Tổng quan về luận án
Nghiên cứu sử thi dân gian Tây Nguyên giữ vị trí đặc biệt trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam nhờ tính chất nguyên hợp (syncretism), kết tinh các giá trị văn hóa, lịch sử, nhân học và triết mỹ tộc người. Kể từ mốc khởi đầu khi Léopold Sabatier công bố bản dịch sử thi Dăm Săn năm 1925 tại Paris cùng lời tựa mang định kiến của một nhà văn Pháp thời bấy giờ: "Nhưng cay đắng thay, bằng chứng về văn chương của người Mọi cũng là cái cuối cùng", tiếp nối bởi các khảo cứu của Georges Condominas và Dominique Antomarchi (1955) về Dăm Di và công trình Chúng tôi ăn rừng (1957), diện mạo sử thi Tây Nguyên dần được khẳng định. Tuy nhiên, sử thi M'nông (Ot Ndrong) chỉ thực sự được phát hiện vào năm 1988 tại bon Bu Dop (xã Đắk Môl, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông) và bước vào giai đoạn nghiên cứu đột phá thông qua Dự án Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên (2001–2007). Dự án cấp quốc gia này đã ghi âm được 215 bản hát kể và xuất bản 26 tác phẩm Ot Ndrong với 32 tập sách song ngữ M'nông - Việt.
Khoảng trống học thuật cốt lõi (research gap) nằm ở sự bất đồng quan điểm sâu sắc giữa các nhà nghiên cứu về xác định đặc trưng thể loại của Ot Ndrong. Trong khi Đỗ Hồng Kỳ (1996, 2008) xếp Ot Ndrong vào nhóm sử thi thần thoại (mythological epic), Phan Đăng Nhật (1998, 1999) định danh là sử thi phổ hệ (genealogical epic), Bùi Thiên Thai (2005) khẳng định là sử thi chuỗi (epic cycle) mang tính chất sử thi anh hùng (heroic epic), thì Ngô Đức Thịnh (2008) xem đây là sử thi cổ sơ (épopée archaïque) đậm tính sáng thế, và Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2009) xếp vào nhóm sử thi thiết chế xã hội. Luận án tiến sĩ Ngữ văn chuyên ngành Văn học dân gian (mã số: 62.01) của tác giả Triệu Văn Thịnh, do GS.TS. Lê Chí Quế và PGS.TS. Đỗ Hồng Kỳ hướng dẫn khoa học tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội (2015), đã giải quyết dứt điểm khoảng trống này thông qua việc khảo sát toàn diện hệ thống nhân vật.
Nhiệm vụ và câu hỏi nghiên cứu của luận án được xác lập:
- RQ1: Hệ thống nhân vật trong Ot Ndrong được phân tầng, cấu trúc theo những tuyến loại hình nào và phản ánh vũ trụ quan, nhân sinh quan gì của tộc người M'nông?
- RQ2: Từ việc phân tích thi pháp nhân vật, cơ sở xã hội và môi trường diễn xướng, luận cứ khoa học nào chứng minh xác đáng bản chất thể loại của sử thi M'nông?
Giả thuyết nghiên cứu:
- H1: Hệ thống nhân vật Ot Ndrong là chỉnh thể nguyên hợp thần thoại - nhân loại hóa, trong đó nhân vật trung tâm mang đậm dấu ấn sáng thế và anh hùng văn hóa hơn là anh hùng chiến trận thuần túy.
- H2: Sử thi M'nông thuộc tiểu loại sử thi thần thoại (thần thoại - sử thi), phản ánh thời kỳ quá độ từ thời đại mông muội sang dã man, từ thị tộc mẫu quyền sang manh nha phụ quyền.
Khung lý thuyết của công trình tích hợp lý thuyết thi pháp thể loại của Aristotle và E. Meletinsky, thuyết nguồn gốc gia đình và sở hữu tư nhân của Friedrich Engels, kết hợp lý thuyết nhân học văn hóa của S. Tokarev. Phạm vi nghiên cứu bao quát 32 tác phẩm sử thi M'nông đã xuất bản, đối chiếu với dữ liệu nhân khẩu học của dân tộc tộc M'nông (102.741 người theo Tổng điều tra dân số 2009; tập trung 39,3% tại Đắk Lắk và 38,9% tại Đắk Nông; cùng hơn 20.000 kiều dân M'nông tại tỉnh Mondulkiri, Campuchia).
