Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ nghệ thuật với đề tài "Nghệ thuật trang trí khảm sành sứ trên kiến trúc thời Khải Định (1916 – 1925) tại Quần thể di tích Cố đô Huế", chuyên ngành Lý luận và lịch sử mỹ thuật (mã số: 9210101), được nghiên cứu sinh Nguyễn Minh Khôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Quốc Hùng tại Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam (2022).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong Quần thể di tích Cố đô Huế, trang trí kiến trúc đóng vai trò định hình giá trị nghệ thuật của mỗi công trình. Năm 1916, vua Khải Định lên ngôi trong bối cảnh giao lưu văn hóa Đông - Tây diễn ra mạnh mẽ tại Việt Nam. Triều đình đã tiến hành tu bổ và xây dựng mới nhiều công trình xuất hiện kết cấu bê tông cốt thép phương Tây kết hợp nghệ thuật trang trí khảm sành sứ, tạo nên diện mạo mới cho kinh đô. Trong bối cảnh nhiều di tích thời Khải Định được trùng tu, phục hồi như điện Kiến Trung, điện Thái Hòa và kế hoạch tương lai cho điện Cần Chánh, Cửu Tư Đài, công tác bảo tồn đòi hỏi hệ thống cơ sở khoa học về mỹ thuật và trang trí khảm sành sứ. Luận án giải quyết khoảng trống nghiên cứu về việc nhận diện bối cảnh hình thành, sự kết hợp, cách bài trí và hình thức biểu đạt (tạo hình, chất liệu, màu sắc, thủ pháp) của trang trí khảm sành sứ thời Khải Định trong bối cảnh giao lưu văn hóa Đông - Tây.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Làm rõ những đặc trưng, giá trị và sự kế thừa, phát triển của nghệ thuật trang trí khảm sành sứ trên kiến trúc thời Khải Định (1916 - 1925) tại Quần thể di tích Cố đô Huế trong bối cảnh giao lưu văn hóa Đông - Tây, trên cơ sở nghiên cứu sự kết hợp và hình thức biểu đạt của các đồ án trang trí kiến trúc cung đình triều Nguyễn giai đoạn này.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Tổng hợp, phân tích tài liệu để làm rõ tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận, xác định bối cảnh hình thành và khái quát về nghệ thuật trang trí khảm sành sứ trên kiến trúc thời Khải Định.
    2. Khảo sát điền dã kết hợp phân tích, đối chiếu tư liệu nhằm hệ thống hóa các biểu hiện của nghệ thuật trang trí khảm sành sứ thời Khải Định về sự kết hợp, cách bài trí và hình thức biểu đạt của các đồ án trang trí.
    3. Phân tích, xác định các đặc trưng, từ đó nhận diện, đánh giá giá trị, sự kế thừa và phát triển của nghệ thuật trang trí khảm sành sứ thời Khải Định.

Câu hỏi nghiên cứu

  • Câu hỏi 1: Nghệ thuật trang trí khảm sành sứ biểu hiện như thế nào trên kiến trúc cung đình thời Khải Định?
  • Câu hỏi 2: Nghệ thuật trang trí khảm sành sứ trên kiến trúc thời Khải Định (1916 - 1925) tại Quần thể di tích Cố đô Huế thể hiện những đặc trưng nghệ thuật gì?
  • Câu hỏi 3: Giá trị văn hóa nghệ thuật của nghệ thuật trang trí khảm sành sứ trên kiến trúc thời Khải Định (1916 - 1925) tại Quần thể di tích Cố đô Huế được thể hiện như thế nào? Những giá trị này được kế thừa, tiếp nối và phát triển như thế nào?

