Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ nghệ thuật với đề tài Mỹ thuật đình làng thế kỷ XVIII ở Nghệ An (qua nghiên cứu đình làng Đông Viên, Hoành Sơn, Trung Cần) được nghiên cứu sinh Uông Thị Mai Hương thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Văn Cương tại Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam (bảo vệ năm 2020), thuộc chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật (mã số: 9210101).
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả trình bày rằng đình làng Việt Nam truyền thống là di sản văn hóa, lịch sử và nghệ thuật được lan tỏa qua nhiều vùng miền. Tại Nghệ An – khu vực trung tâm của xứ Nghệ thuộc Bắc Trung Bộ – hiện còn lưu giữ trên 200 ngôi đình làng có giá trị lịch sử và văn hóa. Dù không phải trung tâm có mật độ kiến trúc cổ đậm đặc như vùng châu thổ Bắc Bộ, hệ thống đình làng ở Nghệ An thế kỷ XVIII mang những thuộc tính tạo hình riêng biệt phản ánh môi trường tự nhiên và đời sống sinh hoạt miền Trung. Nhiều công trình nghiên cứu trước đây của các nhà sử học hay văn hóa học chỉ dừng lại ở góc độ khảo tả, thống kê sự kiện lịch sử hoặc giới thiệu hoạt động di tích địa phương; các công trình nghiên cứu toàn diện về kiến trúc và điêu khắc trang trí từ lăng kính nghệ thuật học vẫn chưa nhiều. Việc lựa chọn khảo sát ba ngôi đình Đông Viên, Hoành Sơn và Trung Cần đóng vai trò nghiên cứu trường hợp tiêu biểu cho nghệ thuật đình làng thế kỷ XVIII tại Nghệ An nhằm bổ sung dữ liệu nghệ thuật học vào khoảng trống nghiên cứu của mỹ thuật cổ Việt Nam.
Mục đích nghiên cứu của luận án là xác định các đặc trưng và giá trị mỹ thuật truyền thống của đình làng Nghệ An trong tổng thể mỹ thuật đình làng Việt Nam, trọng tâm là hai thành tố: nghệ thuật kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc trang trí trên kiến trúc (bên cạnh các yếu tố hội họa dân gian và đồ thờ). Luận án giải quyết các nhiệm vụ: tổng quan tư liệu và xác lập cơ sở lý luận; khảo sát, phân tích và giải mã biểu tượng các mô típ trang trí; so sánh đối chiếu với đình làng Bắc Bộ để làm sáng tỏ nét tương đồng và dị biệt; từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho thực tiễn sáng tạo nghệ thuật tạo hình đương đại.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu gồm 4 câu hỏi:
- Câu hỏi 1: Nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc trang trí trên các đình làng Nghệ An có nhiều điểm khác biệt trong cách tạo hình thẩm mỹ so với các đình làng ở vùng khác (kiến trúc: tỉ lệ chiều cao của đình thấp, tính bền vững, không gian nội thất đậm đặc các mảng chạm), phải chăng do các yếu tố vùng miền: tự nhiên, xã hội (thời tiết, địa hình, địa lí) hay những quan niệm của địa phương?
- Câu hỏi 2: Nghệ thuật chạm khắc gỗ ở các công trình kiến trúc đình làng Nghệ An thế kỷ XVIII có mối liên hệ mật thiết như thế nào với mỹ thuật đình làng truyền thống vùng châu thổ Bắc Bộ?
- Câu hỏi 3: Đình làng Nghệ An có sự khác biệt như thế nào trong các chủ đề trang trí hay thủ pháp, kỹ thuật chạm khắc gỗ so với vùng châu thổ sông Hồng thế kỷ XVII - thế kỷ XVIII, tại sao?
- Câu hỏi 4: Những đặc trưng và giá trị mỹ thuật của đình làng Nghệ An, thế kỷ XVIII là gì? Phải chăng tính tư duy thẩm mỹ đã tạo nên những đặc trưng và giá trị của mỹ thuật đình làng Nghệ An?
Giả thuyết nghiên cứu của luận án xác định:
- Nghệ thuật đình làng thế kỷ XVIII ở Nghệ An có nét tương đồng với đình làng miền Bắc nhưng mang nhiều dị biệt về kết cấu (hệ thống cột, vì kèo giá chiêng chồng rường, kiểu thức đầu hồi không có bít đốc), phong cách chạm khắc thanh thoát, chau chuốt hơn do ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên khắc nghiệt (gió Lào, lũ lụt) và quan niệm thẩm mỹ địa phương.