Literature Review và Positioning
Tiến trình nghiên cứu sử thi M'nông được định hình qua nhiều giai đoạn với các công trình học thuật tiêu biểu:
- Giai đoạn tiếp cận dân tộc học mở đường: Georges Condominas (1957) trong Nous avons mangé la forêt ghi nhận hình thức truyện kể noo proo của người M'nông Gar: "Và câu chuyện nói đến nào noo proo, nào anh hùng ca mới hay ho làm sao: cuộc sáng tạo ra thế giới, trận đại hồng thuỷ, con người bị quỷ nhai nuốt và phun ra, biển nhấn chìm cả một đạo quân…". Tiếp đó, Võ Quang Nhơn (1981, 1983) định danh các tác phẩm đầu tiên như Đam Brơi, Chàng Trăng.
- Giai đoạn khảo sát thi pháp và nội dung: Đỗ Hồng Kỳ (1990, 1994, 1996, 2001, 2008) khẳng định tính chất sử thi cổ sơ - thần thoại qua Cốt truyện và nhân vật trong sử thi nrông của người M'nông và tập đại thành Văn học dân gian Ê Đê, Mơ Nông.
- Giai đoạn mở rộng phân loại: Phan Đăng Nhật (1998, 1999) nhận định Ot Ndrong là sử thi phổ hệ đồ sộ; Bùi Thiên Thai (2005) qua khảo sát Con đỉa nuốt bon Tiăng đề xuất khái niệm sử thi chuỗi (epic cycle) có tính chất anh hùng ca; Ngô Đức Thịnh (2002, 2008) chỉ rõ tính thống nhất của sử thi cổ sơ Tây Nguyên so với sử thi cổ đại (épopée antique); Nguyễn Việt Hùng (2011) tiếp cận dưới góc độ công thức truyền thống (formulaic composition).
┌──────────────────────────────────────────────┐
│ TRANH LUẬN THỂ LOẠI SỬ THI M'NÔNG │
└──────────────────────┬───────────────────────┘
│
┌────────────────────────┬──────────┴───────────┬────────────────────────┐
▼ ▼ ▼ ▼
┌──────────────────┐ ┌──────────────────┐ ┌──────────────────┐ ┌──────────────────┐
│Sử thi Thần thoại │ │ Sử thi Phổ hệ │ │ Sử thi Chuỗi/AH │ │ Sử thi Thiết chế │
│(Đỗ Hồng Kỳ, │ │ (Phan Đăng Nhật, │ │ (Bùi Thiên Thai, │ │ Xã hội (Nguyễn │
│ Triệu Văn Thịnh) │ │ 1998) │ │ 2005) │ │ Thị Mỹ Lộc, 2009)│
└──────────────────┘ └──────────────────┘ └──────────────────┘ └──────────────────┘
Điểm xung đột lý luận thể hiện rõ qua hai luồng quan điểm đối lập:
- Sử thi phổ hệ đối lập với thực tiễn văn bản: Phan Đăng Nhật nhận định sử thi mang tính phổ hệ liên kết các thế hệ. Tuy nhiên, Bùi Thiên Thai và Triệu Văn Thịnh chỉ ra rằng Ot Ndrong thiếu trục "cha truyền con nối" qua nhiều đời như sử thi Manas của người Kyrgyz (Kyrgyzstan), mà hành động chỉ khu biệt ở thế hệ thứ nhất, thứ hai xuất phát từ bon Tiăng, còn thế hệ thứ ba duy nhất chỉ có nhân vật Mbông.
- Sử thi anh hùng đối lập với bản chất cổ sơ: Quan điểm của Bùi Thiên Thai và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng Ot Ndrong là sử thi anh hùng bị phản biện bởi Trần Thị An (2006) khi khảo sát Rôch, Rông bắt hồn Lêng. Tác giả chỉ ra tính chất thô sơ trong miêu tả: "Vũ khí mà họ sử dụng từ đầu đến cuối, ngoài lao, dao gươm... còn có chài, đơm, các loại dây... và việc “đơm” một người anh hùng như Yang không khác xa việc đơm một con cá".
