Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn (chuyên ngành Văn học dân gian, mã số: 62.01) của nghiên cứu sinh Triệu Văn Thịnh với đề tài "Hệ thống nhân vật trong sử thi M’nông và vấn đề thể loại" được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2015, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Lê Chí Quế và PGS.TS Đỗ Hồng Kỳ.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Sử thi là thể loại văn học dân gian có tính nguyên hợp cao, chứa đựng các giá trị văn hóa, lịch sử, tư tưởng, phong tục tập quán của cộng đồng bản địa. Từ khi được phát hiện vào năm 1988 tại Đắk Nông, sử thi M’nông (Ot Ndrong) đã được sưu tầm, dịch thuật và xuất bản với khối lượng tư liệu lớn (đặc biệt qua Dự án Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên giai đoạn 2001–2007). Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở việc khảo sát khái quát nội dung, hình thức hoặc đi sâu vào nhân vật trung tâm đơn lẻ, chưa có công trình nào khảo sát toàn diện và hệ thống toàn bộ thế giới nhân vật trong mối liên hệ mật thiết với đặc trưng thể loại.
Bên cạnh đó, giới nghiên cứu trong và ngoài nước vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác biệt về việc xác định tiểu loại của Ot Ndrong: có ý kiến xem đây là sử thi thần thoại, có ý kiến xếp vào sử thi phổ hệ, sử thi sáng thế, sử thi chuỗi, hoặc sử thi anh hùng / sử thi cổ sơ – thiết chế xã hội. Xuất phát từ thực tế đó cùng với yêu cầu khoa học cần có căn cứ xác định tiểu loại Ot Ndrong, tác giả đã chọn đề tài này làm đối tượng nghiên cứu của luận án.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu:
- Khảo sát có hệ thống các tuyến nhân vật trong sử thi M’nông nhằm làm rõ thủ pháp nghệ thuật, quan niệm thẩm mỹ và tư duy nghệ thuật dân gian của tộc người M’nông.
- Cung cấp cơ sở khoa học và cứ liệu xác đáng để nhận diện, xác định tiểu loại của sử thi M’nông.
Nhiệm vụ nghiên cứu (được xác định theo văn bản):
- Khảo sát một cách có hệ thống các tác phẩm sử thi M’nông trên các phương diện: môi trường diễn xướng, chức năng sinh hoạt, quan niệm thẩm mỹ, nội dung và thi pháp, đặc điểm xã hội để làm sáng tỏ đặc trưng thể loại.
- Xác định vị trí tiểu loại của sử thi M’nông trong tiến trình phát triển của thể loại sử thi (xác định Ot Ndrong thuộc tiểu loại sử thi thần thoại hay sử thi anh hùng, hoặc bao gồm cả hai).
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống nhân vật trong sử thi M’nông và đặc trưng thể loại của Ot Ndrong.
- Phạm vi ngữ liệu: Khảo sát 32 tác phẩm sử thi M’nông đã xuất bản (gồm các bản dịch song ngữ M’nông - Việt của nghệ nhân Điểu Kâu). Luận án tập trung phân tích chuyên sâu 11 tác phẩm tiêu biểu phản ánh tập trung hệ thống nhân vật và thi pháp nghệ thuật: Bông, Rŏng và Tiăng; Đẻ Tiăng; Đẻ Lênh; Lênh nghịch đá thần của Yang; Mùa rẫy bon Tiăng; Cây nêu thần; Đi giành lại đàn Ndring; Cướp chiêng cổ bon Tiăng; Cướp Djăn, Dje; Con diều lá cướp Bing con Jri; Bắt con lươn ở suối Dak Hŭch.