- Hệ thống nghệ thuật tạo hình kiến trúc và chạm khắc sắp xếp theo trật tự chủ đề biểu tượng (tầng lớp trên đại diện cho vương quyền; tầng lớp quân tử với tứ linh, tứ quý, tứ dân, tam hợp; các tích truyện chiêu hiền đãi sĩ, giáo dục truyền thống; sinh hoạt dân dã như dựng nhà, đánh cá, uống rượu, đánh cờ, bắn cung).
- Sự tồn tại song song của hai phong cách kỹ thuật chạm khắc trên cùng một công trình (điển hình tại đình Hoành Sơn) phản ánh sự tham gia đồng thời của phường thợ địa phương và hiệp thợ di chuyển từ vùng châu thổ Bắc Bộ.
- Sự xuất hiện của dạng thức bố cục mặt bằng thờ dọc (hậu cung nằm ở gian hồi) tại đình Đông Viên gắn liền với bối cảnh kinh tế tư nhân, hoạt động thương mại và sự du nhập tín ngưỡng tôn giáo tại vùng hạ lưu sông Lam vào thế kỷ XVIII.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: Mỹ thuật đình làng thế kỷ XVIII ở Nghệ An, tập trung vào hai thành tố chính là nghệ thuật kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc trang trí trên kiến trúc qua ba trường hợp nghiên cứu.
- Phạm vi thời gian: Luận án tập trung vào giai đoạn thế kỷ XVIII gắn với niên đại khởi dựng của các công trình khảo sát: đình Đông Viên khởi dựng năm 1743, đình Hoành Sơn khởi dựng năm 1764, đình Trung Cần khởi dựng năm 1781.
- Phạm vi không gian: Huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (đình Đông Viên tại xã Nam Phúc, đình Hoành Sơn tại xã Nam Trung, đình Trung Cần tại xã Trung Cần), trong mối liên hệ không gian văn hóa lưu vực ven sông Lam.
| Di tích khảo sát |
Địa bàn hành chính |
Niên đại khởi tạo |
Bố cục mặt bằng gốc |
Diện tích khuôn viên |
| Đình Đông Viên |
Xã Nam Phúc, huyện Nam Đàn |
Năm 1743 (thời Lê Hiển Tông, Cảnh Hưng) |
Chữ Nhất (thờ dọc, hậu cung ở gian hồi) |
1.815,6 m² |
| Đình Hoành Sơn |
Xã Nam Trung, huyện Nam Đàn |
Năm 1764 (thời Lê - Trịnh) |
Chữ Nhất (3 gian, 2 chái, 2 dĩ, 38 cột gỗ) |
Không gian ven sông Lam |
| Đình Trung Cần |
Xã Trung Cần, huyện Nam Đàn |
Năm 1781 (thời Lê Cảnh Hưng) |
Chữ Nhất kết hợp hậu cung và tam quan |
Cụm di tích ven sông Lam |
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan lịch sử nghiên cứu trong văn bản được tác giả phân loại theo các nguồn công trình trong nước và quốc tế:
Về nhóm nghiên cứu tổng quát về đình làng Việt Nam:
- Nguyễn Văn Khoan (1930) với Khảo luận về ngôi đình và việc thờ thần thành hoàng của các làng xã ở Bắc Kỳ (BEFEO) khảo cứu chức năng kép dân dụng và tôn giáo của ngôi đình, chỉ ra mối liên hệ giữa tín ngưỡng thành hoàng và sự định hình thiết chế đình làng từ thời Lê sơ thế kỷ XV sang thời Mạc thế kỷ XVI.
- Nguyễn Du Chi (1995) trong phần "Nghệ thuật dân gian" thuộc Địa chí Văn hóa Dân gian Nghệ Tĩnh khái quát nghệ thuật dân gian địa phương và so sánh bước đầu giữa đình làng miền Bắc và miền Trung.
- Hà Văn Tấn và Nguyễn Văn Kự (1998) trong Đình Việt Nam khảo cứu toàn diện kiến trúc đình làng qua các thế kỷ XVI, XVII, XVIII, cung cấp bản vẽ mặt bằng và mặt cắt kiến trúc.
- Chu Quang Trứ (2001) trong Văn hóa Việt Nam nhìn từ mỹ thuật (tập 1) phân tích sự dịch chuyển kỹ thuật từ chạm lộng thế kỷ XVII sang chạm nổi thế kỷ XVIII do nguồn gỗ quý suy giảm ở miền Bắc.
- Trần Lâm Biền qua các công trình Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt (2001), Đình làng vùng châu thổ Bắc Bộ (2013), Đình làng Việt vùng châu thổ Bắc Bộ (2014) và Diễn biến kiến trúc truyền thống Việt vùng châu thổ sông Hồng (2017) đã giải mã hệ thống hoa văn, linh vật, kết cấu khung gỗ, đồng thời nhận định sự suy giảm xây dựng đình làng ở Bắc Bộ trong thế kỷ XVIII đối lập với sự phát triển mạnh mẽ tại miền Trung.