Đặt trong tương quan quốc tế, nếu các thiên sử thi Ấn Độ như Mahabharata và Ramayana hay sử thi Hy Lạp của Homer (Iliad, Odyssey) thuộc loại hình sử thi cổ đại đã qua bàn tay gia công nghệ thuật cao, hoặc sử thi Kalevala (Phần Lan) thuộc dạng "chuẩn ghi chép thành sách" theo phân loại của Triều Qua Kim (Chao Gejin, 2008), thì Ot Ndrong M'nông bảo lưu nguyên vẹn trạng thái văn học truyền miệng dân gian cổ sơ thuần khiết nhất.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án đóng góp vào lý thuyết hình thái xã hội của Friedrich Engels trong việc luận giải bước chuyển biến văn hóa thời viễn cổ. Hiện tượng chung chạ giữa hai anh em ruột Bong và Rong trong Ot Ndrong không phải là hình thức quần hôn tự nhiên thời mông muội, mà là biểu hiện của chế độ gia đình đối ngẫu đang hình thành ở giai đoạn quá độ sang thời đại dã man. Hành vi này đã bị ý thức cộng đồng xem là vi phạm cấm kỵ (taboo) và phải chịu sự phạt vạ của thần linh.
Hệ thống nhân vật được cấu trúc hóa theo mô hình phân tầng chức năng:
- P1: Tuyến nhân vật trung tâm: Nhân vật khai thiên lập địa (Krak Lưn), nhân vật anh hùng văn hóa (Tiăng), nhân vật anh hùng chiến trận (Lêng, Yang, Mbông).
- P2: Tuyến nhân vật chức năng: Nhân vật thần kỳ, nhân vật người đẹp (Bing, Djăn, Dje), nhân vật đối lập, nhân vật truyền tin và nhân vật cộng đồng.
┌──────────────────────────────────────────────┐
│ HỆ THỐNG NHÂN VẬT SỬ THI M'NÔNG │
└──────────────────────┬───────────────────────┘
│
┌─────────────────────────┴─────────────────────────┐
▼ ▼
┌──────────────────────────────────┐ ┌──────────────────────────────────┐
│ NHÂN VẬT TRUNG TÂM │ │ CÁC LOẠI NHÂN VẬT KHÁC │
├──────────────────────────────────┤ ├──────────────────────────────────┤
│• Khai thiên lập địa: Krak Lưn │ │• Thần kỳ: Thần linh, vật thiêng │
│• Anh hùng văn hóa: Tiăng │ │• Người đẹp: Bing, Djăn, Dje │
│• Anh hùng chiến trận: Lêng, Yang,│ │• Đối lập: Quái vật, bon thù địch │
│ Mbông │ │• Cộng đồng & Truyền tin │
└──────────────────────────────────┘ └──────────────────────────────────┘
Khung phân tích độc đáo
Nghiên cứu tích hợp ba nền tảng lý thuyết:
- Thuyết nguyên hợp (Folkloric Syncretism của Alexander Veselovsky) để lý giải sự đan xen giữa thần thoại, luật tục và nghệ thuật ngôn từ.
- Thuyết cấu trúc tự sự (Narrative Poetics) phân tích kết cấu chắp đoạn (episodic montage) và kết cấu vòng tròn đồng tâm (ring composition).
- Thuyết nhân học biểu tượng (Symbolic Anthropology) giải mã mô típ đá đẻ ra người (lithogenesis) và quan niệm tô-tem giáo (totemism) theo lý giải của S. Tokarev: "những tô tem xưa nhất là những tô tem của các bào tộc, chúng thường là loài chim".
Điều kiện biên (boundary conditions) của khung phân tích được xác lập chặt chẽ trong không gian cư trú bon làng mẫu hệ M'nông, chịu sự chi phối của vũ trụ luận ba tầng: tầng trời (ka lơ trôk), tầng mặt đất (ka lơ neh) và tầng âm phủ (tâm nâm neh).
