Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về đối tượng nghiên cứu (42 trang). Chương 2: Nghệ thuật kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc trang trí đình làng thế kỷ XVIII ở Nghệ An (đình làng Đông Viên, đình làng Hoành Sơn, đình làng Trung Cần), (59 trang). Chương 3: Bàn luận về đặc trưng và giá trị mỹ thuật đình làng thế kỷ XVIII ở Nghệ An (43 trang). luan an 9 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 1. Tình hình nghiên cứu trong nước Thập kỷ XX đã có nhiều công trình nghiên cứu về đình làng Việt Nam trong nước cũng đã được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, khai thác ở nhiều góc độ khác nhau như các lĩnh vực: lịch sử, xã hội, tôn giáo học, nghệ thuật học v. Các tác giả đã nghiên cứu và đề cập tới vấn đề đình làng Việt và đình làng miền Trung nói riêng như Nguyễn Văn Khoan, Nguyễn Du Chi, Chu Quang Trứ, Ninh Viết Giao, Hà Văn Tấn, Trần Lâm Biền, Phan Kế Bính, Trần Hồng Kiên,. cụ thể các nghiên cứu như sau: 1.
Các công trình nghiên cứu đình làng Việt Nam nói chung Năm 1930, Nguyễn Văn Khoan đã viết cuốn Khảo luận về ngôi đình và việc thờ thần thành hoàng của các làng xã ở Bắc Kỳ (Essai sur le đình et le culte du génie tutélaire des villages au Tonkin) BEFEO; là một công trình nghiên cứu súc tích về một loại kiến trúc dân dụng và kiến trúc tôn giáo: “Nó ăn vào kiến trúc dân dụng với tính cách là ngôi nhà công cộng, nơi các kỳ hào hội họp khi làng có hội hè hay để bàn công việc của làng xã. Điều đó đã giúp cho NCS trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu về đình làng Việt cũng như vấn đề trọng tâm của luận án nhận thấy mối quan hệ giữa tín ngưỡng thành hoàng với kiến trúc đình làng, theo quy luật tín ngưỡng có trước nơi thờ tự; và có thể nhận định có tính khoa học hơn về nguồn gốc và sự phát triển của đình làng được xuất hiện từ thời Lê sơ, thế kỷ XV; đình có đầy đủ các chức năng tín ngưỡng - văn hóa - xã hội, cùng với những yếu tố tạo hình mỹ thuật hoàn chỉnh từ thế kỷ XVI (thời Mạc) [73, tr. Năm 1995, Nguyễn Du Chi, đã viết về “Nghệ thuật dân gian” trong cuốn Địa chí Văn hóa Dân gian Nghệ Tĩnh [32]; đây được xem là tài liệu nghiên cứu bộc lộ rõ khả năng tìm hiểu khái quát của tác giả về văn hóa và nghệ thuật của vùng đất Nghệ Tĩnh. Bên cạnh đó là những tìm hiểu trong sự so sánh giữa các ngôi đình vùng Bắc Bộ và khu vực miền Trung nói chung.
luan an 10 Năm 1998, Hà Văn Tấn và Nguyễn Văn Kự viết cuốn Đình Việt Nam [116], đây là một nghiên cứu chuyên biệt về đình làng Việt Nam ở các vùng miền cũng như ở các niên đại khác nhau. Ghi dấu sự hình thành và phát triển của kiến trúc đình làng của người Việt từ thế kỷ XVI đến nay. Tuy nhiên, nghiên cứu này bên cạnh việc mô tả rất kỹ về địa danh cũng như dấu ấn lịch sử của từng ngôi đình cũng như từng cụm kiến trúc đình làng dưới góc độ lịch sử xã hội. Với lĩnh vực kiến trúc tài liệu này ít nhiều cũng đã chỉ ra những dạng thức kiến trúc mặt bằng và mặt cắt của những ngôi đình thuộc các thế kỷ XVI, XVII, XVIII và cả những kiến trúc của ngôi đình miền Trung, miền Nam… Vì thế đây là nguồn tư liệu cần thiết để minh chứng cho những nghiên cứu tổng thể, đồng thời là một cơ sở thực tế nhằm giúp cho NCS được nhìn nhận soi chiếu trong vấn đề nghiên cứu dưới góc độ nghệ thuật học.
