Chương 1 ĐỒNG THÁP MƯỜI – NÉT ĐẸP VĂN HÓA SÔNG NƯỚC ĐẶC BIỆT ĐIỂN HÌNH CỦA MIỀN ĐẤT TÂY NAM BỘ 1. Tổng quan lịch sử hình thành và đặc điểm tự nhiên của vùng đất Đồng Tháp Mười 1. Lịch sử hình thành Trước đây đã có nhiều giả thuyết về địa danh Đồng Tháp Mười. Gần đây các nhà khoa học cố gắng làm sáng tỏ một phần về địa danh này, nhưng nguồn gốc của nó vẫn còn là một ẩn số và những giả thuyết vẫn tồn tại như những gợi ý.
Theo sử liệu, thoạt tiên vùng đất này được gọi tên bằng một danh từ chung là “Lâm Tẩu” [10, tr.69], chằm Mãng Trạch [31, tr.9], hồ Pha Trạch [31, tr.20] và được ghi trong Gia Định toàn đồ, một trong những bản đồ đầu tiên, được vẽ khi triều đình Minh Mạng lập Địa bạ Nam Kỳ năm 1836 [8, tr. Đối với người Pháp, ban đầu Đồng Tháp Mười hầu như cũng chưa có tên gọi riêng, mà chỉ được xếp vào khái niệm chung “Plaine inondée couverte d’herbe” (cánh đồng ngập nước đầy cỏ). Sau đó được gọi là “Plaine des Joncs” (đồng cỏ lát). Đến năm 1865 với cuộc kháng chiến của Thiên hộ Võ Duy Dương nên trên một số báo cáo của triều đình Huế và của cả thực dân Pháp bắt đầu xuất hiện với cách gọi là Trảng Tháp Mười, Bưng Tháp Mười – nhằm chỉ vùng đất tương đối cao ráo, không ngập lụt và trống trải, nơi Thiên hộ Dương lập căn cứ cuối cùng.
Còn tên gọi Đồng Tháp Mười, như ngày nay theo dân gian “bắt nguồn từ tên một ngôi tháp cổ mười tầng (tức Tháp Mười) hiện còn dấu vết ở xã Tân Kiều, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp” [39, tr.215] vì dựa trên ba nhóm giả thuyết chính được đưa ra là: ý kiến thứ nhất cho rằng “Tháp Mười là cái 9 tháp thứ 10”. Xưa kia xứ này có 10 ông vua trị vì, mỗi ông xây dựng cho mình một ngôi tháp làm nơi an nghỉ cuối cùng. Ngôi tháp này là của ông vua thứ 10, nên gọi “Tháp Mười”; Đây là chùa tháp thứ mười tính từ Lục Chân Lạp xuống (có các con đường lót đá nối liền giữa các chùa tháp); Đây là tháp canh thứ mười, tính từ vàm Ba Sao – Cần Lố vào Gò Tháp do nghĩa quân Thiên hộ Dương – Đốc binh Kiều đã cất để canh chừng tàu Pháp, rồi dùng mật hiệu thông tin cho nhau. Ý kiến thứ hai: “Tháp Mười là 10 cái tháp” (hoặc nhiều cái tháp trên phạm vi Gò Tháp hoặc cả khu vực).
Và ý kiến thứ ba: “Tháp Mười là ngọn tháp cao 10 tầng” (10 nấc hoặc 10 bậc). Như vậy, “ít ra là từ thế kỷ XIX, danh xưng “Tháp Mười” và biến thể Việt Hán “Thập Tháp” của nó đã trở nên phổ biến, được sử dụng trong cả các tài liệu chữ Hán Nôm lẫn chữ quốc ngữ La Tinh” [39, tr. Vì về tên đất, theo nguyên tắc thông thường người Việt đặt tên riêng cho từng khúc sông, từng cánh đồng, vì mỗi khu vực nhỏ có nét đặc trưng riêng, không thích dùng những danh từ quá khái quát [32, tr. Do đó, “Thập Tháp” và “Tháp Mười” song song tồn tại.