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu định hình theo lập trường nhận thức luận diễn giải học phê phán (Critical Hermeneutics) kết hợp nhân học cấu trúc (Structural Anthropology). Thiết kế đa tầng phân tích mối tương quan giữa ba bình diện: Văn bản (Textual structure), Diễn xướng (Performance context) và Thiết chế xã hội (Social institution).
Tiêu chí lựa chọn mẫu khảo sát: 32 tác phẩm sử thi xuất bản trong Dự án quốc gia, đại diện cho các cốt truyện trung tâm: Bông, Rŏng và Tiăng, Đẻ Tiăng, Đẻ Lênh, Lênh nghịch đá thần của Yang, Mùa rẫy bon Tiăng, Cây nêu thần, Đi giành lại đàn Ndring, Cướp chiêng cổ bon Tiăng, Cướp Djăn, Dje, Con diều lá cướp Bing con Jri, Bắt con lươn ở suối Dak Hŭch.
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình nghiên cứu áp dụng phương pháp tam giác đạc (triangulation) đa chiều:
- Tam giác đạc dữ liệu: Đối chiếu văn bản ghi âm gốc tiếng M'nông với bản dịch nghĩa của nghệ nhân Điểu Kâu và văn bản đối chiếu lời nói vần (nao mprĭng).
- Tam giác đạc phương pháp: Kết hợp phân tích văn học, điều tra điền dã dân tộc học tại các bon Bu Dop, Bu Prâng, Bu N'Drung Lu (Đắk Nông) và phỏng vấn sâu các già làng (Ma Ngọc, Ma Giêm), nghệ nhân hát kể (Điểu Klung, Điểu Klứt, Điểu Byăt).
- Độ tin cậy và giá trị: Dữ liệu luật tục được kiểm chứng thực tế qua các vụ phân xử vi phạm hôn nhân và đất đai tại địa phương.
Data và phân tích
Dữ liệu ngôn ngữ chỉ ra cấu trúc ngữ âm của tiếng M'nông trong Ot Ndrong được tổ chức theo lối nói có vần điệu linh hoạt. Tần suất xuất hiện của vần lưng (medial rhyme) và vần đầu (initial rhyme) chiếm ưu thế tuyệt đối so với vần chân (end rhyme), đóng vai trò móc xích liên kết câu giúp nghệ nhân ghi nhớ hàng vạn câu hát kể:
Pŭt khuăl hôt bah chông ka net
Tet kuăl hôt bah chông knăng
Ka srăng ôp bah lŭ ngiang
(Chim pŭt kêu từ ngọn cây net / Chim kéc kêu từ ngọn cây knăng / Cá srăng kêu từ trong hang đá)
Đặc điểm thi pháp này kết hợp với văn xuôi trần thuật và ngôn ngữ hành động kịch tính tạo nên cấu trúc nguyên hợp độc nhất.
┌──────────────────────────────────────────────┐
│ CƠ CHẾ THI PHÁP OT NDRONG │
└──────────────────────┬───────────────────────┘
│
┌───────────────────────────────────┼───────────────────────────────────┐
▼ ▼ ▼
┌──────────────────┐ ┌──────────────────┐ ┌──────────────────┐
│ Vần lưng & │ │ Cốt truyện │ │ Mô típ Định sẵn│
│ Vần đầu │ │ Chắp đoạn │ │ (Formulaic) │
├──────────────────┤ ├──────────────────┤ ├──────────────────┤
│Tạo móc xích liên │ │Ghép nối nhiều cốt│ │Ra đi ➔ Lao động/ │
│kết câu, giúp trí │ │truyện đơn thành │ │Chiến đấu ➔ Trở về│
│nhớ nghệ nhân. │ │chỉnh thể liên kết│ │bon làng cũ. │
└──────────────────┘ └──────────────────┘ └──────────────────┘
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
- Chứng minh Ot Ndrong là Sử thi thần thoại: Thông qua phân tích 32 văn bản, luận án khẳng định các yếu tố thần thoại đóng vai trò chi phối toàn bộ thế giới quan nhân vật. Tác phẩm bảo lưu mô típ cổ sơ về nguồn gốc sinh thành vũ trụ và loài người:
Từ thời xa xưa
Có con bướm soi mình trên đá
Có con bướm quan hệ với đá
Con chuồn chuồn quan hệ với nước
Hòn đá đẻ ra một trăm con người
Dòng thác sinh ra một nghìn con người
Nước biển sinh ra trứng và nở ra Tiăng
- Bản chất Bách khoa thư nguyên hợp: Ot Ndrong chứa đựng toàn diện tri thức tộc người từ kiến trúc nhà trệt dài 60–70m, kỹ nghệ đan lát, tập quán ẩm thực (canh lá bép, cháo chua), nghề thuần dưỡng voi rừng, đến thang giá trị tài sản biểu trưng như ché Ntŏ (quy đổi bằng 6 con trâu sừng dài hoặc một con voi trưởng thành).
