mở đầu cuộc khẩn hoang lập ấp, người Chăm lui về sống trên vùng núi. Nhà nghiên cứu Phan Khoang trong “Việt sử xứ Đàng Trong” viết: “Sau khi đất Phú Yên ngày nay trở vào Nam bị các chúa Nguyễn đánh chiếm thì một số người Chăm lên sinh sống với người Mọi” [125, tr. Theo đó, người Chăm Hroi trước kia là thần dân của vương quốc Chiêm Thành cũ di tản lên vùng núi tránh loạn rồi định cư luôn tại đây, họ vẫn còn giữ ngôn ngữ và một số phong tục tập quán của người Chăm đồng bằng. Người Chăm ở Phú Yên có cùng hệ Chăm với Ninh Thuận, Bình Thuận.
Tuy nhiên, trong những sinh hoạt thường nhật nhiều yếu tố đã bị ảnh hưởng, lai tạp. Có thể lý giải là do một bộ phận người Chăm do cách ly với cộng đồng khá lâu nên không còn giữ được một số yếu tố truyền thống văn hoá nhưng lại tiếp thu văn hoá của các dân tộc bản địa. Chẳng hạn như người Chăm ở đây có thể nói được tiếng Ê đê. Thậm chí một số bộ phận sống trong rừng già tự nhận là dân tộc Chăm nhưng sinh hoạt của họ mang nặng bản sắc Ê đê hơn.
Tóm lại, người Chăm đang cư trú tại Phú Yên hiện nay thật sự là con cháu của cư dân Chăm pa, đã lên miền núi sinh sống qua nhiều thế hệ. Do cách ly với cộng đồng lâu ngày nên trong đời sống, kinh tế, xã hội và văn hoá có những khác biệt so với cộng đồng người Chăm đang sống tại Ninh Thuận, Bình Thuận và các nơi khác. Tuy nhiên, họ vẫn tự nhận mình là người Chăm. Điều đó phản ánh khá rõ trong tên gọi, nguồn gốc dân tộc, và trong một số đặc trưng về văn hoá.
Người Chăm - Phú Yên có nhiều tên gọi dân tộc gắn với địa danh nơi họ sống hoặc đặc điểm nơi họ sống. Chẳng hạn như người Chăm sống ở suối Hà Đang, huyện Đồng Xuân tự nhận mình là người Chăm Hà Đang. Người Chăm tại Thuận Hải gọi những cư dân gốc Chăm sinh sống tại các tỉnh Phú Yên và Bình Định là H’roi hay Hờ Roi. Nói chung, Chăm Hroi là tên gọi tộc người Chăm sống ở vùng núi phía Tây Bình Định và Phú Yên.
Nguồn gốc của tên Chăm Hroi này được Ka Sô Liễng, nhà sưu tầm văn học dân gian giải thích: “Đây là tên gọi chung chỉ người Chăm sống ở vùng thấp gần người Kinh nhằm phân biệt một bộ phận người Chăm sống ở rừng già, thường gọi là Chăm Dlay Yưa”. Tên gọi này đã phân biệt cộng đồng Chăm sống ở vùng núi Bình Định, Phú Yên và cộng đồng Chăm sống tại đồng bằng của Ninh Thuận, Bình Thuận, và các tỉnh Nam Bộ. Như vậy, có thể gọi người Chăm sống tách biệt với cộng đồng Chăm gốc ở Ninh Thuận, Bình Thuận và hiện tại đang sống ở Bình Định, Phú Yên là Chăm Hroi. Tên gọi người Chăm ở Phú Yên nhằm xác định rõ địa danh và nơi sinh sống của cộng đồng người Chăm Hroi là ở Phú Yên để phân biệt với người Chăm Hroi sinh sống ở Bình Định.
Một số đặc điểm văn hoá người Chăm - Phú Yên: Dân tộc Chăm cũng giống như các dân tộc ít người khác sinh sống ở Phú Yên, họ sống dọc theo dãy Trường Sơn từ Sông Hinh đến huyện Vân Canh tỉnh Bình Định. Người Chăm Hroi tìm nơi hiểm hóc như đỉnh núi cao, thung lũng có núi non bao bọc xung quanh để sinh sống. Do cư trú trong những vùng đất có điều kiện tự nhiên và địa hình không thuận lợi, trong hoạt động kinh tế, người Chăm - Phú Yên tồn tại nhiều loại hình như săn bắt, hái lượm, làm ruộng, các nghề thủ công, trồng cây, chăn nuôi gia súc, gia cầm. Làm rẫy là loại hình sản xuất nông nghiệp chủ yếu của những người Chăm - Phú Yên.