- Phạm vi không gian và thời gian: Địa bàn cư trú truyền thống của người M’nông tại Tây Nguyên (chủ yếu là Đắk Lắk, Đắk Nông, Bình Phước, Lâm Đồng) và các tư liệu sử thi được sưu tầm, công bố từ năm 1988 đến thời điểm thực hiện luận án.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây
Quá trình sưu tầm và nghiên cứu sử thi Tây Nguyên nói chung và sử thi M’nông nói riêng được tác giả điểm lại qua các giai đoạn và công trình:
| Thời gian / Tác giả |
Công trình / Hoạt động khoa học |
Đóng góp và nhận định chính |
| L. Sabatier (1927) |
Xuất bản Dăm Săn bằng tiếng Pháp tại Paris |
Mở đầu việc công bố sử thi Tây Nguyên ra thế giới. |
| D. Antomarchi & G. Condominas (1955) |
Công bố sử thi Dăm Di trên Tạp chí Viện Viễn Đông Bác cổ |
Bổ sung tư liệu sử thi Êđê và M’nông bước đầu. |
| G. Condominas (1957, 1974) |
Công trình dân tộc học Chúng tôi ăn rừng (Nous avons mangé la forêt) |
Khảo sát người M’nông Gar tại Lắk; ghi nhận hình thức kể noo proo (épopée) về sáng thế, hồng thủy. |
| Đào Tử Chí (1957) |
Bản dịch tiếng Việt Bài ca chàng Dăm Săn |
Giới thiệu tác phẩm sử thi Tây Nguyên đầu tiên bằng tiếng Việt. |
| Nhiều tác giả (1963) |
Tuyển tập Trường ca Tây Nguyên |
Công bố hàng loạt tác phẩm: Dăm Di, Xinh Nhã, Khinh Dú, Dăm Prao. |
| Võ Quang Nhơn (1981, 1983) |
Luận án PTS (1981) và sách Văn học dân gian các dân tộc ít người ở Việt Nam (1983) |
Ghi nhận sự tồn tại sử thi M’nông qua các tên truyện Đam Brơi, Chàng Trăng. |
| Bế Viết Đẳng và cộng sự (1982) |
Đại cương về các dân tộc Êđê, Mnông ở Đak Lak |
Nhắc đến hình thức kể gia phả N’koc yao (tác giả luận án chỉ ra có sự nhầm lẫn giữa kể gia phả và sử thi). |
| Đoàn khảo sát Viện VHDG (1988) |
Khảo sát tại bon Bu Dop, xã Đắk Môl, Đắk Song |
Phát hiện chính thức sử thi M’nông (Ot Ndrong) qua nghệ nhân Điểu Kâu. |
| Đỗ Hồng Kỳ (1990–2008) |
Các bài báo (1990, 1993, 2002), sách Sử thi thần thoại M’nông (1996), Những khía cạnh văn hoá dân gian M’nông Nong (2001), Văn học dân gian Ê Đê, Mơ Nông (2008) |
Xác định Ot Ndrong là sử thi thần thoại; sơ đồ hóa dòng con cháu mẹ Chau và hệ thống nhân vật. |
| Phan Đăng Nhật (1998, 1999, 2002) |
Bài báo (1998, 2002), sách Vùng sử thi Tây Nguyên (1999) |
Nhận định Ot Ndrong là bộ sử thi phổ hệ đồ sộ; khảo sát hiện tượng lịch sử, lễ hội, chiến tranh. |
| Ngô Đức Thịnh (2002, 2008) |
Các bài báo trên Tạp chí VHDG (2002, 2008) |
Xác định sử thi Tây Nguyên thuộc loại hình sử thi cổ sơ (épopée archaïque), tính chất sáng thế đậm nét. |
| Bùi Thiên Thai (2005) |
Bài viết về Con đỉa nuốt bon Tiăng |
Nhận định tác phẩm là sử thi anh hùng; xếp Ot Ndrong vào loại sử thi chuỗi (epic cycle), phân biệt với liên hoàn (ring composition). |
| Trần Thị An (2006) |
Bài viết về Rôch, Rông bắt hồn Lêng |
Phân tích tính chất thô sơ trong miêu tả chiến trận (vật, đè, ôm, dùng đơm, chài, bẫy). |
| Triều Qua Kim (2008) |
Báo cáo tại Hội thảo quốc tế Sử thi Việt Nam |
Giới thiệu phân loại sử thi truyền miệng, sử thi văn nhân và sử thi ghi chép thành sách; mô hình phân loại sử thi Trung Quốc (sáng thế, di cư, anh hùng). |
| Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2009) |
Bài viết Hệ thống nhân vật anh hùng của sử thi Mơ Nông |
Khảo sát 9 tác phẩm; xếp sử thi M’nông vào tiểu loại sử thi cổ sơ – thiết chế xã hội. |
| Nguyễn Việt Hùng (2011) |
Luận án TS Công thức truyền thống trong sử thi - Ot Ndrong |
Nghiên cứu mô hình công thức truyền thống, cấu trúc tự sự, diễn xướng, văn bản hóa. |
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan tài liệu cho thấy vấn đề phân loại thể loại của Ot Ndrong tồn tại sự phân hóa rõ nét giữa các học giả (thần thoại, phổ hệ, chuỗi, sáng thế, thiết chế xã hội, anh hùng). Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách khảo sát toàn diện hệ thống nhân vật trên cơ sở 32 tác phẩm đã xuất bản, kết hợp phân tích môi trường diễn xướng, chức năng sinh hoạt, thi pháp cốt truyện và cơ sở xã hội để đưa ra kết luận xác đáng về thể loại sử thi M’nông.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Lý thuyết thể loại sử thi: Tiếp thu và vận dụng các khái niệm về sử thi cổ sơ (épopée archaïque) và sử thi cổ điển/cổ đại (épopée antique); quan niệm phân loại sử thi của các nhà nghiên cứu trong nước (Võ Quang Nhơn, Phan Đăng Nhật, Đỗ Hồng Kỳ, Ngô Đức Thịnh) và học giả quốc tế (Arixtôt, Hêghen, Ăngghen, X. Tôcarev, Triều Qua Kim).