- Phản ánh quá trình tan rã của trật tự mẫu hệ cổ đại: Sự chuyển biến từ vai trò của Tiăng (từ người trực tiếp lao động sang người điều hành, quản lý với tư cách trưởng bon/trưởng họ) và hành vi của Lêng phá vỡ tập quán "kon kông kon wa" (hôn nhân nội tộc con cậu con bác) để thực hiện ngoại hôn chiếm đoạt nàng Bing con Jri phản ánh bước chuyển lịch sử sâu sắc.
- Cấu trúc cốt truyện liên kết chắp đoạn: Cốt truyện sử thi M'nông vận động theo hai công thức hành động định sẵn: (1) Ra đi – Lao động – Ở lại vùng đất mới; (2) Ra đi – Chiến đấu – Trở về bon làng cũ.
Implications đa chiều
- Về mặt lý thuyết: Định vị chính xác giá trị của Ot Ndrong trong hệ hình sử thi cổ sơ thế giới, cung cấp luận cứ bảo vệ luận điểm sử thi thần thoại của trường phái nghiên cứu folklore Việt Nam.
- Về phương pháp luận: Xác lập mô hình phân tích nhân vật gắn liền với bối cảnh diễn xướng và cấu trúc luật tục bản địa.
- Về thực tiễn bảo tồn: Cảnh báo thực trạng mai một nghiêm trọng của không gian văn hóa cồng chiêng và nhà dài truyền thống dưới tác động chuyển đổi cơ cấu kinh tế (sang trồng cà phê, hồ tiêu, cao su). Luận án đề xuất giải pháp cấp bách mô hình hóa các công thức truyền thống để truyền dạy hát kể sử thi trong cộng đồng.
Limitations và Future Research
Nghiên cứu thẳng thắn chỉ ra các giới hạn nội tại:
- Giới hạn ngôn ngữ bản tộc: Do tác giả tiếp cận phần lớn ngữ liệu thông qua bản dịch tiếng Việt của nghệ nhân Điểu Kâu, một số sắc thái biểu cảm và cấu trúc âm luật phức tạp của tiếng M'nông cổ chưa thể khai thác triệt để.
- Biến đổi môi trường diễn xướng: Sự qua đời của các nghệ nhân bậc thầy (như nghệ nhân Điểu Kâu mất năm 2008) và sự đứt gãy của không gian nhà dài trệt khiến việc quan sát diễn xướng sống nguyên bản gặp nhiều rào cản.
Chương trình nghiên cứu 5–10 năm tới:
- Ứng dụng thi pháp học số (Digital Folkloristics) để xây dựng bộ mã công thức truyền thống cho toàn bộ 215 bản ghi âm sử thi M'nông.
- Thực hiện nghiên cứu so sánh xuyên biên giới giữa Ot Ndrong của người M'nông tại Tây Nguyên và sử thi của cộng đồng người Pnong tại tỉnh Mondulkiri (Campuchia).
- Nghiên cứu thực nghiệm các mô hình không gian diễn xướng tái tạo trong đời sống du lịch văn hóa bền vững.
Tác động và ảnh hưởng
- Học thuật: Trở thành tài liệu tham chiếu nền tảng trong nghiên cứu thi pháp văn học dân gian các dân tộc thiểu số tại các viện nghiên cứu và trường đại học.