Giả thuyết nghiên cứu

  • Giả thuyết 1: Nghệ thuật trang trí khảm sành sứ trên kiến trúc thời Khải Định được biểu hiện qua việc sử dụng đề tài và kiểu thức trang trí (thống nhất về nội dung truyền tải và kiểu thức thể hiện), nguyên tắc bố cục (tính hướng tâm, tính đối xứng, vị trí đồ án dựa trên tính chất biểu tượng) và tổ chức không gian trang trí (tính ước lệ, nhịp điệu ở ngoại thất; tính mô phỏng ở nội thất). Hình thức biểu đạt thể hiện qua yếu tố tạo hình (tính ước lệ và tả thực dưới ba loại hình: tượng tròn, phù điêu, khảm phẳng), chất liệu (mảnh sành sứ, thủy tinh màu, thủy tinh trong), màu sắc (kế thừa ngũ sắc truyền thống kết hợp dải màu mới) và thủ pháp thể hiện (phát triển tư duy không gian và thị giác).
  • Giả thuyết 2: Trong bối cảnh giao lưu văn hóa Đông - Tây, từ vai trò phụ, trang trí khảm sành sứ trở thành hình thức trang trí kiến trúc chính trong kiến trúc cung đình thời Khải Định với các đặc trưng: sự cách tân trên cơ sở kế thừa truyền thống (kiểu thức và bố cục tổng thể), sử dụng yếu tố phương Tây trong hình thức biểu đạt (tạo hình, chất liệu, màu sắc), sự sáng tạo và tinh xảo (thủ pháp và kỹ thuật thể hiện).
  • Giả thuyết 3: Nghệ thuật trang trí khảm sành sứ thời Khải Định chứa đựng các giá trị văn hóa nghệ thuật. Về văn hóa, phản ánh bối cảnh chính trị, xã hội đương thời, tích tụ ba lớp văn hóa (dân gian, cung đình, phương Tây), thể hiện tư tưởng hiện đại hóa gắn với duy trì truyền thống. Về nghệ thuật, định hình đặc trưng trang trí cung đình giai đoạn 1916 - 1945, bản địa hóa các công trình kiến trúc hiện đại, nâng tầm đồ án trang trí thành tác phẩm nghệ thuật độc lập trên kiến trúc, tiếp tục được kế thừa và lan tỏa vào dân gian.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Nghệ thuật trang trí khảm sành sứ trên kiến trúc thời Khải Định (1916 – 1925) tại Quần thể di tích Cố đô Huế thông qua phân tích hệ thống đồ án trên các công trình được vua Khải Định xây dựng và tu bổ.
  • Phạm vi không gian: Các công trình kiến trúc cung đình thuộc Quần thể di tích Cố đô Huế (điện Thái Hòa, điện Kiến Trung, Thái Bình Lâu, lăng Khải Định, cửa Chương Đức, cửa Hiển Nhơn, Phu Văn Lâu, Nghinh Lương Đình...).
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 1916 - 1925 (thời gian trị vì của vua Khải Định). Luận án mở rộng thời gian xuyên suốt lịch sử di tích Huế, chú trọng giai đoạn chuyển tiếp 1885 - 1916 (Đồng Khánh - Duy Tân).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả tổng hợp tình hình nghiên cứu theo ba nhóm tài liệu chính:

1. Nhóm nghiên cứu về Quần thể di tích Cố đô Huế giai đoạn 1916 - 1925

  • Sử liệu triều Nguyễn: Đại Nam thực lục chính biên đệ lục kỷ (1916 - 1923), Đại Nam thực lục chính biên đệ lục kỷ phụ biên, Đồng Khánh - Khải Định chính yếu, và Đại Nam thực lục chính biên đệ thất kỷ (1939, bản dịch của Cao Tự Thanh) cung cấp ghi chép về hoạt động xây dựng, tu bổ di tích, bối cảnh tiếp nhận kỹ thuật phương Tây và tư tưởng duy trì sự tồn tại của triều Nguyễn dưới thời Khải Định.
  • Nghiên cứu lịch sử mỹ thuật: L. Bezacier trong bài viết năm 1944 và sách L’art Vietnamien (1954) chia mỹ thuật Nguyễn thành hai thời kỳ, xác định giai đoạn từ thời Khải Định là thời kỳ Tân cổ điển (le néo-classique) chịu ảnh hưởng phương Tây. Nguyễn Phi Hoanh trong Lược sử mỹ thuật Việt Nam (1970) đánh giá mỹ thuật thời Khải Định dưới góc nhìn chính trị. Nguyễn Tiến Cảnh trong Mỹ thuật Huế (1992) khẳng định mỹ thuật Huế là giai đoạn cuối cùng của mỹ thuật cổ Việt Nam và phân định giai đoạn chịu ảnh hưởng phương Tây.
  • Nghiên cứu lịch sử kiến trúc di tích: Hoàng Đạo Kính (1999) phân chia di sản kiến trúc Huế thành hai thời kỳ và đánh giá lăng Khải Định là sự kết hợp Đông - Tây của thợ nề ngõa, thợ ghép sành sứ. Trần Đức Anh Sơn và Phan Thanh Hải (2002) phân chia lịch sử Quần thể di tích Cố đô Huế với giai đoạn 1917 - 1945 tiếp nhận phong cách châu Âu. Phan Thuận An trong Quần thể di tích Huế (2004) xác định giai đoạn Khải Định - Bảo Đại (1916 - 1945) hình thành trong bối cảnh văn hóa phương Tây du nhập. Võ Hương An trong Vua Khải Định, hình ảnh và sự kiện (2016) tổng hợp tư liệu cuộc đời và hoạt động của vua Khải Định.