- Khái niệm cốt truyện đơn và cốt truyện liên kết: Cốt truyện đơn là các truyện chưa hoàn chỉnh, khó đứng độc lập; cốt truyện liên kết được tạo thành từ sự kết hợp của nhiều cốt truyện đơn theo phương thức chắp đoạn.
- Khái niệm chuỗi sử thi (epic cycle) và sáng tác liên hoàn (ring composition): Làm rõ sự khác biệt giữa kết cấu vòng tròn đồng tâm và hệ thống truyện móc nối qua nhân vật/bối cảnh chung.
- Khái niệm hình tượng nhân vật trong văn học dân gian: Nhân vật mang tính tập thể, đại diện cho ý thức và phẩm chất của cộng đồng, phân hóa theo chức năng hành động thay vì tính cách cá nhân hóa.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp liên ngành kết hợp các phương pháp chuyên ngành nghiên cứu văn học và văn hóa dân gian:
- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Khảo sát các tác phẩm sử thi đã xuất bản để dựng lên bức tranh toàn cảnh về hệ thống nhân vật trong mối quan hệ hữu cơ với kết cấu tác phẩm.
- Phương pháp thống kê, phân loại: Thống kê các văn bản, lập danh mục nhân vật, phân nhóm nhân vật theo chức năng và phân loại tác phẩm.
- Phương pháp điền dã dân tộc học: Khảo sát thực địa tại các vùng cư trú của người M’nông (Đắk Song, Đắk Nông...) để tìm hiểu chức năng, môi trường diễn xướng và vai trò của Ot Ndrong trong cộng đồng.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh sử thi M’nông với sử thi các dân tộc láng giềng (Êđê, Ba Na, Raglai) và sử thi thế giới (Iliad, Odyssey, Mahabharata, Ramayana, Manas, Kalevala) nhằm xác định nét đặc thù.
- Phương pháp phân tích văn học: Phân tích thi pháp tác phẩm, cấu trúc cốt truyện, ngôn ngữ, biện pháp nghệ thuật và quan niệm thẩm mỹ.
- Phương pháp liên ngành: Kết hợp tri thức văn học, dân tộc học, văn hóa học, lịch sử và nhân chủng học.
Nguồn tư liệu và dữ liệu thực tế
- 32 tác phẩm sử thi M’nông đã xuất bản thành 32 tập sách song ngữ M’nông – Việt do nghệ nhân Điểu Kâu phiên dịch.
- 215 bản ghi âm tư liệu hát kể sử thi thuộc Dự án bảo tồn sử thi Tây Nguyên (2001–2007).
- Dữ liệu điền dã dân tộc học, phỏng vấn các nghệ nhân (Điểu Kâu, Điểu Klứt, Điểu Klung, Điểu Mpơih, Điểu Byăt) và các già làng, trưởng bon (Ma Ngọc, Ma Giêm tại Đắk Song, Đắk Nông).