- Lê Thanh Đức (2001) với Đình làng miền Bắc cung cấp tư liệu hình ảnh và phân tích ý nghĩa tín ngưỡng hòa hợp tự nhiên của kiến trúc dân gian.
- Trịnh Cao Tưởng (2006) trong Một chặng đường tìm về quá khứ giải thích hình tượng con thuyền trong cấu tạo bộ mái và bộ khung đình, đồng thời khảo cứu ý nghĩa ký hiệu mã hóa trên cây thước tầm trong đo đạc kiến trúc cổ.
- Nguyễn Văn Cương (2006) trong Mỹ thuật đình làng đồng bằng Bắc Bộ tiếp cận mỹ thuật kiến trúc và chạm khắc đình làng từ góc độ văn hóa học.
- Thái Bá Vân (2012) với bài viết "Điêu khắc đình làng Việt" trên Tạp chí Nghiên cứu Mỹ thuật phân tích sự phát triển của nghệ thuật dân gian trong bối cảnh xã hội thế kỷ XVII - XVIII.
- Nguyễn Chí Bền (2013) trong Lễ hội cổ truyền của người Việt, cấu trúc và thành tố khảo cứu thời điểm xuất hiện và chức năng của đình trong hội làng.
- Nguyễn Quân và Phan Cẩm Thượng trong Mỹ thuật của người Việt (1989) và Mỹ thuật ở làng (1995) phân tích sự biến đổi của kết cấu kiến trúc, bộ mái và đặc điểm điêu khắc thế kỷ XVIII, ghi nhận đề tài mang tính giáo huấn tại đình Hoành Sơn, Trung Cần.
- Trần Đình Tuấn (2012) với luận án tiến sĩ về hình tượng con người trong chạm khắc đình làng vùng châu thổ sông Hồng.
Về nhóm nghiên cứu di tích đình làng tại Nghệ An:
- Phan Xuân Thành qua các bài báo cáo khảo cổ học về "Đình tám mái ở Diễn Hoàng, Nghệ An" (2001) và "Đình Cháy, Nghệ An" (2003) khảo tả quy mô, kết cấu 5 gian 2 chái, hệ thống 20 cột lim và dạng thức bố cục thờ dọc tương tự đình Đông Viên.
- Nguyễn Sỹ Quế (2010) trong Lịch sử kiến trúc truyền thống Việt Nam xếp các đình ven sông Lam (Hoành Sơn, Trung Cần) thành một chuỗi di tích phản ánh trình độ thẩm mỹ và kỹ thuật kiến trúc bản địa.
- Trần Lâm Biền qua báo cáo điền dã năm 1980 và bài nói chuyện năm 2011 tại đình Hoành Sơn lý giải nguyên nhân kinh tế cộng đồng làng xã Nghệ Tĩnh thế kỷ XVIII còn duy trì được nguồn lực dựng đình khi phong trào ở Bắc Bộ suy thoái.
Về nhóm nghiên cứu của học giả nước ngoài:
- Marcel Bernanose (1922) trong Nghệ thuật trang trí ở Bắc Kỳ ghi nhận các kỹ thuật trang trí đồ gỗ và tay nghề của thợ điêu khắc bản địa.
- Louis Bezacier (1955) trong Nghệ thuật Việt Nam khảo sát loại hình kiến trúc đình làng kết hợp tính dân dụng và tôn giáo.
- P. Giran và P. Gourou khảo sát vai trò xã hội và sự tương đồng cấu trúc của ngôi đình trong làng xã Việt Nam.
- Kerry Nguyễn Long (2013) trong cuốn Arts of Viet Nam 1009 - 1945 ghi nhận mỹ thuật dân gian truyền thống qua các triều đại.
- H. Le Breton (thập niên 1930) ghi chép và đánh giá cao quy mô, tính thẩm mỹ của đình Hoành Sơn.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết là: phần lớn các nghiên cứu trước đây chỉ khảo sát mỹ thuật đình làng ở châu thổ Bắc Bộ hoặc tiếp cận đình làng Nghệ An ở phạm vi khảo tả lịch sử, khảo cổ học từng di tích đơn lẻ. Chưa có công trình nào nghiên cứu hệ thống, chuyên biệt từ lý luận và lịch sử mỹ thuật để phân tích kết cấu kiến trúc, đo đạc kích thước tạo hình, giải mã biểu tượng điêu khắc và đối chiếu quy luật giao lưu văn hóa giữa miền Bắc và Bắc Trung Bộ trong thế kỷ XVIII.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên việc chuẩn hóa các khái niệm chuyên ngành và áp dụng ba khung lý thuyết phân tích:
Các khái niệm công cụ:
- Mỹ thuật: được hiểu theo nghĩa Hán - Việt và định nghĩa bách khoa thư nghệ thuật là nghệ thuật thị giác / nghệ thuật tạo hình tồn tại trong không gian, phân chia thành nghệ thuật tạo hình (điêu khắc, hội họa, đồ họa) và nghệ thuật không tạo hình (kiến trúc, nghệ thuật trang trí). Trong luận án, nghiên cứu sinh tập trung vào hai nhánh: nghệ thuật kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc trang trí.
