Hệ Thống Nhân Vật Trong Sử Thi M’Nông và Vấn Đề Thể Loại

Luận án tiến sĩ phân tích hệ thống nhân vật trong sử thi Mnông và khám phá các vấn đề thể loại, góp phần vào nghiên cứu văn hóa dân gian.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Văn học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2015

337
8
1

Phí lưu trữ

75 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Hệ Thống Nhân Vật Sử Thi M Nông Khám Phá Giá Trị

Sử thi là thể loại văn học có giá trị đặc biệt trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam. Những kết quả sưu tầm và nghiên cứu gần đây càng khẳng định điều này. Sử thi mang tính nguyên hợp, chứa đựng những tư liệu quý về lịch sử, tư tưởng, văn hoá, phong tục tập quán. Người đầu tiên sưu tầm và xuất bản sử thi Tây Nguyên là Léopold Sabatier. Năm 1955, Dominique Antomarchi và Goerges Condominas công bố tác phẩm Dăm Di. Đào Tử Chí dịch và xuất bản tác phẩm Dăm Săn năm 1957. Năm 1963, Dăm Di, Xinh Nhã, Khinh Dú… ra mắt bạn đọc. Dự án Điều tra, Sưu tầm, Bảo quản, Biên dịch và Xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên đã sưu tầm, ghi âm được hàng trăm sử thi khác nhau và xuất bản được 75 tác phẩm. Sử thi M'Nông được phát hiện tương đối muộn (năm 1988).

1.1. Vị Trí Sử Thi M Nông trong Tổng Thể Sử Thi Tây Nguyên

Sử thi M'Nông tuy phát hiện muộn nhưng đã đạt được những thành tựu to lớn. Đỗ Hồng Kỳ có công trình Sử thi thần thoại M’Nông (1996). Phan Đăng Nhật có Vùng sử thi Tây Nguyên (1999). Ngô Đức Thịnh có Sử thi Tây Nguyên phát hiện và các vấn đề (2002). Nguyễn Việt Hùng có luận án tiến sĩ Công thức truyền thống trong sử thi - Ot Ndrong (2012). Từ năm 2001 đến năm 2007, Dự án đã sưu tầm được số lượng hàng trăm tác phẩm sử thi M’Nông, góp phần làm phong phú thêm kho tàng sử thi Việt Nam và khẳng định dân tộc M’Nông có khối lượng sử thi đồ sộ bậc nhất.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu Hệ Thống Nhân Vật

Việc sưu tầm, dịch thuật, xuất bản và nghiên cứu sử thi M'Nông đã gặt hái được nhiều kết quả đáng trân trọng. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu để có cái nhìn tổng quan về một thể loại văn học dân gian độc đáo. Việc xác định tiểu loại sử thi M'Nông còn có những ý kiến khác nhau. Một số người cho nó là sử thi thần thoại, số khác cho là sử thi phổ hệ, sử thi sáng thế, hoặc sử thi anh hùng. Với những vấn đề đặt ra ở trên, nghiên cứu về hệ thống nhân vật trong sử thi M’Nông trở nên cần thiết.

II. Thách Thức Nghiên Cứu Nhân Vật Trong Sử Thi M Nông Hiện Nay

Nghiên cứu về văn hoá M’Nông đã được các nhà khoa học trong nước và ngoài nước quan tâm. Tuy nhiên, công việc này chỉ thật sự được chú trọng vào những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI. Georges Condominas là người đầu tiên nghiên cứu về dân tộc M’Nông một cách khoa học. Năm 1957, ông xuất bản cuốn sách “Chúng tôi ăn rừng”. Ông nhắc đến một hình thức truyện kể của người M’Nông Gar có tên gọi là noo proo và gọi đó là anh hùng ca. Võ Quang Nhơn cho rằng người M’Nông có sử thi với những tác phẩm như Đam Brơi, Chàng Trăng. Bế Viết Đẳng và các tác giả đã có sự nhầm lẫn giữa hình thức kể gia phả với sử thi.