- Số liệu thống kê dân số tộc người M’nông theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương 1 trình bày khái quát về dân tộc M’nông trên các bình diện địa bàn cư trú, đặc điểm kinh tế - xã hội, đời sống văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, kho tàng văn học dân gian và các vấn đề cơ bản của Ot Ndrong:
- Đặc điểm tộc người và xã hội: Dân số người M’nông tại Việt Nam (theo Tổng điều tra 2009) là 102.741 người, tập trung chủ yếu ở Đắk Lắk (40.344 người, 39,3%) và Đắk Nông (39.964 người, 38,9%), cùng hơn 20.000 người sinh sống tại tỉnh Mundikiri (Campuchia). Thuộc nhóm nhân chủng Indonesien, ngữ hệ Môn - Khơme (nhóm Ba Na Nam). Xã hội tổ chức theo đơn vị bon (làng) độc lập, theo chế độ mẫu hệ (con theo họ mẹ, quyền thừa kế thuộc con gái út, tục nối dòng n’trôk). Đứng đầu bon là Bu ranh bon (chủ bon, người trên 45 tuổi am hiểu luật tục). Kinh tế truyền thống canh tác nương rẫy luân khoảnh với cây trồng chủ đạo là lúa rẫy.
- Đời sống văn hóa: Văn hóa vật chất đặc trưng bởi nhà dài trệt (kết cấu vì cột không kèo, dài 60–70m), nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng, các vật dụng quý như ché Ntŏ (có giá trị quy đổi bằng 6 con trâu hoặc 1 con voi). Văn hóa tinh thần phản ánh quan niệm thế giới ba tầng (ka lơ trôk – tầng trời, ka lơ neh – tầng mặt đất, tâm nâm neh – tầng âm phủ), hệ thống nghi lễ nông nghiệp gắn với cây lúa rẫy và lễ hội đâm trâu (Tăm ngết vào tháng 3).
- Kho tàng văn học dân gian M’nông: Gồm văn xuôi tự sự (truyện thần thoại sáng thế về Yang, Krak Lưn, biểu tượng đá sinh ra con người; truyện lịch sử/phong tục như Dam Bri, Nạn hồng thuỷ; truyện ngụ ngôn/cổ tích Nao R’lach / Nao N’khich về thỏ và cọp) và văn vần (lời nói vần Nao mprĭng, sử thi Ot Ndrong).
- Đặc trưng nội dung và hình thức của Ot Ndrong:
- Nội dung: Phản ánh vũ trụ quan, nhân sinh quan; phản ánh các biến chuyển lịch sử từ thời đại mông muội sang thời đại dã man theo quan niệm của Ăngghen (tục bài trừ hôn nhân cùng huyết thống qua câu chuyện Bong - Rong, chế độ ngoại hôn qua tích cướp nàng Bing con Jri, bước chuyển từ mẫu quyền sang phụ quyền qua vai trò của Tiăng, Lêng, Mbông). Ot Ndrong được xem là "bách khoa thư" dân gian lưu giữ toàn bộ tri thức đời sống.
- Hình thức và ngôn ngữ: Ngôn ngữ thô mộc, giàu hình ảnh ví von ("con cá dính ao", "đi nhanh như quả cà lăn", "như khố cười đùi"); mang tính nguyên hợp (kết hợp trần thuật khách quan của văn xuôi, tính nhạc của thơ và tính hành động của kịch); gieo vần lưng và vần đầu chiếm ưu thế đóng vai trò móc xích trí nhớ. Cốt truyện đơn chắp đoạn thành cốt truyện liên kết theo hai mô típ: Ra đi - Lao động - Ở lại hoặc Ra đi - Chiến đấu - Trở về.
Chương 2: Hệ thống nhân vật trong sử thi M’nông
Chương 2 phân tích chuyên sâu toàn bộ thế giới nhân vật trong Ot Ndrong, phân chia thành các tuyến nhân vật theo chức năng nghệ thuật và ý nghĩa biểu trưng:
- Tuyến nhân vật trung tâm:
- Nhân vật khai thiên lập địa: Đại diện cho thời kỳ mở mang vũ trụ, khai phá đất trời, gắn liền với các yếu tố thần thoại sơ khai.
- Nhân vật anh hùng văn hóa: Tiêu biểu là nhân vật Tiăng (vừa là trưởng họ, trưởng bon, người sáng tạo nông nghiệp, tổ chức bon làng, lao động sản xuất và dẫn dắt cộng đồng).
- Nhân vật anh hùng chiến trận: Tiêu biểu là Lêng, Yang, Mbông (dũng mãnh, xông xáo, táo tợn, ngang ngược, có sức chịu đựng phi thường, đại diện cho sức mạnh cơ bắp và ý chí bảo vệ bon làng).