- Đình làng: công trình kiến trúc công cộng bằng gỗ của làng xã Việt Nam xưa, đảm nhận ba chức năng tín ngưỡng, hành chính và văn hóa; là nơi thờ cúng thành hoàng làng và nơi hội họp việc làng.
- Mỹ thuật đình làng: tập hợp các yếu tố thẩm mỹ thể hiện qua hình khối kiến trúc và các mảng chạm khắc trang trí, đồ án hoa văn trên các cấu kiện khung gỗ của ngôi đình.
Khung lý thuyết phân tích:
- Lý thuyết Địa - Văn hóa: giải thích mối quan hệ biện chứng giữa hoàn cảnh tự nhiên, địa hình ven sông Lam, khí hậu khắc nghiệt (nắng nóng gió Lào, mưa bão, lũ lụt) và nguồn lâm sản (rừng gỗ quý thượng nguồn) đối với giải pháp tạo hình kiến trúc bền vững, chiều cao đình thấp, cột gỗ kích thước lớn và đề tài chạm khắc gắn liền với cảnh quan sông nước.
- Lý thuyết Tiếp biến văn hóa (Acculturation) theo định nghĩa của Radugin: phân tích quá trình chuyển hóa giữa yếu tố ngoại sinh (tiếp nhận văn hóa nghệ thuật từ đồng bằng Bắc Bộ, tư tưởng Nho - Phật - Đạo) thành yếu tố nội sinh mang bản sắc văn hóa xứ Nghệ.
- Luận điểm giải mã biểu tượng (decode symbols): kết hợp quan điểm mô tả sâu của Clifford Geertz về tôn giáo và văn hóa như một hệ thống biểu tượng với lý thuyết ký hiệu học của Roland Barthes phân định hai cấp độ: ngoại biểu (cái hiển - hình thức miêu tả bề ngoài, nghĩa đen) và nội hàm (cái mật - ý nghĩa văn hóa, ước vọng xã hội, tâm linh). Luận án giải mã các hình tượng rồng, phượng, lân, hổ phù, đao mác, sóng nước, hoạt cảnh sinh hoạt nông nghiệp và nho học.
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu thứ cấp: khảo cứu các công trình nghiên cứu lịch sử, mỹ thuật, văn hóa dân gian và văn bản hồ sơ di tích để thiết lập khung tham chiếu lịch sử.
- Phương pháp điền dã: trực tiếp quan sát, ghi chép, đo đạc thông số kích thước cấu kiện gỗ, chụp ảnh khảo sát và phỏng vấn nhân chứng tại ba ngôi đình Đông Viên, Hoành Sơn, Trung Cần cùng các di tích liên quan tại Nghệ An.
- Phương pháp thống kê: tổng hợp số đo kích thước lòng gian, khẩu độ hàng cột, đường kính cột, phân loại số lượng và chủ đề mảng chạm thành các bảng số liệu để làm cứ liệu phân tích hình thái học.
- Phương pháp so sánh: đối chiếu hình thái kiến trúc và thủ pháp chạm khắc giữa ba ngôi đình khảo sát với nhau, với các đình lân cận ở Nghệ An (đình Cháy, đình Diễn Hoàng) và hệ thống đình làng châu thổ Bắc Bộ các thế kỷ XVI, XVII, XVIII.
- Cách tiếp cận liên ngành: phối hợp mỹ thuật học với lịch sử, địa lý, tôn giáo học và văn hóa dân gian nhằm tránh sai lệch niên đại cấu kiện qua các lần tu bổ.
Nguồn tư liệu sử dụng gồm hệ thống văn bản thành văn (Đại Việt sử ký toàn thư, địa chí địa phương), văn bia, lạc khoản khắc trên cấu kiện gỗ (như dòng chữ Hán trên quá giang đình Đông Viên xác định năm hoàn thành 1743), hồ sơ xếp hạng di tích và tài liệu đo đạc thực tế tại hiện trường.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lí luận và khái quát về đối tượng nghiên cứu
Chương 1 có dung lượng 42 trang, thiết lập cơ sở khoa học cho toàn bộ luận án qua ba nội dung chính:
- Tổng hợp và phân loại tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đình làng Việt Nam, mỹ thuật đình làng Bắc Bộ và các di tích đình làng tại Nghệ An; chỉ rõ khoảng trống nghiên cứu về góc độ nghệ thuật học đối với đình làng miền Trung thế kỷ XVIII.