2. Nhóm nghiên cứu liên quan đến nghệ thuật trang trí triều Nguyễn

  • Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ (quyển 205, 206, 207, 210, 216) ghi nhận quy chế xây dựng cung điện, lăng tẩm.
  • P. Albrecht (BAVH 1915) và Phạm Minh Hải (2021) nghiên cứu về các mô-típ linh vật và biểu tượng "hóa" (cây lá hóa rồng, mây hóa rồng, hồi văn hóa rồng).
  • L. Cadière trong Mỹ thuật Huế (L’art à Hué, BAVH 1919, tái bản 1930) hệ thống hóa các mô-típ hoa văn trang trí An Nam.
  • Trần Lâm Biền với các công trình Huế, mỹ thuật Nguyễn, những cái riêng (1979), Nghệ thuật trang trí (1992), Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt (2001) phân tích cấu trúc ô hộc và bốn chủ đề trang trí truyền thống.
  • Vĩnh Phối (1999) và Nguyễn Hữu Thông (Mỹ thuật Huế nhìn từ góc độ ý nghĩa và biểu tượng trang trí, 2001; Mỹ thuật Nguyễn, 2019) hệ thống hóa ba tầng văn hóa (bản địa, phương Bắc, phương Tây) trong mỹ thuật Huế.
  • Trần Thanh Nam trong luận án tiến sĩ (2018) nghiên cứu điêu khắc trang trí và bố cục ô hộc trên kiến trúc Hoàng thành Huế.
  • Các báo cáo tu bổ di tích của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế (Phu Văn Lâu), Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng (Nghinh Lương Đình), Nguyễn Tiến Bình và Lê Phước Tân (điện Thái Hòa, 2018).

3. Nhóm nghiên cứu về nghệ thuật trang trí khảm sành sứ triều Nguyễn

  • Chu Quang Trứ trong Mỹ thuật Huế (1992) phân loại khảm sành sứ vào thể loại tranh ghép kính và sứ (mosaique), khẳng định nghệ thuật khảm sành sứ đạt độ hoàn thiện cao ở lăng Khải Định.
  • Nguyễn Hữu Thông trong Mỹ thuật thời Nguyễn trên đất Huế (1992) đánh giá các đồ án khảm sành sứ tại lăng Khải Định tạo nên "không gian Khải Định" riêng biệt.
  • Trần Đức Anh Sơn (1992) khảo cứu trang trí nội thất điện Khải Thành (lăng Khải Định).
  • Nguyễn Quốc Hùng (1994) phân loại gốm sứ triều Nguyễn và chỉ ra sự tham gia của gốm sứ châu Âu (faience, porcelaine) trong trang trí kiến trúc.
  • Phan Thanh Bình với các công trình nghiên cứu (2002, 2009) và luận án tiến sĩ Nghiên cứu nghệ thuật khảm sành sứ trong mỹ thuật cung đình thời Nguyễn (2010) hệ thống hóa lịch sử, vật liệu, hiệu quả tạo hình của nề họa kết hợp khảm sứ.
  • Đỗ Thị Thanh Mai (2007) khảo sát nghệ thuật khảm sành sứ tại cổng Chương Đức. Trương Quốc Bình (2016) và Dư địa chí Thừa Thiên Huế (2020) khẳng định vị trí của khảm sành sứ trong kho tàng di sản cung đình Huế.