2.1. Lịch Sử Nghiên Cứu Sơ Khai Về Văn Hóa M Nông Và Sử Thi

Việc nghiên cứu về sử thi M’Nông chỉ đặc biệt được chú ý sau việc phát hiện ra thể loại này vào năm 1988. Theo Đỗ Hồng Kỳ, đoàn công tác của Viện Văn hoá dân gian đã tiến hành khảo sát tại bon Bu Dop, xã Dak Môl. Qua lời hát kể của các nghệ nhân, nhà nghiên cứu Đỗ Hồng Kỳ và một số người trong đoàn công tác đã nhất trí cho rằng đó chính là sử thi của người M’Nông. Từ đó đến nay đã có nhiều người quan tâm nghiên cứu về sử thi M’Nông và có thể nói tiêu biểu hơn cả là nhà nghiên cứu Đỗ Hồng Kỳ.

2.2. Những Khó Khăn Trong Tiếp Cận Nguồn Tư Liệu Về Sử Thi M Nông

Đỗ Hồng Kỳ đã nhiều lần đến vùng đất có nhiều người M’Nông sinh sống để tìm hiểu, nghiên cứu về văn hoá, văn học của họ. Ông đã tiếp cận với nhiều nghệ nhân dân gian người M’Nông như Điểu Kâu, Điểu Klứt, Điểu Klung… Ông đã có một quá trình làm việc thường xuyên và lâu dài với nghệ nhân Điểu Kâu - người duy nhất phiên dịch các tác phẩm sử thi M’Nông ra tiếng Việt. Từ năm 2001, công tác sưu tầm, dịch thuật và xuất bản sử thi M’Nông có bước phát triển mạnh mẽ và đạt được những kết quả to lớn.

III. Phân Loại Nhân Vật Sử Thi M Nông Cách Tiếp Cận Khoa Học

Trong khuôn khổ dự án, các nhà nghiên cứu đã xác định được gần 100 nghệ nhân người M’Nông biết hát kể sử thi. Dự án kết thúc và đã thu được những kết quả to lớn ngoài dự kiến. Các nhà nghiên cứu đã sưu tầm, ghi âm được 215 bản hát kể và đã cho biên dịch, xuất bản được 26 tác phẩm sử thi M’Nông. Điều này khẳng định hiệu quả thiết thực từ việc đầu tư đúng đắn của Nhà nước cũng như những đóng góp to lớn của các nhà khoa học. Quá trình nghiên cứu và nhận thức sử thi M'Nông đã trải qua mấy thập kỷ. Tuy nhiên, việc nhận thức và xác định đặc trưng thể loại của nó vẫn còn những điểm khác biệt.

3.1. Nhân Vật Trung Tâm Trong Sử Thi M Nông Vai Trò Cốt Lõi

Đỗ Hồng Kỳ đã liên tục cho công bố các kết quả nghiên cứu của ông trên các tạp chí khoa học chuyên ngành cũng như những cuốn sách có giá trị. Trong rất nhiều những công trình đó, đáng chú ý là những bài báo và cuốn sách như năm 1990 có bài viết Ot Nrông - sử thi cổ sơ Mơ Nông. Trong bài này, tác giả giới thiệu một cách khái quát về môi trường, phương thức diễn xướng và chức năng sinh hoạt, nội dung và phương thức thể hiện, cơ sở xã hội và nội dung phản ánh của sử thi M’Nông.

3.2. Nhân Vật Phản Diện Trong Sử Thi Phản Ánh Xung Đột Xã Hội

Năm 1993, có bài Cốt truyện và nhân vật trong sử thi nrông của người M’Nông. Trong bài này, tác giả có bàn đến cốt truyện đơn và cốt truyện liên kết, phân tích đặc điểm của cốt truyện Ot Ndrong. Năm 1994, Đỗ Hồng Kỳ đã bảo vệ thành công luận án Phó tiến sĩ với đề tài Sử thi thần thoại M’Nông và năm 1996 công trình này đã được Nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành. Cuốn sách tập trung phân tích về nội dung của sử thi M’Nông trên các phương diện như sự hình thành con người; thế giới ba tầng và một số nhân vật tiêu biểu hoạt động trong thế giới đó; các nhân vật anh hùng.