Họ chọn đất làm rẫy ở rừng thưa vì rừng già là nơi Yàng ngự trị, không ai được xâm phạm. Trước khi phát rẫy, họ phải làm gà cúng Yàng đất cầu mong cho được mạnh tay khoẻ chân. Người Chăm - Phú Yên có nhiều điều cấm kị liên quan đến Yàng.Trong chăn nuôi, người Chăm - Phú Yên ít chú ý chăm sóc gia súc, gia cầm mà hầu như phó mặc cho thiên nhiên, may rủi. Khi gặp dịch bệnh, họ đập bò, giết trâu, mổ heo cúng Yàng, cầu xin sự giúp đỡ của thần linh.
Săn bắt, hái lượm là một phương thức lao động của người Chăm - Phú Yên. Họ thường cầm dao, ná, rựa, dây đi săn với hai hình thức săn tập thể và săn cá nhân. Người Chăm - Phú Yên theo chu kì vào rừng để hái lượm các sản phẩm của rừng như măng, nấm, mật ong, cánh kiến, hoa quả, thuốc chữa bệnh, các loại lá, rễ, cây có thể ăn được. Các nghề thủ công truyền thống là những nghề dệt vải và nghề đan.
Người Chăm - Phú Yên có tính cộng đồng cao. Khi người ở địa phương khác hoặc dân tộc khác xâm phạm quyền lợi, danh dự của người dân trong cộng đồng, trước tiên người Chăm - Phú Yên tập hợp lại khuyên bảo. Nếu những người này không nghe cộng đồng mới xử phạt. Trong cộng đồng, người dân sẵn sàng chia nhau những món ăn, thịt săn được cho nhau.
Họ quan niệm con vật chết là của chung, con vật sống là của riêng. Những tập tục, lối sống trên đây đã phản ánh đúng hình thái xã hội đặc trưng của thời đại sử thi phát triển. Và trong đời sống văn hoá của người Chăm - Phú Yên, đáng chú ý nhất là đời sống tâm linh. Người Chăm - Phú Yên có quan niệm và hệ thống thần linh của người mình như sau: Bà tạo hoá sinh ra mọi vật trên trái đất (gọi là Mó Pinh).
Mó Pinh và Yàng là đấng tối cao trong tự nhiên. Mó Pinh giao cho Yàng cai quản mọi vật trên trái đất. Trong hệ thống thần linh, có nhiều Yàng như Yàng đất, Yàng trời thấp, Yàng trời cao, Yàng núi, Yàng rừng, Yàng sông, Yàng suối, Yàng cây đa.Thân hình Yàng cũng giống như người nhưng mặt giống khỉ, râu giống dê, sừng giống sừng bò, chân giống chân cá sấu, tóc đỏ giống lông gà trống, mắt giống mắt cú, miệng giống mỏ diều hâu. Yàng cũng có Yàng tốt và Yàng xấu, Yàng ác.
Do vậy làm việc gì người Chăm - Phú Yên cũng phải khấn xin, hỏi ý kiến Yàng mới được thực hiện. Khi gặp hoạn nạn khó khăn trong cuộc sống, dân chúng khấn Yàng trời. Khi tai qua nạn khỏi, họ đâm trâu cúng Yàng trời, gọi là “đâm trâu xoay cột”. Ngoài ra, họ còn cúng ông bà, Yàng Lơ geh, Yàng Tơdrê, Yàng Mơ Pó, Yàng Mơ Lăm (cúng Ma ác), Yàng Núi, Yàng Rừng, Yàng Anh em.
Trong lễ hội, tín ngưỡng, người Chăm - Phú Yên có nhiều lễ hội. Lễ hội tín ngưỡng theo vòng đời người là lễ hội được xoay theo những bước quan trọng trong đời một con người như sinh đẻ, trưởng thành, hôn nhân, tang ma. Một số lễ như: lễ cưa răng là một lễ quan trọng để đánh dấu sự trưởng thành của một người đến tuổi trưởng thành, lễ mừng sức khoẻ, lễ bỏ mả. Một số lễ hội theo vòng cây trồng như: lễ tìm đất, cầu mưa, cúng xin cây, cúng đầu mùa, lễ cúng cơm mới, lễ đưa lúa vào kho.