- Các loại nhân vật khác:
- Nhân vật thần kỳ: Hệ thống các Yang, thần linh ở ba tầng trời đất, các vật thiêng, bùa phép hỗ trợ hoặc thử thách con người.
- Nhân vật người đẹp: Nàng Bing, Jri và các nhân vật nữ xinh đẹp – đối tượng của các cuộc hôn nhân ngoại tộc, nguyên cớ dẫn đến các cuộc giao tranh giành giật giữa các bon làng.
- Nhân vật đối lập: Kẻ thù của bon làng, các thế lực xâm lấn, quái vật, ác thú đe dọa cuộc sống bình yên của cộng đồng.
- Nhân vật cộng đồng: Dân làng bon Tiăng, đám đông lao động, cùng tham gia lễ hội, sản xuất và cổ vũ chiến trận.
- Nhân vật truyền tin: Các loài chim chóc, sứ giả, người chuyển giao thông điệp giữa các tầng vũ trụ và giữa các bon làng.
- Đặc điểm nghệ thuật xây dựng nhân vật: Tính cách nhân vật chưa được cá thể hóa sâu sắc mà đại diện cho phẩm chất, ý chí của tập thể thị tộc; hành động nhân vật được chắp đoạn qua nhiều cốt truyện đơn; miêu tả hành động chiến đấu còn mang tính thô sơ, tả thực (vật, đè, ôm, lôi, sử dụng công cụ bẫy, đơm, chài lưới).
Chương 3: Vấn đề thể loại của sử thi M’nông
Chương 3 giải quyết trọng tâm học thuật về thể loại của Ot Ndrong thông qua việc đối chiếu toàn diện 6 bình diện:
- Môi trường diễn xướng: Diễn xướng trong không gian sinh hoạt cộng đồng truyền thống (ngôi nhà dài trệt, bên bếp lửa, trong các dịp nghi lễ nông nghiệp, mùa nông nhàn), người hát kể hát tự nhiên theo trí nhớ.
- Chức năng sinh hoạt: Thực hiện chức năng nguyên hợp: sinh hoạt nghi lễ tạ ơn thần linh, giáo dục truyền thống, cố kết cộng đồng thị tộc và lưu giữ tri thức bách khoa thư, chưa chuyển hóa thành chức năng nghệ thuật thuần túy.
- Cách cấu tạo đề tài: Chủ yếu xoay quanh các biến cố sơ khai: sáng tạo thế giới, nạn hồng thủy, hôn nhân ngoại tộc, chống quái vật, giành lại của cải và cây thần.
- Cốt truyện: Cấu tạo theo phương thức liên kết các cốt truyện đơn theo kiểu chắp đoạn (ring composition / epic cycle), dung chứa nhiều chi tiết phụ và hành động tản mạn.
- Cách thức xây dựng nhân vật: Nhân vật còn mang đậm dấu ấn thần thoại, hành động gắn liền với sự trợ giúp của thần linh, tư duy biểu đạt thô mộc, chưa đạt tới tính chất lý tưởng hóa hoàn chỉnh của sử thi anh hùng cổ điển.
- Cơ sở xã hội và nội dung phản ánh: Phản ánh xã hội thị tộc mẫu hệ đang trong giai đoạn quá độ, chuyển biến từ thời đại mông muội sang thời đại dã man, chưa hình thành nhà nước hay liên minh bộ lạc rộng lớn.
Từ sự phân tích đồng bộ trên, tác giả luận án khẳng định: Sử thi M’nông (Ot Ndrong) là sử thi thần thoại (thuộc loại hình sử thi cổ sơ). Mặc dù có chứa đựng các yếu tố anh hùng chiến trận, nhưng nền tảng chi phối toàn bộ thi pháp, nội dung và nhân vật của Ot Ndrong vẫn là thế giới quan và tư duy thần thoại.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về lý luận và thực tiễn
- Về mặt hệ thống hóa nhân vật: Luận án là công trình đầu tiên khảo sát một cách toàn diện và có hệ thống toàn bộ thế giới nhân vật trong sử thi M’nông (phân chia thành 5 nhóm nhân vật trung tâm và nhân vật phụ trợ), vượt qua giới hạn của các công trình trước vốn chỉ nghiên cứu nhân vật chính đơn lẻ.