3.3 Nhân Vật Thần Kỳ và Nhân Vật Anh Hùng Biểu Tượng Văn Hóa M Nông

Bên cạnh vấn đề nội dung của Ot Ndrong, ông đã đi vào phân tích hình thức của nó trên các phương diện: Đặc điểm cấu trúc của tác phẩm, các thủ pháp nghệ thuật, chức năng tư tưởng - thẩm mỹ của Ot ndrong. Năm 2001, Đỗ Hồng Kỳ cho xuất bản cuốn sách Những khía cạnh văn hoá dân gian M’Nông Nong. Trong cuốn sách này, bên cạnh việc đề cập sâu hơn những vấn đề về tác giả, sáng tác và phương thức lưu truyền, nghệ nhân, công chúng và môi trường diễn xướng, chức năng sinh hoạt, nội dung và thi pháp của Ot Ndrong.

IV. Vai Trò Nhân Vật Trong Bảo Tồn Văn Hóa Sử Thi M Nông

Năm 2002, Đỗ Hồng Kỳ có 2 bài viết đáng chú ý đăng liên tiếp trong 2 số 4 và 5 của Tạp chí Văn hoá dân gian. Ông đã cho biết sử thi M’Nông có một số lượng đồ sộ với hàng trăm tác phẩm đã được điều tra, phát hiện, khảo sát và sưu tầm. Có lẽ với Đỗ Hồng Kỳ, cuốn sách công phu, đầy đủ nhất về quá trình nghiên cứu sử thi M’Nông là Văn học dân gian Ê Đê, Mơ Nông, xuất bản năm 2008. Nguyễn Xuân Kính cho nó như là một tập đại thành về quá trình nghiên cứu sử thi M’Nông. Một lần nữa lại đặt ra câu hỏi là sử thi M’Nông thuộc loại nào. Đỗ Hồng Kỳ vẫn luôn cho rằng Ot Ndrong là sử thi thần thoại.

4.1. Ảnh Hưởng Của Tín Ngưỡng Đến Tính Cách Nhân Vật Sử Thi

Cuốn sách này, Đỗ Hồng Kỳ đã điều chỉnh một số nhận xét trước đây của mình về sử thi M’Nông, bên cạnh đó là việc ông cùng Điểu Kâu đã sơ đồ hoá dòng con cháu mẹ Chau và cụ thể hoá một cách khá đầy đủ hệ thống nhân vật trong sử thi M’Nông. Với cuốn sách này thì một lần nữa lại đặt ra câu hỏi là sử thi M’Nông thuộc loại nào, sử thi phổ hệ hay sử thi chuỗi hoặc sử thi liên hoàn; thuộc tiểu loại nào, thần thoại hay anh hùng, sáng thế hay thiết chế xã hội hay sử thi M’Nông mang cả hai tính chất: thần thoại - anh hùng hoặc sáng thế - thiết chế xã hội? Đỗ Hồng Kỳ vẫn luôn cho rằng Ot Ndrong là sử thi thần thoại, tuy nhiên quan điểm này của ông có sự khác biệt với quan điểm của Phan Đăng Nhật, Ngô Đức Thịnh, Bùi Thiên Thai…

4.2. Biểu Tượng Nhân Vật Truyền Tải Giá Trị Truyền Thống M Nông

Bên cạnh Đỗ Hồng Kỳ còn có nhiều nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu về sử thi M’Nông như Phan Đăng Nhật, Nguyễn Xuân Kính. cần được nghiên cứu sâu hơn. Nghiên cứu này tập trung phân tích các loại nhân vật chính, xem xét vai trò của chúng trong việc truyền tải các giá trị văn hóa M'Nông. Nghiên cứu cũng xem xét cách các nhân vật phản ánh thế giới quan và nhân sinh quan của người M'Nông.