- Xác định hệ thống khái niệm chuyên ngành mỹ thuật, kiến trúc, điêu khắc đình làng và xác lập khung lý thuyết ứng dụng gồm Lý thuyết Địa - Văn hóa, Lý thuyết Tiếp biến văn hóa và phương pháp giải mã biểu tượng ký hiệu học.
- Khái quát bối cảnh địa lý - tự nhiên, kinh tế - xã hội và tín ngưỡng xứ Nghệ thế kỷ XVIII. Về tự nhiên, Nghệ An có diện tích 16.370 km², phía tây là dãy Trường Sơn với đỉnh Pu Lai Leng cao 2.711 m; mạng lưới sông Lam (sông Cả) bắt nguồn từ cao nguyên Xiêng Khoảng chảy ra biển qua Cửa Hội, vừa cung cấp tuyến đường thủy vận chuyển các loại gỗ quý lâu năm từ miền ngược về xuôi để dựng đình, vừa gây lũ lụt thường niên tác động đến tâm thức dân gian. Về xã hội, thế kỷ XVIII chứng kiến sự phát triển của kinh tế hàng hóa làng xã, tầng lớp thợ thủ công và sự giao thương ven sông Lam. Về tín ngưỡng, đình làng Nghệ An tích hợp thờ nhân thần (Uy Minh Vương Lý Nhật Quang tại đình Hoành Sơn; Tiến sĩ - Lại bộ Thượng thư Tống Tất Thắng và Khổng Tử tại đình Trung Cần), thờ nhiên thần (Cao Sơn, Cao Các với 26 di tích theo thống kê của Ninh Viết Giao), tín ngưỡng sông nước (Đại Càn Quốc gia Nam Hải Tứ vị Thánh Nương xuất phát từ đền Cờn gắn với hình tượng chim phượng hoàng sải cánh lớn) kết hợp với tư tưởng Lão - Trang nhàn dật.
- Giới thiệu khái quát lai lịch khởi dựng ba ngôi đình: đình Đông Viên khởi dựng năm 1743 (thời Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng) có khuôn viên 1.815,6 m²; đình Hoành Sơn khởi dựng năm 1764; đình Trung Cần khởi dựng năm 1781 với cụm 4 tấm bia đá cổ đặt cạnh tam quan.
Chương 2: Nghệ thuật kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc trang trí đình làng thế kỷ XVIII ở Nghệ An (đình làng Đông Viên, đình làng Hoành Sơn, đình làng Trung Cần)
Chương 2 có dung lượng 59 trang, tập trung khảo sát thực địa và phân tích hình thái hai thành tố mỹ thuật chính của ba ngôi đình:
- Nghệ thuật kiến trúc: Phân tích quy hoạch mặt bằng, hướng đình nhìn ra sông Lam mang ý nghĩa phong thủy tụ thủy, kết cấu bộ khung gỗ, hệ thống cột và các bộ vì kèo giá chiêng chồng rường. Tác giả chỉ ra nét đặc thù về tỷ lệ chiều cao của đình làng Nghệ An thấp hơn so với đình làng Bắc Bộ nhằm thích ứng với gió bão, nhưng kết cấu liên kết mộng giằng và kích thước thân cột gỗ lim lại rất lớn. Khảo sát dấu vết lỗ mộng trên thân cột cái và cột quân chứng minh kết cấu sàn đình xưa kia phân chia thứ bậc chỗ ngồi trong làng xã. Về mặt bằng, đình Đông Viên thể hiện dạng thức thờ dọc đặc thù khi đặt hậu cung ở gian hồi thay vì nhô ra phía sau dạng chuôi vồ chữ Đinh.