Khoảng trống luận án giải quyết

Các công trình đi trước chưa đi sâu phân tích toàn diện sự kết hợp tổng thể của các đồ án trang trí trên một công trình kiến trúc cung đình thời Khải Định, chưa phân tách các đặc trưng riêng của trang trí khảm sành sứ giai đoạn 1916 - 1925 so với các thời kỳ trước, và chưa đánh giá đầy đủ tính chất tác phẩm nghệ thuật độc lập của đồ án khảm sành sứ dưới góc độ tiếp biến văn hóa Đông - Tây.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khái niệm và thuật ngữ công cụ

  • Nghệ thuật trang trí khảm sành sứ trên kiến trúc: Luận án định nghĩa là nghệ thuật tổ chức, sắp xếp, bố cục các yếu tố trang trí (hình khối, đường nét, chất liệu, màu sắc) lên công trình kiến trúc bằng hình thức khảm sành sứ, tạo nên không gian thẩm mỹ cho kiến trúc và truyền tải tư tưởng, triết lý xã hội đương thời. Công trình kiến trúc đóng vai trò yếu tố nền, các đồ án trang trí đóng vai trò yếu tố hình.
  • Phân biệt tranh ghép mảnh Mosaic phương Tây và Khảm sành sứ triều Nguyễn:
Tiêu chí so sánh Tranh ghép mảnh Mosaic Trang trí khảm sành sứ triều Nguyễn
Điểm giống nhau Sử dụng các mảnh ghép tráng men để hình thành đồ án trang trí Sử dụng các mảnh ghép tráng men để hình thành đồ án trang trí
Nguồn gốc mảnh ghép Sản xuất chuyên biệt phục vụ mục đích trang trí Đập vỡ hoặc cắt tỉa từ đồ gốm sứ, thủy tinh sinh hoạt gia dụng
Hình dạng bề mặt Mảnh phẳng, kích thước và hình dạng đồng đều Mảnh cong, lồi, kích thước thay đổi theo ý đồ tạo hình
Hình thức tạo hình Chủ yếu tạo hình trên mặt phẳng Sử dụng đa dạng cho tượng tròn, phù điêu và khảm phẳng
Tính liên kết khối Các mảnh ghép xếp đồng phẳng với nhau Các mảnh ghép trực tiếp tham gia tạo hình khối ba chiều
Sự kết hợp chất liệu Không kết hợp hình thức trang trí khác Kết hợp kỹ thuật nề họa để tô nhấn đường viền mí ghép
  • Thuật ngữ loại hình trang trí:
    • Loại hình trang trí con giống: Đồ án điêu khắc trang trí dạng tượng tròn hoặc phù điêu hai mặt gắn trên bờ nóc, bờ mái, bậc cấp (chủ yếu là đề tài tứ linh, linh vật, thiên nhiên).
    • Loại hình trang trí ô hộc: Các ô hình vuông hoặc chữ nhật có gờ khung viền bao quanh trên bề mặt kiến trúc, bên trong chứa các họa tiết liên hoàn (tứ thời, bát bửu, hoa quả, chữ Hán).
    • Loại hình trang trí bề mặt kiến trúc: Bố trí trên mặt phẳng tường hoặc mặt cong cột trụ.
  • Kiểu thức trang trí (motif): Họa tiết mô tả các hình tượng thuộc bộ đề tài trang trí truyền thống.

Khung lý thuyết nghiên cứu

  1. Lý thuyết Tiếp biến văn hóa (Cultural Acculturation):
    • Vận dụng mô hình 3 dạng thức của W. Znaniecki (Bohemian, Philistine, Sáng tạo) và mô hình bốn nếp gấp (four fold) của J. W. Berry.
    • Tiếp thu quan điểm của Lý Tùng Hiếu và Phạm Đức Dương về sự tương tác giữa yếu tố nội sinh và ngoại sinh (bản địa hóa yếu tố ngoại sinh, hiện đại hóa yếu tố nội sinh).
    • Vận dụng nghiên cứu của Trần Quốc Vượng về ba mức độ tiếp nhận sáng tạo (chọn lọc thích hợp, mô phỏng, biến thể) và Lê Thanh Sơn về ba trạng thái cộng sinh kiến trúc (nội sinh áp đảo, ngoại sinh áp đảo, nội - ngoại sinh trùng phùng/giao hòa) để phân tích mức độ dung hợp giữa kiến trúc phương Tây và trang trí khảm sành sứ bản địa.
  2. Luận điểm nghiên cứu biểu tượng và Ký hiệu học:
    • Vận dụng quan điểm biểu tượng của Đinh Hồng Hải (biểu hình và biểu ý; cấu trúc Cái biểu đạt - Cái được biểu đạt) và Nguyễn Hữu Thông.
    • Áp dụng mô hình ký hiệu học của F. de Saussure và Roland Barthes:
      • Cái được biểu đạt (Signified): Nội dung, triết lý truyền tải qua các bộ đề tài trang trí.
      • Ký hiệu (Sign): Các kiểu thức trang trí trong từng bộ đề tài.
      • Cái biểu đạt (Signifier): Các yếu tố tạo hình (hình khối, đường nét, chất liệu sành sứ/thủy tinh, màu sắc).