V. Kết Luận Tương Lai Nghiên Cứu Nhân Vật Sử Thi M Nông

Việc nghiên cứu về nhân vật trong sử thi M'Nông vẫn còn nhiều tiềm năng phát triển. Các nghiên cứu trong tương lai nên tập trung vào việc so sánh hệ thống nhân vật trong sử thi M'Nông với các sử thi khác trong khu vực Đông Nam Á. Ngoài ra, cần có những nghiên cứu về sự biến đổi của nhân vật sử thi trong bối cảnh xã hội hiện đại.

5.1. Hướng Nghiên Cứu Mở Rộng Về Mô Típ Nhân Vật Sử Thi

Các nghiên cứu sâu hơn về mô típ nhân vậtnguồn gốc nhân vật cần được thực hiện. Điều này sẽ giúp hiểu rõ hơn về văn hóa M'Nông và vị trí của nó trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Đồng thời bảo tồn và phát huy giá trị của văn học dân gian M'Nông.

5.2. Bảo Tồn Giá Trị Văn Hóa M Nông Thông Qua Nghiên Cứu Sử Thi

Nghiên cứu về sử thi M'Nông không chỉ có giá trị về mặt học thuật mà còn có ý nghĩa thiết thực trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc M'Nông. Qua đó, góp phần làm phong phú thêm văn hóa Việt Nam.

28/05/2025
Luận án tiến sĩ hệ thống nhân vật trong sử thi mnông và vấn đề thể loại

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Sử thi là một thể loại có giá trị đặc biệt trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam. Những kết quả sƣu tầm và nghiên cứu gần đây, càng cho chúng ta có cơ sở để đƣa ra nhận định trên. Sử thi là thể loại văn học có tính nguyên hợp, ngoài những giá trị về văn học nghệ thuật, nó còn chứa đựng những tƣ liệu quý về lịch sử, tƣ tƣởng, văn hoá, phong tục tập quán v.

Ngƣời đầu tiên sƣu tầm và xuất bản sử thi Tây Nguyên là viên công sứ ngƣời Pháp tên là Léopold Sabatier. Sabatier công bố sử thi Dăm Săn bằng tiếng Pháp, tại Pari. Trong lời tựa của cuốn sách, một nhà văn ngƣời Pháp cho rằng đây là tác phẩm văn học cuối cùng của ngƣời Êđê: “Nhƣng cay đắng thay, bằng chứng về văn chƣơng của ngƣời Mọi cũng là cái cuối cùng”[128/15]. Đó là một nhận xét có phần vội vàng và võ đoán, bởi sự phát hiện ra Dăm Săn mới chỉ là bƣớc khởi đầu cho công việc sƣu tầm và khám phá kho tàng sử thi phong phú và đa dạng của Tây Nguyên.

Tiếp đó, vào năm 1955, các học giả ngƣời Pháp khác tên là Dominique Antomarchi và Goerges Condominas cho công bố tác phẩm Dăm Di (D. Antomarchi sƣu tầm và G. Condominas viết giới thiệu) trên Tạp chí của Viện Viễn Đông bác cổ. Nhƣ vậy, với việc sƣu tầm và công bố sử thi của ngƣời Pháp, chúng ta biết rằng ở Tây Nguyên có sử thi.

