạng thức tồn tại cụ thể nào trong bối cảnh?
Luận án xác định hai dạng thức tồn tại cơ bản của ca dao - dân ca trong đời sống: dạng thức nói năng (ca dao được sử dụng thông qua các hành động dẫn lời, mượn lời trong các cuộc thoại hằng ngày) và dạng thức dân ca (ca dao tồn tại trong diễn xướng âm nhạc như hát ru, hò, lí, hát huê tình).
2. Sự khác biệt cốt lõi giữa hướng tiếp cận bối cảnh và hướng tiếp cận truyền thống trong nghiên cứu ca dao là gì?
Hướng tiếp cận truyền thống xem ca dao là một chỉnh thể ngôn từ nghệ thuật độc lập và lấy văn bản làm trung tâm nghiên cứu. Hướng tiếp cận bối cảnh xem ca dao là một quá trình giao tiếp nghệ thuật trong nhóm nhỏ, nghiên cứu văn bản trong mối quan hệ gắn kết không thể tách rời với người diễn xướng, người nghe, không gian - thời gian và hoàn cảnh xã hội cụ thể.
3. Nguồn tư liệu nghiên cứu của luận án được thu thập và phân loại như thế nào?
Nguồn tư liệu được phân định theo tính chất: trực tiếp (quan sát điền dã, ghi âm, ghi hình sự kiện thực tế và mã hóa ký hiệu NN) và gián tiếp (trích xuất từ tác phẩm văn học của Sơn Nam, Nguyễn Ngọc Tư; kịch bản sân khấu của Điêu Huyền; các công trình sưu tầm truyền thống và băng đĩa âm nhạc dân gian).
4. Luận án sử dụng những công cụ lý thuyết nào để phân tích dạng thức nói năng của ca dao?
Tác giả ứng dụng lý thuyết hội thoại (Conversation Analysis) và ngữ dụng học để khảo sát cấu trúc cuộc thoại, cặp thoại, tham thoại, cũng như phân tích các hành động ngôn từ (mượn lời, dẫn lời) và các từ khóa/lời dẫn (framing cues) khi chủ thể giao tiếp viện dẫn ca dao.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Trần Văn Thịnh đã vận dụng lý thuyết bối cảnh để khảo sát toàn diện ca dao - dân ca của người Việt tại Đồng bằng sông Cửu Long. Công trình đã làm rõ hai dạng thức tồn tại chính của đối tượng là dạng thức nói năng trong giao tiếp hằng ngày và dạng thức dân ca trong diễn xướng nghệ thuật dân gian. Thông qua nguồn tư liệu điền dã kết hợp tư liệu văn học, tác giả đã chứng minh ca dao - dân ca là một thực thể văn hóa động, gắn bó mật thiết với cấu trúc tương tác xã hội của cộng đồng địa phương. Kết quả nghiên cứu đóng góp cơ sở lý luận và thực tiễn cho folklore học Việt Nam trong việc đổi mới phương pháp sưu tầm và bảo tồn di sản văn hóa dân gian.