- Chính sách văn hóa: Cung cấp hồ sơ khoa học phục vụ công tác quy hoạch bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tại khu vực Tây Nguyên.
- Tác động xã hội: Nâng cao ý thức tự hào tộc người cho cộng đồng hơn 100.000 người M'nông, khôi phục niềm tin văn hóa thông qua việc tái nhận thức các giá trị của Ot Ndrong.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và Giới học giả: Tiếp cận khung phân tích hệ thống nhân vật và phương pháp luận liên ngành chặt chẽ.
- Cơ quan Quản lý Di sản và Bảo tàng: Sử dụng dữ liệu phân loại thể loại để xây dựng hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể quốc gia và quốc tế.
- Giảng viên và Sinh viên chuyên ngành Ngữ văn, Nhân học, Văn hóa học: Tài liệu học tập chuyên khảo về thể loại sử thi cổ sơ.
- Cộng đồng người M'nông: Được trao quyền bảo tồn vốn di sản tinh thần của cha ông trên nền tảng tri thức học thuật bài bản.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
Luận án đã chứng minh một cách nhất quán Ot Ndrong là sử thi thần thoại thông qua việc khảo sát toàn diện hệ thống nhân vật từ nhân vật khai thiên lập địa (Krak Lưn), anh hùng văn hóa (Tiăng) đến anh hùng chiến trận (Lêng, Yang, Mbông), làm rõ bước chuyển từ thời đại mông muội sang dã man theo lý thuyết của Friedrich Engels.
2. Điểm đổi mới về phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây?
Khác với cách tiếp cận dân tộc học đơn thuần của Georges Condominas (1957) hay tiếp cận thuần túy văn bản học của Léopold Sabatier, luận án kết hợp phương pháp liên ngành: thi pháp học cấu trúc tự sự, phân tích công thức ngôn từ và điền dã dân tộc học gắn liền với khảo sát luật tục sống tại các bon làng.
3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu nghiên cứu là gì?
Tính chất thô sơ, tả thực của các pha giao chiến trong sử thi M'nông (sử dụng chài, đơm cá, ôm, đè, vật thay vì vũ khí thần kỳ) và động cơ ngoại hôn phá vỡ luật tục "kon kông kon wa" của nhân vật Lêng, phản ánh một xã hội đang ở thời kỳ đầu của sự phân hóa giai tầng và xác lập trật tự phụ quyền.
4. Nghiên cứu có cung cấp giao thức tái lặp (replication protocol) không?
Có. Luận án xây dựng quy trình phân loại hệ thống nhân vật 2 trục (Trục định vị chức năng trung tâm vs. Trục bổ trợ hành động) kèm bảng phân loại chi tiết 32 tác phẩm, cho phép áp dụng đồng bộ đối với các kho tàng sử thi của các tộc người lân cận như Ba Na, Xơ Đăng, Raglai, Ê Đê.
5. Kế hoạch nghiên cứu 10 năm được đề xuất như thế nào?
Tập trung số hóa và giải mã 215 biến thể hát kể, xây dựng từ điển công thức truyền thống M'nông - Việt và mở rộng khảo sát liên quốc gia tại vùng Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia.
Kết luận
Công trình nghiên cứu của tác giả Triệu Văn Thịnh tạo lập các dấu mốc học thuật:
- Xác lập bức tranh toàn cảnh về hệ thống nhân vật trong 32 tác phẩm sử thi Ot Ndrong đã xuất bản.
- Khẳng định vững chắc bản chất thể loại của Ot Ndrong là sử thi thần thoại, giải quyết dứt điểm các bất đồng học thuật kéo dài nhiều thập kỷ.
- Giải mã cấu trúc cốt truyện liên kết chắp đoạn và thi pháp gieo vần lưng - vần đầu độc đáo của nghệ thuật tự sự dân gian M'nông.
- Làm sáng tỏ bối cảnh lịch sử - xã hội quá độ từ mông muội sang dã man, bảo lưu tàn tích mẫu hệ và manh nha phụ quyền.
- Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn định hướng công tác bảo tồn di sản văn hóa dân gian Tây Nguyên trước làn sóng biến đổi kinh tế - xã hội hiện đại.