Sau sự phát hiện mang tính mở đƣờng của L. Sabatier, phải mấy mƣơi năm sau độc giả Việt Nam mới đƣợc biết nhiều về kho tàng sử thi Tây Nguyên với việc Đào Tử Chí dịch và xuất bản tác phẩm Dăm Săn với tên gọi là Bài ca chàng Dăm Săn vào năm 1957 (Đào Tử Chí dịch sử thi Dăm Săn sang tiếng Việt từ bản bằng tiếng Pháp của L. Tiếp đó vào năm 1963, hàng loạt tác phẩm nhƣ Dăm Di, Xinh Nhã, Khinh Dú, Dăm Prao… ra mắt bạn đọc đƣợc in trong cuốn sách Trường ca Tây Nguyên. Tuy nhiên công tác sƣu tầm, dịch thuật, xuất bản và nghiên cứu sử thi Tây Nguyên thật sự đƣợc quan tâm chú ý, đầu tƣ đúng mức và đạt đƣợc nhiều thành tựu đáng trân trọng là vào 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com những năm cuối thế kỷ thứ XX, đầu thế kỷ XXI, đặc biệt là Dự án Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên.

Kết qủa to lớn của Dự án là đã sƣu tầm, ghi âm đƣợc hàng trăm sử thi khác nhau và đã xuất bản đƣợc 75 tác phẩm sử thi của các dân tộc Tây Nguyên nhƣ Ê Đê, Ba Na, M’nông, RagLai, Xtiêng, Xê Đăng, Chăm Hroi… bằng hình thức song ngữ (tiếng Việt và tiếng bản tộc). Đặt trong tiến trình sƣu tầm và nghiên cứu sử thi ở Việt Nam thì sử thi M’nông đƣợc phát hiện tƣơng đối muộn (năm 1988). Mặc dù đƣợc phát hiện muộn nhƣng việc nghiên cứu sử thi M’nông cũng đã đạt đƣợc những thành tựu to lớn, các tác giả tiêu biểu là Đỗ Hồng Kỳ với công trình Sử thi thần thoại M’nông (1996) và phần viết về sử thi M’nông in trong cuốn Văn học dân gian Êđê và M’nông (2008); Phan Đăng Nhật với công trình Vùng sử thi Tây Nguyên (1999), Để tìm hiểu thêm sử thi M’nông - Ot Nrong (2002), Ngô Đức Thịnh với Sử thi Tây Nguyên phát hiện và các vấn đề (2002), Nguyễn Việt Hùng với luận án tiến sĩ Công thức truyền thống trong sử thi - Ot Ndrong (2012)… Về nguồn tƣ liệu, có thể nói trƣớc năm 2001, việc sƣu tầm, dịch thuật và xuất bản sử thi M’nông còn tƣơng đối khiêm tốn. Nhƣng từ năm 2001 đến năm 2007, trong khuôn khổ Dự án, trong đó sử thi M’nông là bộ phận quan trọng đƣợc tiến hành thì các nhà nghiên cứu của Viện nghiên cứu văn hoá thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) đã sƣu tầm đƣợc số lƣợng hàng trăm tác phẩm sử thi M’nông (đã xuất bản đƣợc 26 tác phẩm song ngữ Việt - M’nông).

Kết quả trên đã góp phần làm phong phú thêm kho tàng sử thi Việt Nam và khẳng định dân tộc M’nông có khối lƣợng sử thi đồ sộ vào bậc nhất trong khu vực và cả thế giới. Việc sƣu tầm, dịch thuật, xuất bản và nghiên cứu sử thi M’nông đã gặt hái đƣợc nhiều kết quả đáng trân trọng, song vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục đƣợc nghiên cứu để có cái nhìn tổng quan về một thể loại văn học dân gian độc đáo đang hiện tồn trong đời sống của cộng đồng ngƣời M’nông. Bên cạnh đó, việc xác định tiểu loại sử thi M’nông đang còn có những ý kiến khác nhau, có 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngƣời cho nó là sử thi thần thoại, có ngƣời cho nó là sử thi phổ hệ, có ngƣời cho nó mang đậm tính chất của sử thi sáng thế, có ngƣời cho nó là sử thi anh hùng… Ở đây cần nói thêm là hiện nay việc phân loại sử thi đang có những cách làm khác nhau. Nếu dựa theo thời gian, có sử thi cổ sơ và sử thi cổ đại (cổ điển); dựa vào nội dung và đề tài, có sử thi sáng thế và sử thi thiết chế xã hội (cũng dựa và nội dung và đề tài ngƣời ta còn có cách gọi tên khác: sử thi sáng thế tƣơng đƣơng với sử thi thần thoại và sử thi thiết chế xã hội tƣơng đƣơng với sử thi anh hùng); dựa vào hình thức, cấu trúc tác phẩm có sử thi phồ hệ và sử thi đơn hệ.