- Hệ thống số liệu kích thước cấu kiện được tác giả thống kê chi tiết qua 5 bảng số liệu trong văn bản:
| Ký hiệu bảng trong luận án |
Tên bảng số liệu |
Vị trí trang |
Nội dung thống kê chính |
| Bảng 2.1 |
Bảng kê kích thước giữa các hàng cột trong đình làng Hoành Sơn |
Tr. 55 |
Số đo khoảng cách giữa các hàng chân cột cái, cột quân, bước cột |
| Bảng 2.2 |
Bảng kê khẩu độ giữa các gian đình và số lượng cột đình làng Trung Cần |
Tr. 58 |
Số lượng cột gỗ và khẩu độ khoảng cách giữa các bước gian đại đình |
| Bảng 2.3 |
Bảng khẩu độ các bước gian và cột của đình làng Trung Cần |
Tr. 63 |
Chi tiết số đo kỹ thuật khẩu độ lòng gian, chiều cao cột |
| Bảng 2.4 |
Bảng kê so sánh khẩu độ, kích thước cột và gian của các đình làng |
Tr. 64 |
Tương quan so sánh kích thước cột, gian giữa Đông Viên, Hoành Sơn, Trung Cần |
| Bảng 2.5 |
Bảng thống kê và so sánh kích thước tạo hình của một số đình làng Việt tiêu biểu |
Tr. 66 |
So sánh đối chiếu kích thước tạo hình giữa đình Nghệ An và đình tiêu biểu Bắc Bộ |
- Nghệ thuật điêu khắc trang trí: Khảo sát chi tiết vị trí trang trí trên cốn, ván cốn, ván nong, kẻ, bẩy, xà, đầu dư, cửa võng. Tác giả phân tích các kỹ thuật chạm bong, chạm kênh, chạm lộng nguyên khối gỗ lim lớn ít chắp nối và kỹ thuật chạm nổi. Về hệ thống đề tài, điêu khắc đình làng Nghệ An thế kỷ XVIII phản ánh cấu trúc xã hội qua trật tự biểu tượng:
- Tầng lớp vương quyền và linh thiêng: đồ án rồng ổ, lưỡng long chầu nguyệt, rồng lao thẳng xuống từ cột cái cửa võng (đình Hoành Sơn), chim phượng hoàng sải cánh gắn với tín ngưỡng Tứ vị Thánh Nương, hổ phù trên tắc môn.
- Tầng lớp nho học và điển tích: hình tượng Khổng Tử, rồng học chữ, cuốn thư, cảnh vinh quy bái tổ, nghinh rước ông nghè, tích Thành Thang cầu Y Doãn, sĩ tử ôn thi.
- Tầng lớp sinh hoạt dân dã và thiên nhiên: cảnh làm nhà, đánh cá bằng nơm, uống rượu, đánh cờ, đá cầu, bắn cung, mẹ cho con bú, tắm sen, đánh hổ, người cưỡi cá hóa rồng, đua thuyền trên sông Lam.
- Phát hiện về phong cách: tại đình Hoành Sơn, các mảng chạm khắc bên cánh tả và cánh hữu mang hai phong cách kỹ thuật và tạo hình đối xứng khác nhau, phản ánh sự phối hợp của hai hiệp thợ (thợ địa phương xứ Nghệ và thợ di chuyển từ Bắc Bộ).
Chương 3: Bàn luận về đặc trưng và giá trị mỹ thuật đình làng thế kỷ XVIII ở Nghệ An
Chương 3 có dung lượng 43 trang, tổng hợp các luận điểm so sánh và đánh giá giá trị:
- Đặc trưng mỹ thuật đình làng Nghệ An thế kỷ XVIII: Khẳng định tính đa dạng trong phong cách tạo hình, kết hợp giữa yếu tố tả thực và cách điệu trang trí, giữa đề tài huyền thoại linh thiêng và hiện thực đời sống, giữa nét mộc mạc dân gian và vẻ trang nghiêm cung đình. Không gian trang trí nội thất có mật độ mảng chạm đậm đặc, đường nét chạm khắc chau chuốt, mềm mại.
- So sánh sự tương đồng và khác biệt giữa đình làng Nghệ An và đình làng Bắc Bộ:
- Nét tương đồng: Cùng chia sẻ mô thức kiến trúc khung gỗ cổ truyền của người Việt với hệ vì kèo, bộ mái lợp ngói mũi hài vươn cong ở 4 góc đao mang hình tượng con thuyền rẽ sóng; chung hệ thống biểu tượng linh vật tứ linh (long, lân, quy, phụng), tứ quý và đề tài sinh hoạt làng quê.
- Nét khác biệt: Về kiến trúc, đình làng Nghệ An có tỷ lệ chiều cao thấp hơn, tường bao quanh ban đầu để trống tạo không gian thoáng đãng, đầu hồi không có tường bít đốc; cột gỗ lim có đường kính lớn do tận dụng nguồn gỗ rừng thượng nguồn sông Lam; xuất hiện kiểu mặt bằng thờ dọc tại gian hồi (đình Đông Viên, đình Cháy). Về điêu khắc, trong khi đình làng thế kỷ XVIII ở Bắc Bộ có xu hướng quay về chạm nổi nông do khan hiếm gỗ quý và suy giảm đề tài dân dã, thì đình làng Nghệ An thế kỷ XVIII phát triển mạnh kỹ thuật chạm lộng, chạm kênh bong trên khối gỗ lớn; đề tài điêu khắc mang đậm dấu ấn truyền thống hiếu học Nho khoa xứ Nghệ (chân dung Khổng Tử, rồng học chữ, vinh quy) kết hợp tín ngưỡng sông nước đặc thù.