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu: Khai thác sử liệu triều Nguyễn, tạp chí chuyên khảo BAVH, báo cáo tu bổ di tích, phân tích nguồn ảnh tư liệu đầu thế kỷ XX đối với các công trình đã trở thành phế tích (như điện Kiến Trung, Cửu Tư Đài).
  • Phương pháp khảo sát điền dã: Trực tiếp đo vẽ, ghi chép, chụp ảnh hiện trạng các đồ án trang trí tại Quần thể di tích Cố đô Huế.
  • Phương pháp thống kê và phân loại: Hệ thống hóa các đồ án theo đề tài, kiểu thức, vị trí không gian và hình thức tạo hình.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh giữa tư liệu lịch sử và thực địa; đối chiếu nghệ thuật khảm sành sứ thời Khải Định với các giai đoạn trước và với tranh Mosaic phương Tây.
  • Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn sâu các nghệ nhân nề ngõa, thợ kép Huế về kỹ thuật thi công và kinh nghiệm truyền nghề.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về đối tượng nghiên cứu (49 trang)

  • Tổng quan và cơ sở lý luận: Phân tích 3 nhóm tư liệu nghiên cứu, xác định khoảng trống khoa học; thiết lập hệ thống khái niệm, thuật ngữ chuyên ngành; xây dựng khung lý thuyết tiếp biến văn hóa và ký hiệu học cấu trúc.
  • Bối cảnh lịch sử, văn hóa hình thành: Giai đoạn 1885 - 1916 (Đồng Khánh - Duy Tân) đánh dấu sự du nhập của kỹ thuật và hạ tầng phương Tây vào Huế (đường sắt, bệnh viện, trường Quốc học, cầu sắt Trường Tiền, lầu Du Cửu). Vua Khải Định lên ngôi (1916 - 1925) với tư tưởng giữ đạo trung dung, cởi mở tiếp thu kỹ thuật mới nhưng duy trì biểu tượng quân chủ truyền thống.
  • Hệ thống công trình kiến trúc cung đình thời Khải Định: Phân loại các công trình được xây dựng, tu bổ: điện Thái Hòa, điện Kiến Trung, Thái Bình Lâu, lăng Khải Định (Ứng Lăng / Thiên Định Cung), cửa Chương Đức, cửa Hiển Nhơn, Phu Văn Lâu, Nghinh Lương Đình, lầu Tứ Phương Vô Sự, Cửu Tư Đài. Khẳng định hầu hết các công trình này đều sử dụng khảm sành sứ làm hình thức trang trí chủ đạo trên nền kết cấu truyền thống hoặc bê tông cốt thép.
Cấu trúc hệ thống trang trí khảm sành sứ thời Khải Định (Chương 1)

Chương 2: Biểu hiện của nghệ thuật trang trí khảm sành sứ trên kiến trúc thời Khải Định (1916 – 1925) tại Quần thể di tích Cố đô Huế (51 trang)