Năm 2001, Chu Quang Trứ viết cuốn Văn hóa Việt Nam nhìn từ mỹ thuật, tập 1, [140], đã nhận định về nghệ thuật đình làng Việt, qua việc nêu và phân tích một số nét đặc sắc về các đình làng Việt qua một số kỹ thuật chạm khắc. Nếu ở thế kỷ XVII, phần lớn chuyển thành chạm lộng, tốn gỗ nhưng những hiệu quả từ sáng tối giữa hình và nền được lợi dụng khai thác triệt để. Qua thế kỷ XVIII, do hạn chế của gỗ quý lại trở về chạm nổi như ở thế kỷ XVI. Cùng với các kỹ thuật chạm khắc, những nội dung chủ đề được đề cập cũng hết sức đa dạng.
Cùng đề tài nhưng hình không bao giờ trùng lặp, từ đó cho ta thấy sức sáng tạo rất phong phú của các nghệ nhân xưa. Qua đoạn phân tích trên của tác giả, NCS đã đối chiếu so sánh quá trình diễn tiến của các kỹ thuật giữa các ngôi đình làng đất Bắc, đã có sự khác biệt hơn với đình làng Nghệ An ở Bắc miền Trung về sự ngưng đọng trong kỹ thuật chạm khắc. Năm 2001, trong cuốn Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt, của Trầ n Lâm Biề n [19], đã hệ thống hóa các đồ án trang trí, các biểu tượng, linh vật hoa văn cây cỏ từ giai đoạn tiền sử đến giai đoạn tự chủ. Phân tích đặc điểm, ý nghĩa của từng hiện vật, đồ án trong các công trình và biến đổi của chúng theo thời gian (biểu tượng về lực lượng tự nhiên và triết học, linh vật trang trí trên di tích, hoa luan an 11 văn cây cỏ, con người).
Đây là cuốn sách giúp cho NCS nghiên cứu lấy đó làm cơ sở khoa học trong việc đi tìm cách giải mã trên các đồ án trang trí trên kiến trúc truyền thống ở đình làng Nghệ và đối chiếu so sáng với các đồ án trang trí giữa các vùng miền nhằm tìm ra những nét tương đồng khác biệt trong không gian Bắc - Trung - Nam liền một dải. Năm 2001, cuốn Đình làng miền Bắc của Lê Thanh Đức [47], được xem là công trình có sự đầu tư, nghiên cứu, công phu về các ngôi đình làng tiêu biểu ở miền Bắc Việt Nam. Sách đã giới thiệu những bức ảnh về một số ngôi đình, đề cao ý nghĩa văn hóa, tín ngưỡng của con người luôn mong muốn sự hòa hợp với thiên nhiên,… Đây là tài liệu có nhiều hình ảnh về các đồ án trang trí ở nhiều đình làng, giúp cho NCS có cơ sở tham chiếu và so sánh trong tổng thể với các đình làng ở miền Trung. Năm 2006, Trịnh Cao Tưởng, với cuốn Một chặng đường tìm về quá khứ [158]; trong đó, phần ba, các bài viết về kiến trúc dân tộc - nghệ thuật cổ truyền thống, có liên quan đến nội dung của luận án, như: bài “Hình tượng con thuyền trong kiến trúc đình làng” [158, tr.275], nói về đất dựng đình, cấu trúc bộ mái đình, cấu trúc bộ khung, cấu trúc sàn đình.