- Giá trị đặc sắc: Giá trị nghệ thuật kiến trúc thể hiện tư duy thích ứng môi trường tự nhiên; giá trị điêu khắc tạo hình ghi nhận tay nghề kỹ thuật của nghệ nhân dân gian; giá trị lịch sử văn hóa phản ánh giai đoạn kinh tế làng xã Nghệ Tĩnh hưng thịnh vào thế kỷ XVIII, bảo lưu và phát triển tiếp nối dòng chảy mỹ thuật đình làng Việt Nam.
Kết quả và những đóng góp mới
Các đóng góp mới về mặt lý luận khoa học của luận án:
- Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống và chuyên biệt đầu tiên dưới góc độ nghệ thuật học về mỹ thuật kiến trúc và điêu khắc trang trí đình làng thế kỷ XVIII ở Nghệ An thông qua ba trường hợp đại diện đã xếp hạng di tích quốc gia.
- Xác lập cơ sở khoa học để phân tích, so sánh các phong cách tạo hình vùng miền, làm sáng tỏ tính tiếp nối và biến đổi của mỹ thuật đình làng Việt Nam từ châu thổ Bắc Bộ thế kỷ XVII sang khu vực Bắc Trung Bộ thế kỷ XVIII.
- Giải mã thành công hệ thống biểu tượng điêu khắc gỗ dân gian trên kiến trúc đình làng xứ Nghệ theo cấu trúc trật tự xã hội và tín ngưỡng địa phương (vương quyền, Nho học, tín ngưỡng sông nước và sinh hoạt bản địa).
Các đóng góp mới về mặt thực tiễn:
- Khẳng định giá trị nghệ thuật của cụm di tích đình làng Đông Viên, Hoành Sơn, Trung Cần, cung cấp hồ sơ cứ liệu khoa học phục vụ công tác bảo tồn, trùng tu và phát huy giá trị di sản mỹ thuật cổ.
- Đúc kết các bài học kinh nghiệm về xử lý tỷ lệ không gian kiến trúc thích ứng môi trường tự nhiên và kỹ thuật tạo hình điêu khắc gỗ nguyên khối, đóng góp dữ liệu tham khảo cho hoạt động sáng tạo nghệ thuật tạo hình đương đại.
Về kiến nghị và giải pháp:
- Luận án kiến nghị các cơ quan quản lý văn hóa cần có quy chuẩn bảo tồn nghiêm ngặt đối với hệ thống cấu kiện gỗ nguyên bản, tránh việc sơn thếp hoặc can thiệp vật liệu mới làm sai lệch phong cách chạm khắc thế kỷ XVIII trong quá trình tu bổ.
- Đề xuất tăng cường quảng bá các giá trị nghệ thuật thị giác của đình làng xứ Nghệ trong giáo dục di sản và phát triển du lịch văn hóa bền vững tại lưu vực sông Lam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Do quy mô đối tượng nghiên cứu của luận án tập trung khảo sát chuyên sâu vào ba ngôi đình đại diện tại huyện Nam Đàn (Đông Viên, Hoành Sơn, Trung Cần), các số liệu đo đạc và khảo tả chưa thể bao quát toàn bộ hơn 200 ngôi đình làng hiện còn phân bố tại các địa bàn khác của tỉnh Nghệ An.
- Việc phân định tuyệt đối niên đại của một số cấu kiện gỗ trên các bộ vì kèo gặp khó khăn nhất định do các công trình đã trải qua nhiều đợt tu bổ, sửa chữa trong lịch sử.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng khảo sát điền dã và thống kê đo đạc hình thái học đối với hệ thống các ngôi đình có niên đại thế kỷ XVIII - XIX tại các huyện miền núi và ven biển khác của Nghệ An (như Thanh Chương, Yên Thành, Quỳnh Lưu, Diễn Châu).
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh đối chiếu mỹ thuật đình làng Nghệ An với hệ thống đình làng ở khu vực Nam Trung Bộ và Nam Bộ trong tiến trình nam tiến của văn hóa người Việt.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng học thuật và ứng dụng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật, Nghệ thuật học, Kiến trúc cổ truyền và Văn hóa học: là tài liệu chuyên khảo về phương pháp tiếp cận liên ngành trong khảo sát, đo đạc và phân tích hình thái mỹ thuật di tích gỗ cổ truyền.
- Giảng viên và nhà nghiên cứu tại các viện, trường đại học nghệ thuật: sử dụng chương 2 và chương 3 làm giáo trình tham khảo về tiến trình lịch sử mỹ thuật Việt Nam thế kỷ XVIII và kỹ thuật điêu khắc gỗ dân gian.