Vậy sử thi M’nông là loại nào trong những loại vừa nêu trên? Với những vấn đề đặt ra ở trên, cùng với đó bản thân là ngƣời dân tộc thiểu số, hiện nay đang công tác và giảng dạy trên vùng đất Tây Nguyên - nơi sản sinh ra kho tàng sử thi đặc sắc nên chúng tôi chọn đề tài Hệ thống nhân vật trong sử thi M’nông và vấn đề thể loại làm đối tƣợng cho luận án của mình. Lịch sử vấn đề nghiên cứu Nghiên cứu về văn hoá M’nông đã đƣợc các nhà khoa học trong nƣớc và ngoài nƣớc quan tâm cách đây hơn nửa thế kỷ. Tuy nhiên công việc này chỉ thật sự đƣợc chú trọng và đạt đƣợc những kết qủa to lớn vào những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI. Ngƣời đầu tiên nghiên cứu về dân tộc M’nông một cách khoa học là học giả ngƣời Pháp tên là Goerges Condominas.

Trong những năm 1947, 1948 ông đã đến sống cùng với ngƣời M’nông Gar ở huyện Lăk, tỉnh Dak Lăk để tìm hiểu và nghiên cứu về tộc ngƣời này. Sau một quá trình cùng chung sống với ngƣời M’nông Gar, nhà dân tộc học ngƣời Pháp đã cho xuất bản cuốn sách có tựa đề Chúng tôi ăn rừng vào năm 1957, sau đó đƣợc tái bản vào năm 1974 (Năm 2003, tác phẩm này đƣợc xuất bản lần đầu tiên bằng tiếng Việt). Trong cuốn sách này, G. Condominas có nhắc đến một hình thức truyện kể của ngƣời M’nông Gar có tên gọi là noo proo và ông gọi đó là anh hùng ca (épopée), ông viết “Và câu chuyện nói đến nào noo proo, nào anh hùng ca mới hay ho làm sao: cuộc sáng tạo ra thế giới, trận đại hồng thuỷ, con ngƣời bị quỷ nhai nuốt và 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phun ra, biển nhấn chìm cả một đạo quân…” [12/186].

Tuy nhiên do mục đích của cuốn sách chủ yếu là khảo sát về tộc ngƣời và văn hoá M’nông trên phƣơng diện dân tộc học do vậy mà G. Codominas chƣa đi sâu nghiên cứu sử thi của ngƣời M’nông. Ở Việt Nam, ngƣời đầu tiên đề cập đến sử thi M’nông là cố học giả Võ Quang Nhơn. Năm 1981 trong luận án Phó tiến sĩ Ngữ văn (nay là Tiến sĩ) và năm 1983 trong cuốn sách Văn học dân gian các dân tộc ít người ở Việt Nam ông cho rằng ngƣời M’nông có sử thi với những tác phẩm nhƣ Đam Brơi, Chàng Trăng…[71/58] nhƣng ông cũng mới chỉ dừng lại ở việc kể tên tác phẩm, còn tên gọi bản địa của nó là gì, hình hài của nó ra sao thì chƣa thấy ông nói đến.