  • Đề tài và kiểu thức trang trí:
    • Hệ đề tài: Vũ trụ - thiên nhiên (mây, sóng nước, mặt trời); tứ linh - linh thú (rồng, lân, quy, phụng); tứ thời (mai, lan, cúc, trúc); bát bửu (bầu rượu, quạt, kiếm, bút...); hoa quả (lựu, đào, phật thủ); chữ Hán (Thọ, Phúc, Vạn, Hỷ); hồi văn và hoa văn dây lá.
    • Hiện tượng "hóa": Biến thể linh hoạt như mây hóa rồng, hoa lá hóa rồng, hồi văn hóa rồng.
  • Bố cục tổng thể của hệ thống trang trí:
    • Vị trí trang trí: Phân bổ chặt chẽ trên bờ nóc, bờ quyết, đầu hồi, dải cổ diêm, ô hộc tường, vách ngăn và hệ cột.
    • Nguyên tắc sắp xếp: Tuân thủ tính hướng tâm, đối xứng nghiêm ngặt qua trục Dũng đạo hoặc trục gian giữa; vị trí đồ án phản ánh thứ bậc biểu tượng quyền lực cung đình.
  • Tổ chức không gian trang trí:
    • Ngoại thất: Thể hiện tính ước lệ và nhịp điệu thông qua các dải ô hộc liên hoàn và hệ con giống trên mái.
    • Nội thất: Thể hiện tính mô phỏng không gian ba chiều (tiêu biểu tại Thiên Định Cung - lăng Khải Định), chuyển hóa vách tường thành các bức tranh hoành tráng.
  • Hình thức biểu đạt của đồ án:
    • Tạo hình: Kết hợp giữa tính ước lệ truyền thống và tính tả thực phương Tây; thể hiện qua ba dạng thức: tượng tròn (con giống trên bờ mái), phù điêu nổi và gắn phẳng trên mặt tường.
    • Chất liệu và màu sắc: Sử dụng sành sứ dân dụng vỡ kết hợp đồ gốm men màu cao cấp (faience, porcelaine) nhập khẩu từ Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc; bổ sung thủy tinh màu và chai lọ thủy tinh trong suốt; phối màu vượt khỏi bảng ngũ sắc truyền thống (bổ sung xanh coban, vàng kem, tím, da cam).
    • Thủ pháp thể hiện: Ứng dụng tư duy thị giác và luật xa gần; kỹ thuật cắt tỉa mí ghép gốm sứ đạt độ tinh xảo; kết hợp nề họa vẽ chỉ chìm/nổi để tăng chiều sâu cho đồ án.

Chương 3: Đặc trưng, giá trị văn hóa nghệ thuật và bàn luận về nghệ thuật trang trí khảm sành sứ trên kiến trúc thời Khải Định (1916 – 1925) tại Quần thể di tích Cố đô Huế (46 trang)

  • Đặc trưng nghệ thuật:
    1. Sự cách tân trên cơ sở kế thừa truyền thống: Duy trì đề tài và cấu trúc ô hộc truyền thống nhưng mở rộng tỷ lệ bao phủ bề mặt kiến trúc, nâng trang trí khảm sành sứ từ vai trò phụ trợ lên vị trí chủ đạo.
    2. Sử dụng yếu tố phương Tây trong hình thức biểu đạt: Tiếp thu tư duy tả thực, luật phối cảnh, chất liệu gốm sứ công nghiệp và bảng màu quang phổ hiện đại.
    3. Sự sáng tạo và tinh xảo: Đạt độ hoàn thiện cao về kỹ thuật nề ngõa, cắt ghép mảnh gốm sứ theo đường lượn phức tạp và kết hợp kỹ thuật nề họa.
  • Giá trị văn hóa nghệ thuật:
    • Giá trị văn hóa: Phản ánh bối cảnh lịch sử tiếp xúc văn hóa Đông - Tây; tích tụ ba tầng văn hóa (dân gian, cung đình, phương Tây); phản ánh tư tưởng duy trì bản sắc dân tộc trong quá trình hiện đại hóa.
    • Giá trị nghệ thuật: Định hình diện mạo trang trí cung đình giai đoạn 1916 - 1945; đóng vai trò "bản địa hóa" các công trình kiến trúc bê tông cốt thép phương Tây; nâng tầm đồ án trang trí kiến trúc thành tác phẩm nghệ thuật độc lập.
  • Bàn luận về sự kế thừa và phát huy giá trị: Khẳng định sự tiếp nối của tri thức nghề nề ngõa qua các thế hệ nghệ nhân; sự lan tỏa của phong cách khảm sành sứ từ cung đình ra kiến trúc dân gian, đình chùa, lăng mộ tư nhân tại Thừa Thiên Huế và nhiều địa phương; đề xuất định hướng nghiên cứu lập hồ sơ di sản phi vật thể.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học