- Cán bộ quản lý di sản, kiến trúc sư tu bổ di tích thuộc ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch: tham khảo hệ thống bảng kê kích thước cấu kiện (từ Bảng 2.1 đến Bảng 2.5), phân tích liên kết vì kèo và nhận diện đồ án trang trí gốc để phục vụ công tác giám định, lập hồ sơ bảo tồn và trùng tu di tích đình làng tại miền Trung.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao luận án chọn ba ngôi đình Đông Viên, Hoành Sơn và Trung Cần làm trường hợp nghiên cứu đại diện cho hơn 200 đình làng ở Nghệ An?
Tác giả lựa chọn ba ngôi đình này vì chúng đáp ứng ba tiêu chí điển hình của mỹ thuật đình làng thế kỷ XVIII tại Nghệ An:
- Điển hình về nghệ thuật kiến trúc: thể hiện tư duy thẩm mỹ không gian và kết cấu gỗ đặc trưng miền Trung.
- Điển hình về điêu khắc trang trí: quy tụ kỹ thuật chạm lộng trên khối gỗ lớn ít chắp nối; nội dung phản ánh đời sống nông nghiệp sông nước và truyền thống hiếu học xứ Nghệ.
- Điển hình về trang trí nội, ngoại thất: bố cục chạm khắc lớp lang, chau chuốt và đã được xếp hạng di tích quốc gia.
2. Dạng thức bố cục mặt bằng của đình Đông Viên có điểm gì đặc thù so với mô thức đình làng truyền thống?
Đình Đông Viên sở hữu dạng thức bố cục mặt bằng thờ dọc đặc biệt, trong đó phần hậu cung được bố trí ngay tại gian hồi thay vì xây nhô ra phía sau tạo thành chữ Đinh (chuôi vồ) như các đình phổ biến ở Bắc Bộ. Dạng thức này cũng được ghi nhận tại một số ngôi đình cùng thời ở Nghệ An như đình Cháy (huyện Diễn Châu) và đình Trụ Pháp, phản ánh sự biến chuyển trong cách tổ chức không gian tôn giáo và giao lưu văn hóa tại Nghệ An vào đầu thế kỷ XVIII.
3. Luận án lý giải nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt về phong cách chạm khắc giữa hai bên gian đình Hoành Sơn như thế nào?
Qua khảo sát điền dã, tác giả ghi nhận trên các mảng chạm khắc đối xứng giữa cánh tả và cánh hữu tại đình Hoành Sơn xuất hiện hai phong cách kỹ thuật chạm khắc khác nhau. Luận án đưa ra giả thuyết rằng công trình được thi công bởi hai hiệp thợ độc lập làm việc đồng thời: một phường thợ dân gian địa phương xứ Nghệ và một hiệp thợ đến từ vùng châu thổ Bắc Bộ.
4. Đề tài Nho học được thể hiện cụ thể qua những hình tượng điêu khắc nào tại đình làng Trung Cần?
Tại đình Trung Cần, truyền thống Nho học xứ Nghệ được thể hiện qua các mảng chạm khắc có hình bóng chân dung Khổng Tử (người sáng lập Nho giáo, được phối thờ tại đình), hình tượng rồng học chữ, đồ án cuốn thư, cảnh sĩ tử ôn bài và hoạt cảnh đón rước Tiến sĩ - Lại bộ Thượng thư Tống Tất Thắng (người làng đỗ đạt làm quan triều Lê) vinh quy bái tổ về làng.
5. Căn cứ nào được tác giả sử dụng để xác định chính xác niên đại khởi dựng của đình làng Đông Viên?
Niên đại khởi dựng đình Đông Viên được xác định căn cứ vào dòng lạc khoản bằng chữ Hán chạm khắc trực tiếp trên đường quá giang của bộ khung kiến trúc: "Quý Hợi niên canh thủy Giáp Tý xuân hoàn thành", xác định công trình bắt đầu khởi công năm Quý Hợi (1743) và hoàn thành vào mùa xuân năm Giáp Tý (1744) dưới triều vua Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng.
Kết luận
Luận án Mỹ thuật đình làng thế kỷ XVIII ở Nghệ An (qua nghiên cứu đình làng Đông Viên, Hoành Sơn, Trung Cần) của tác giả Uông Thị Mai Hương là công trình chuyên khảo toàn diện về nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc trang trí đình làng cổ truyền tại vùng hạ lưu sông Lam. Thông qua các phương pháp điền dã, thống kê số đo cấu kiện và giải mã biểu tượng mỹ thuật học, công trình đã làm sáng tỏ những đặc trưng tạo hình mang tính địa - văn hóa của xứ Nghệ trong mối tương quan tiếp nối nghệ thuật đình làng Việt Nam thế kỷ XVIII. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống luận cứ khoa học tin cậy cho công tác nghiên cứu lịch sử mỹ thuật, quản lý di sản và bảo tồn trùng tu kiến trúc gỗ cổ truyền tại Việt Nam.