- Về mặt xác định thể loại: Luận án đưa ra hệ thống luận cứ khoa học đa diện (môi trường diễn xướng, chức năng, cấu tạo đề tài, thi pháp cốt truyện, cách thức xây dựng nhân vật, cơ sở xã hội) để chứng minh và khẳng định Ot Ndrong là sử thi thần thoại, giải quyết thỏa đáng những tranh luận kéo dài về việc xếp tác phẩm vào sử thi anh hùng, sử thi phổ hệ hay sử thi thiết chế xã hội.
- Về mặt tư liệu và văn hóa học: Khẳng định giá trị nguyên hợp của Ot Ndrong như một bách khoa thư về đời sống vật chất và tinh thần của người M’nông thời cổ xưa, cung cấp cơ sở dữ liệu tin cậy cho nghiên cứu văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Lập hồ sơ công thức truyền thống: Xây dựng bộ mã lưu trữ các công thức truyền miệng của sử thi M’nông làm công cụ xác lập tính truyền thống của từng loại văn bản.
- Mô hình hóa trong truyền dạy: Đề xuất phương án truyền dạy hát kể sử thi cho thế hệ trẻ thông qua việc mô hình hóa tác phẩm bằng hệ thống công thức truyền thống, giúp việc tiếp nhận và ghi nhớ dễ dàng hơn.
- Bảo tồn trong đời sống cộng đồng: Tìm giải pháp hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo tồn di sản; đưa hát kể sử thi trở lại môi trường sinh hoạt văn hóa tự nhiên của buôn bon.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Về phương diện ngôn ngữ: Tác giả luận án thừa nhận vốn hiểu biết về tiếng M’nông còn hạn chế, quá trình nghiên cứu chủ yếu dựa trên các văn bản song ngữ đã được dịch sang tiếng Việt (do nghệ nhân Điểu Kâu phiên dịch), chưa thể khảo sát trực tiếp 100% trên nguyên bản tiếng M’nông ở mọi khía cạnh ngữ âm và thi pháp bản tộc.
- Về phạm vi tư liệu: Luận án mới tập trung khảo sát sâu 32 tác phẩm đã được xuất bản chính thức, chưa thể bao quát toàn bộ 215 bản ghi âm tư liệu sưu tầm của dự án.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Nâng cao năng lực ngôn ngữ bản tộc để tiếp cận và giải mã trực tiếp các văn bản Ot Ndrong bằng tiếng M’nông gốc.
- Mở rộng khảo sát toàn bộ các bản ghi âm chưa xuất bản để tiếp tục kiểm chứng các mô hình nhân vật và cấu trúc tự sự.
- Đi sâu nghiên cứu so sánh đối chiếu giữa Ot Ndrong với sử thi của các tộc người khác trong khu vực Đông Nam Á lục địa và hải đảo.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn đối với các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Văn học dân gian, Văn hóa học, Dân tộc học: Cung cấp khung phương pháp luận tiếp cận thi pháp thể loại sử thi nguyên hợp và hệ thống phân loại nhân vật tự sự dân gian. Phần đáng tham khảo nhất là Chương 2 (phân loại hệ thống nhân vật) và Chương 3 (tiêu chí phân định tiểu loại thể loại).
- Giảng viên đại học và cao đẳng: Tài liệu tham khảo hữu ích cho các học phần Văn học dân gian Việt Nam, Văn học các dân tộc thiểu số, Văn hóa tộc người Tây Nguyên.
- Cơ quan quản lý văn hóa và nhà hoạch định chính sách tại các tỉnh Tây Nguyên (Đắk Nông, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Bình Phước): Tham khảo các đề xuất về mô hình hóa công thức truyền thống và giải pháp bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể Ot Ndrong trong bối cảnh biến đổi kinh tế - xã hội.
Câu hỏi thường gặp
1. Căn cứ nào để tác giả luận án khẳng định sử thi M’nông (Ot Ndrong) là sử thi thần thoại mà không phải là sử thi anh hùng hay sử thi phổ hệ?
Tác giả dựa trên sự khảo sát đồng bộ 6 yếu tố: môi trường diễn xướng gắn với nghi lễ cộng đồng; chức năng sinh hoạt nguyên hợp; đề tài xoay quanh sáng tạo thế giới, hồng thủy, hôn nhân ngoại tộc; cốt truyện liên kết chắp đoạn; nhân vật gắn với bùa phép, thần linh và hành động chiến đấu thô sơ; cơ sở xã hội phản ánh thời kỳ quá độ từ mông muội sang dã man, chưa hình thành liên minh bộ lạc hay nhà nước. Về tính chất phổ hệ, tác giả chỉ ra Ot Ndrong chưa có tính chất cha truyền con nối qua nhiều thế hệ như sử thi Manas mà chủ yếu xoay quanh thế hệ thứ nhất, thứ hai (thế hệ thứ ba chỉ có nhân vật Mbông).