Năm 1982 trong cuốn sách Đại cương về các dân tộc Êđê, Mnông ở Dak Lak, Bế Viết Đẳng và các tác giả của cuốn sách cũng đã nhắc đến hình thức hát kể sử thi của ngƣời M’nông, ông viết “Cùng với nhóm M’nông Nong, nhóm M’nông Prêng còn có hình thức kể gia phả gọi là N’koc yao đƣợc xem nhƣ một loại sử thi vậy” [17/144]. Ở đây các tác giả đã có sự nhầm lẫn giữa hình thức kể gia phả với sử thi. Việc nghiên cứu về sử thi M’nông chỉ đặc biệt đƣợc chú ý sau việc phát hiện ra thể loại này ở xã Dak Mol, huyện Dak Mil, tỉnh Dak Lăk (nay là huyện Dak Song, tỉnh Dak Nông) vào năm 1988. Theo Đỗ Hồng Kỳ cho biết thì năm 1988, đoàn công tác của Viện Văn hoá dân gian (nay là Viện nghiên cứu Văn hoá) gồm Ngô Đức Thịnh, Đỗ Hồng Kỳ, Tô Đông Hải và Nguyễn Tấn Đắc (Viện Khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh, nay là Viện phát triển bền vững vùng Nam bộ) đã tiến hành khảo sát tại bon Bu Dop, xã Dak Môl, huyện Dak Song, tỉnh Dak Nông; qua lời hát kể của các nghệ nhân ngƣời M’nông và qua những phỏng dịch ban đầu, nhà nghiên cứu Đỗ Hồng Kỳ và một số ngƣời trong đoàn công tác đã nhất trí cho rằng đó chính là sử thi của ngƣời M’nông.

Từ đó đến nay đã có nhiều ngƣời quan tâm nghiên cứu về sử thi M’nông và có thể nói tiêu biểu hơn cả là nhà nghiên cứu Đỗ Hồng Kỳ. Vào thập niên 80, 90 của thế kỷ trƣớc, ông đã nhiều lần đến vùng đất có nhiều ngƣời M’nông 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sinh sống (chủ yếu là tỉnh Dak Lăk và tỉnh Dak Nông). Ông đã cùng ăn, cùng ở với những con ngƣời nơi đây để tìm hiểu, nghiên cứu về văn hoá, văn học của họ. Ông đã tiếp cận với nhiều nghệ nhân dân gian ngƣời M’nông nhƣ Điểu Kâu, Điểu Klứt, Điểu Klung, Điểu Mpơih, Điểu Byăt… Trong số các nghệ nhân đó thì Đỗ Hồng Kỳ đã có một quá trình làm việc thƣờng xuyên và lâu dài với nghệ nhân Điểu Kâu - đến thời điểm đó vẫn là ngƣời duy nhất phiên dịch các tác phẩm sử thi M’nông ra tiếng Việt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Hệ Thống Nhân Vật Trong Sử Thi M’Nông: Nghiên Cứu và Phân Tích" cung cấp một cái nhìn sâu sắc về các nhân vật trong sử thi M’Nông, từ đó phân tích vai trò và ý nghĩa của chúng trong văn hóa và lịch sử của dân tộc. Bài viết không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về các nhân vật tiêu biểu mà còn mở ra những khía cạnh mới trong việc nghiên cứu văn học dân gian. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích từ việc nắm bắt các đặc điểm văn hóa, tâm tư và giá trị nhân văn mà các nhân vật này đại diện.

Để mở rộng thêm kiến thức về văn hóa và văn học dân gian, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận án tiến sĩ nghiên cứu ca dao dân ca dưới góc nhìn bối cảnh trường hợp ca dao dân ca đồng bằng sông cửu long, nơi khám phá sâu sắc về ca dao dân ca trong bối cảnh văn hóa cụ thể. Ngoài ra, tài liệu Luận văn đặc điểm sử thi dân tộc chăm ở phú yên sẽ giúp bạn so sánh và đối chiếu với các đặc điểm của sử thi M’Nông. Cuối cùng, tài liệu Khóa luận tốt nghiệp nhân vật nữ trong truyền thuyết dân gian người việt sẽ mang đến một cái nhìn khác về vai trò của nhân vật nữ trong văn hóa dân gian Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và khám phá sâu hơn về các chủ đề liên quan.