  • Làm rõ quá trình hình thành, phát triển và những biểu hiện cụ thể của nghệ thuật trang trí khảm sành sứ trên kiến trúc thời Khải Định (1916 - 1925) tại Quần thể di tích Cố đô Huế trong bối cảnh giao lưu văn hóa Đông - Tây.
  • Xác định hệ thống đặc trưng mỹ thuật cung đình giai đoạn 1916 - 1925 thông qua ba yếu tố: cách tân trên nền tảng truyền thống, tích hợp thủ pháp tạo hình phương Tây, và kỹ thuật gia công sành sứ tinh xảo.
  • Chứng minh hiệu quả thẩm mỹ của sự kết hợp giữa nghệ thuật trang trí khảm sành sứ và nghệ thuật kiến trúc; khẳng định giá trị của đồ án khảm sành sứ như một tác phẩm nghệ thuật độc lập có khả năng "bản địa hóa" hình thái kiến trúc ngoại lai.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học giúp nhận diện chính xác "yếu tố trang trí Khải Định" trên các công trình kiến trúc cung đình triều Nguyễn.
  • Phục vụ trực tiếp cho công tác lập hồ sơ thiết kế, tu bổ, phục hồi và hoàn nguyên các di tích thời Khải Định (điện Thái Hòa, điện Kiến Trung, Thái Bình Lâu, Nghinh Lương Đình, Phu Văn Lâu...).
  • Đóng góp tư liệu phục vụ công tác bảo tồn, kế thừa và phát huy nghề nề ngõa, khảm sành sứ truyền thống của xứ Huế như một di sản văn hóa phi vật thể.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đẩy mạnh công tác tư liệu hóa chi tiết các đồ án khảm sành sứ nguyên gốc nhằm phục vụ lưu trữ lâu dài.
  • Áp dụng các giải pháp bảo tồn thích ứng và phương pháp hoàn nguyên khoa học (anastylosis) trong tu bổ trang trí nề ngõa khảm sành sứ.
  • Nghiên cứu xây dựng hồ sơ khoa học đề nghị ghi danh nghệ thuật khảm sành sứ truyền thống Huế vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia và hướng tới quốc tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát trọng tâm tại các công trình kiến trúc cung đình do vua Khải Định xây dựng và tu bổ trong Quần thể di tích Cố đô Huế giai đoạn 1916 - 1925; các công trình thời kỳ trước và công trình dân gian ngoài cung đình chỉ được sử dụng ở mức độ so sánh, đối chiếu. Đối với một số công trình đã bị phá hủy hoặc chỉ còn là phế tích (như điện Kiến Trung thời điểm tác giả nghiên cứu, Cửu Tư Đài), việc khảo sát hình thức trang trí phải dựa gián tiếp qua ảnh tư liệu lịch sử đen trắng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu sự lan tỏa và biến thể của nghệ thuật khảm sành sứ phong cách Huế trong kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng và dân gian tại các tỉnh miền Trung và Nam Bộ; nghiên cứu chuyên sâu về thành phần vật liệu vữa truyền thống và kỹ thuật phục chế chất liệu màu men sành sứ phục vụ trùng tu di tích.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Lý luận và lịch sử mỹ thuật, Kiến trúc, Bảo tồn di tích, Văn hóa học.
    • Cán bộ quản lý, chuyên gia bảo tồn tại Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, các viện nghiên cứu văn hóa nghệ thuật và cơ quan quản lý di sản.
    • Nghệ nhân, thợ nề ngõa truyền thống và các nhà thiết kế mỹ thuật ứng dụng.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Bảng đối sánh khoa học phân biệt giữa tranh ghép mảnh Mosaic phương Tây và trang trí khảm sành sứ truyền thống.
    • Khung phân loại chi tiết hệ thống đề tài, kiểu thức, bố cục ô hộc và không gian trang trí nội - ngoại thất cung đình.
    • Phương pháp vận dụng lý thuyết tiếp biến văn hóa và ký hiệu học cấu trúc vào nghiên cứu lịch sử mỹ thuật Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Nghệ thuật trang trí khảm sành sứ thời Khải Định có điểm gì khác biệt căn bản so với tranh ghép mảnh Mosaic của phương Tây?

Tranh Mosaic phương Tây sử dụng các mảnh ghép phẳng, kích thước đồng đều được sản xuất công nghiệp chuyên biệt cho việc gắn tranh trên mặt phẳng. Ngược lại, khảm sành sứ triều Nguyễn sử dụng mảnh vỡ được đập hoặc cắt tỉa thủ công từ các vật dụng sinh hoạt gia dụng (bát, đĩa, bình hoa, chai lọ), có bề mặt cong hoặc lồi tự nhiên, tham gia trực tiếp vào tạo hình khối ba chiều (tượng tròn, phù điêu) và kết hợp với kỹ thuật nề họa để tô nhấn đường viền mí ghép.