Ngoài ra, người Chăm - Phú Yên còn có một số lễ tục khác trong đời sống thường nhật như: lễ cúng đầu phục (cúng cổng làng), cúng bến nước, cúng đất, lễ đổ đầu, cúng rửa xả xui, cúng trừ ma lai. Những biểu hiện trong sinh hoạt văn hóa trên đây cho thấy, người Chăm - Phú Yên có ảnh hưởng sâu nặng với các dân tộc thiểu số nơi đây như dân tộc Ba na, Ê đê. Bởi lẽ, cùng sống và sinh hoạt trong một địa bàn không rộng lắm, các dân tộc này ở xen kẽ gần gũi với nhau. Do vậy, ngôn ngữ và văn hoá có sự ảnh hưởng qua lại với nhau một cách mạnh mẽ.
Cùng với sự cách ly với cộng đồng người Chăm đã lâu đời và không còn sự tiếp xúc, giao lưu, người Chăm - Phú Yên đã không còn giữ lại được những nét văn hoá truyền thống của người Chăm gốc trong quan niệm, sinh hoạt vật chất và tinh thần. So sánh người Chăm ở Phú Yên và người Chăm ở vùng lân cận: Người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận là một cộng đồng có số dân chiếm đa số trong cộng đồng người Chăm ở Việt Nam, còn lưu giữ nhiều bản sắc và phong tục cổ truyền của nhất của tộc người. Do vậy, so sánh người Chăm ở Phú Yên với người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận, nhất là người Chăm theo đạo Bà là môn là cách thức tìm ra những nét văn hoá của cộng đồng mà người Chăm ở Phú Yên còn lưu giữ được hoặc đã thay đổi, tiếp biến trong quá trình lịch sử. Người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận có khoảng trên 60 nghìn người, cư trú tương đối tập trung.
Người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận theo hai tôn giáo chính là Bàlamôn và Hồi giáo. Người Chăm Bàlamôn thờ tín ngưỡng đa thần. Thần ở trên trời như thần mặt trời, thần gió, thần mưa, thần sấm sét. Thần ở trên mặt đất như thần núi, thần sông, thần cây, thần rừng, thần ở các động vật, ở các công cụ lao động, ở đền tháp.v… Hệ thống lễ nghi nông nghiệp của người Chăm Bàlamôn gồm một số lễ nghi tiêu biểu như: lễ chuyển mùa, đón năm mới, lễ cầu mưa, lễ cúng chặn nguồn nước, lễ tế trâu, lễ cúng thần ruộng, lễ cúng đầu lúa.
Hệ thống nghi lễ cộng đồng tôn giáo có lễ Katê là lễ hội lớn nhất. Nghi lễ vòng đời của người Chăm Bàlamôn tập trung chủ yếu ở giai đoạn sinh, cưới và tang, bao gồm: lễ sinh đẻ, lễ cưới, lễ tang ma. Người Chăm theo đạo Hồi giáo cũ (Bà ni) sống quây quần bên thánh đường. Thánh đường là nơi các tu sỹ và các tín đồ Bà ni đến cầu nguyện và dâng lễ.
Người Chăm Bà ni có tín ngưỡng nhất thần, chỉ thờ phụng thánh Ala và thiên sứ Môhamet. Tuy nhiên, người Chăm Bà ni ngoài việc cầu nguyện thánh Ala vẫn cầu nguyện các thần linh từ xa xưa như các thần thiên nhiên: thần Mưa, thần Biển, thần Núi, thần Nước, thần Sông và một số nhân thần như Pôklongirai, Pôrômê, Pô Inư Nưgar…Tháng chay Ramưvan là thời gian quan trọng nhất của người Bàni và là mùa lễ hội lớn nhất. Người Chăm Bà ni không tổ chức và tham dự lễ hội Katê. Nghi lễ vòng đời gồm những lễ quan trọng như: lễ Karơh là lễ cấm phòng cho các thiếu nữ và lễ katat là lễ cắt qui đầu cho các nam thiếu niên đến tuổi trưởng thành.