Về cấu trúc bộ mái đình, tác giả đã giải thích khái niệm về tên gọi của một số cấu kiện như: …tàu mái, lá tàu, then tàu, tàu đao lá mái” và “tàu” tiếng Việt cổ là “thuyền” (từ đồng nghĩa); ở ngôi đình “lá tàu” chạy dài theo rìa mái, giống hệt mạn thuyền, có thể quan sát được cả bốn phía của các tàu mái. Nếu ta chuyển dịch tới các vị trí đối diện với các góc đao, thì biểu tượng càng rõ nét hơn: hai lá tàu của hai tàu mái chạy về góc đao, rồi vươn lên cao hệt như mũi thuyền đang rẽ sóng. Với sự mô tả, giải thích và phân tích có khoa học này của tác giả đã giúp cho NCS nhận thấy đứng cả về góc độ lịch sử cũng như nghệ thuật tạo hình của mái đình Việt và đối chiếu với những mái đình làng ở Nghệ An cũng mang những giá trị tạo hình mỹ thuật chung đó. Và đây được xem là những dẫn luận khoa học được xác định là nét tương đồng trong nội dung chương 3 của luận án.
luan an 12 - Bài viết Đình làng Phù Lão, một ngôi đình cổ Việt được xây dựng từ thế kỷ XVII, miền Bắc (Bắc Ninh), tuy ngôi đình Phù Lão cũng như nhiều ngôi đình khác ở phía Bắc được xây dựng sớm hơn đình làng ở Nghệ An, tác giả nghiên cứu ngôi đình đã được tiếp cận nghiên cứu dưới các góc độ nguồn gốc, lịch sử đặc biệt về mặt tạo hình của ngôi đình, xem đây là một ngôi đình điển hình về kho tàng nghệ thuật tạo hình dân gian với những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc gỗ độc đáo trong đó tác giả đã nhắc đến những đặc trưng kỹ thuật, hình tượng của kiến trúc,. được nhìn từ góc độ khảo cổ học thông qua nguồn gốc, tính lịch sử của ngôi đình. Đây là một cách tiếp cận bằng lịch sử học của tác giả đã giúp cho NCS phân biệt và nhận ra hướng tiếp cận mới trong nghiên cứu luận án của mình; Bài viết “Tìm hiểu ý nghĩa của các dấu mã hóa trên cây thước tầm trong nền kiến trúc cổ Việt Nam”, đã viết về tất cả những điều cần biết về cây thước tầm trong nền kiến thức cổ Việt: “những yêu cầu tối thiểu để đọc được mã, những nguyên tắc ghi mã của người thợ, những mã thường được sử dụng hay các phường thợ khi nhìn vào có thể hiểu được nhau”,. nội dung của bài viết đã giúp NCS hiểu hơn và phần nào giải mã được ý nghĩa của cây thước tầm trong kiến trúc dân gian, mà trong đó việc nghiên cứu đình làng Việt và đặc biệt đối với những ngôi đình làng miền Trung được tạo dựng lên như những huyền thoại từ cây thước tầm của người xưa, từ đó cũng giúp cho NCS đối chiếu, so sánh trong nghiên cứu và cách đo đạc theo các thông số về độ rộng của các vì, chiều cao đình (trung câu, khoáng câu, khoáng nách, khoáng hiên hoặc giọt nước - khoảng cách từ mái hiên xuống giọt nền v.v…), từ đó nhận ra được mỗi ngôi nhà đình, mỗi vùng miền có một số đo riêng biệt và đó là những nguyên tắc phổ biến; ở Nghệ An miền trung do tính chất địa văn hóa riêng biệt của vùng miền nên mỗi ngôi nhà đình lại có người thợ cả đặt riêng mã cho ngôi đình của làng đó.
Ngoài ra, bài viết còn cho biết các trường hợp ngoại lệ của sự thể hiện của cây thước tầm; Điều đó cho thấy tại sao ở mỗi ngôi đình của các vùng miền lại có những vẻ đẹp về cách tạo hình mỹ thuật khác nhau. Đây là những bài viết quý giá giúp cho NCS xem đó là những phương pháp đối chiếu, so sánh và biết cách tìm hướng đi cho nghiên cứu luận án của mình.