2. Khái niệm "ô hộc" và "con giống" trong nghệ thuật trang trí kiến trúc cung đình Huế được xác định như thế nào?

Theo các tài liệu chuyên ngành và TCVN 12603:2018 được luận án dẫn dụng:

  • Con giống: Là các chi tiết điêu khắc trang trí làm bằng vôi vữa có khảm sành sứ, tạo hình dạng tượng tròn hoặc phù điêu hai mặt (như rồng, lân, quy, phụng), đứng độc lập và được gắn ở đầu các bờ nóc, bờ mái, bờ quyết, bậc cấp.
  • Ô hộc: Là các khoảng trống hình vuông hoặc chữ nhật có gờ khung bao quanh trên các thành phần kiến trúc có diện tích hoặc chiều dài lớn (như diềm mái, dải cổ diêm, vách tường), bên trong chứa đựng các đồ án hoa văn trang trí liên hoàn.

3. Ba tầng văn hóa nào đã tích tụ trong nghệ thuật trang trí thời Khải Định theo phân tích của luận án?

Nghệ thuật trang trí thời Khải Định tích tụ ba tầng văn hóa:

  1. Tầng bản địa: Bắt nguồn từ nền văn hóa nông nghiệp lúa nước dân gian truyền thống của người Việt.
  2. Tầng văn hóa phương Bắc: Các biểu tượng, đề tài điển tích, tứ linh, bát bửu tiếp nhận và chuyển hóa qua các triều đại phong kiến.
  3. Tầng văn hóa phương Tây: Kỹ thuật tạo hình tả thực, phối cảnh thị giác ba chiều, chất liệu gốm sứ/thủy tinh màu công nghiệp và hình thái kiến trúc bê tông cốt thép du nhập đầu thế kỷ XX.

4. Khung lý thuyết Tiếp biến văn hóa được luận án vận dụng như thế nào?

Luận án coi nghệ thuật trang trí khảm sành sứ là yếu tố nội sinh và kiến trúc/mỹ thuật phương Tây là yếu tố ngoại sinh. Nghiên cứu xem xét sự tương tác hai chiều: chiều thứ nhất là sự tiếp nhận sáng tạo (chọn lọc, mô phỏng, biến thể) của nghệ nhân Huế đối với kỹ thuật và chất liệu phương Tây; chiều thứ hai là tác động của trang trí khảm sành sứ trong việc "bản địa hóa" các công trình kiến trúc phương Tây, biến các công trình kết cấu hiện đại thành một bộ phận hài hòa của quần thể di sản cố đô.

5. Chất liệu và màu sắc trong khảm sành sứ thời Khải Định có bước phát triển mới nào so với các giai đoạn trước?

Bên cạnh sành sứ men lam truyền thống, thời Khải Định ghi nhận sự xuất hiện của các chất liệu gốm sứ men màu nhập khẩu từ châu Âu (faience, porcelaine), thủy tinh màu công nghiệp và chai lọ thủy tinh trong suốt. Về màu sắc, nghệ nhân đã mở rộng bảng màu vượt khỏi hệ ngũ sắc truyền thống, bổ sung các tông màu mới như xanh coban, vàng kem, tím, da cam, tạo nên độ tương phản quang học và chiều sâu thị giác phong phú cho các đồ án trang trí.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Minh Khôi là công trình nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu về nghệ thuật trang trí khảm sành sứ trên kiến trúc thời Khải Định (1916 - 1925) tại Quần thể di tích Cố đô Huế. Bằng cách tiếp cận liên ngành kết hợp lý thuyết tiếp biến văn hóa và ký hiệu học, tác giả đã làm rõ các biểu hiện tạo hình, bố cục không gian, đặc trưng thẩm mỹ và giá trị lịch sử - nghệ thuật của loại hình trang trí này. Công trình không chỉ khẳng định vị trí đỉnh cao của nghệ thuật khảm sành sứ trong mỹ thuật cung đình triều Nguyễn mà còn cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp cho công tác bảo tồn, phục hồi di sản kiến trúc Huế và phát huy giá trị nghề nề ngõa truyền thống.