2. Hệ thống nhân vật trong Ot Ndrong được luận án phân chia thành các nhóm cụ thể nào?
Luận án phân chia thế giới nhân vật thành hai khối chính:
- Tuyến nhân vật trung tâm: Nhân vật khai thiên lập địa; Nhân vật anh hùng văn hóa (tiêu biểu là Tiăng); Nhân vật anh hùng chiến trận (Lêng, Yang, Mbông).
- Các loại nhân vật khác: Nhân vật thần kỳ (các Yang, thần linh, vật thiêng); Nhân vật người đẹp (nàng Bing, Jri); Nhân vật đối lập (kẻ thù bon làng, quái vật); Nhân vật cộng đồng (dân bon làng); Nhân vật truyền tin (chim chóc, sứ giả).
3. Nguồn ngữ liệu chính mà luận án sử dụng gồm những tác phẩm nào và do ai phiên dịch?
Ngữ liệu chính gồm 32 tác phẩm sử thi M’nông đã xuất bản thành 32 tập sách song ngữ (thuộc Dự án Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên giai đoạn 2001–2007), toàn bộ do nghệ nhân Điểu Kâu phiên dịch từ tiếng M’nông sang tiếng Việt. Trong đó, luận án phân tích trọng tâm 11 tác phẩm: Bông, Rŏng và Tiăng; Đẻ Tiăng; Đẻ Lênh; Lênh nghịch đá thần của Yang; Mùa rẫy bon Tiăng; Cây nêu thần; Đi giành lại đàn Ndring; Cướp chiêng cổ bon Tiăng; Cướp Djăn, Dje; Con diều lá cướp Bing con Jri; Bắt con lươn ở suối Dak Hŭch.
4. Bối cảnh lịch sử - xã hội được phản ánh trong sử thi M’nông mang những đặc trưng gì?
Ot Ndrong phản ánh xã hội M’nông cổ xưa ở bước chuyển tiếp từ thời đại mông muội sang thời đại dã man theo quan niệm của Ăngghen: xuất hiện gia đình đối ngẫu thay thế quần hôn, xác lập tục bài trừ hôn nhân cùng huyết thống (phản ánh qua câu chuyện Bong - Rong), thực hiện chế độ ngoại hôn (Lêng cướp nàng Bing con Jri), và bước đầu manh nha sự chuyển biến từ chế độ mẫu quyền sang phụ quyền (thể hiện qua vai trò quản lý bon làng và chỉ huy của Tiăng, Lêng, Mbông).
5. Đặc điểm nổi bật về ngôn ngữ và nghệ thuật gieo vần trong hát kể Ot Ndrong là gì?
Ngôn ngữ Ot Ndrong mang tính nguyên hợp (kết hợp văn xuôi tự sự, nhạc tính của thơ và hành động của kịch), mộc mạc, sử dụng nhiều ví von, so sánh và phóng đại. Về hình thức gieo vần, Ot Ndrong có cấu trúc vần tự do, trong đó vần lưng và vần đầu xuất hiện với tần suất vượt trội so với vần chân. Vần lưng và vần đầu đóng vai trò móc xích các từ và các câu liên tiếp, giúp nghệ nhân dân gian có thể ghi nhớ và hát kể hàng vạn câu sử thi.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Triệu Văn Thịnh là công trình nghiên cứu chuyên khảo về hệ thống nhân vật và đặc trưng thể loại của sử thi M’nông (Ot Ndrong). Dựa trên việc phân tích 32 tác phẩm song ngữ đã xuất bản kết hợp điền dã dân tộc học, công trình đã chứng minh và khẳng định Ot Ndrong thuộc tiểu loại sử thi thần thoại trong loại hình sử thi cổ sơ. Kết quả nghiên cứu đóng góp nguồn ngữ liệu khoa học quan trọng cho việc nghiên cứu thi pháp văn học dân gian các dân tộc thiểu số và cung cấp giải pháp thực tiễn cho công tác bảo tồn di sản văn hóa Tây Nguyên.