Dần dà, “Tháp Mười” với ý nghĩa thuần Việt – đã trở nên phổ biến hơn. Tên gọi Đồng Tháp Mười được dùng phổ biến có lẽ bắt đầu từ cuộc kháng chiến chín năm (1945 – 1954) chống Pháp anh dũng của nhân dân Nam Bộ. Vì lúc bấy giờ Đồng Tháp Mười là nơi tập trung nhiều cơ quan đầu não của Nam Bộ và khu VIII, đồng thời thực dân Pháp cũng tổ chức nhiều cuộc hành quân quy mô đánh vào đây với ý đồ tiêu diệt các cơ quan này, nên trên hệ thống thông tin tuyên truyền của ta cũng như báo, đài của địch thường xuyên đề cập đến địa danh này. Địa danh Đồng Tháp Mười được nhiều người biết đến từ đó.
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 10 Ở phần cuối của hạ lưu vực sông Mêkông, trải dọc theo tả ngạn sông Tiền, lan rộng lên phía bắc có một vùng đất trũng ngập nước rộng khoảng 900.000 ha thuộc lãnh thổ Campuchia. Phần còn lại, khoảng 697.000 ha, thuộc lãnh thổ Việt Nam – được gọi tên là Đồng Tháp Mười. Là một tiểu vùng của đồng bằng sông Cửu Long. Đồng Tháp Mười nằm trong phạm vi toạ độ địa lý: 10 0 15’ – 110 00’ vĩ độ Bắc và 1050 12’ – 1060 30 ’ kinh độ Đông.
Theo tiêu chuẩn địa lý kinh tế, thì: Đồng Tháp Mười là một đồng bằng rộng lớn và trũng thấp, nằm trọn ở hạ lưu sông Cửu Long về phía tả ngạn sông Tiền, phía Bắc giáp Campuchia với đường ranh giới quốc gia dài 185 km, phía Tây Nam giáp sông Tiền, phía Đông giáp sông Vàm Cỏ Đông và quốc lộ 1A. Chiều ngang từ Hồng Ngự đến Tân An khoảng 120 km, chiều dọc từ Vĩnh Hưng đến Cao Lãnh dài 60 km. Diện tích tự nhiên của Đồng Tháp Mười khoảng 697.000 ha, chiếm 17,72% tổng diện tích tự nhiên của Đồng bằng sông Cửu Long. Theo địa giới hành chính, Đồng Tháp Mười được xác định bao gồm 15 huyện, 1 thành phố và 7 xã.452 ha, chiếm 47%): gồm các huyện Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Mộc Hoá, Tân Thạnh, Thạnh Hoá, Đức Huệ và 4 xã phía bắc của huyện Thủ Thừa và 3 xã phía bắc của huyện Bến Lức.000 ha, chiếm 38%): gồm thành phố Cao Lãnh và các huyện Hồng Ngự (trừ năm xã cù lao: Long Thuận, Long Khánh A, Long Khánh B, Phú Thuận A, Phú Thuận B), Tân Hồng, Thanh Bình (trừ năm xã cù lao: Tân Bình, Tân Hoà, Tân Huề, Tân Long, Tân Quới), Tam Nông, Cao Lãnh, Tháp Mười.500 ha, chiếm 15%): gồm các huyện Cái Bè, Cai Lậy, Tân Phước và một phần của huyện Châu Thành.
Đồng Tháp Mười nằm trên hành lang chiến lược giữa miền Đông với miền Tây Nam bộ, nối liền miền thượng (biên giới) xuống miền hạ (miền biển), là vùng hậu cần rộng lớn ở phía Tây Nam của thành phố Hồ Chí Minh. Chung đường ranh giới quốc gia dài 185km với Campuchia. Đồng Tháp Mười có ý nghĩa quan trọng về mặt ngoại thương và quốc phòng qua các thời kỳ lịch sử. Nói đến đặc điểm tự nhiên của Đồng Tháp Mười, điều mà người ta phải chú ý trước hết là địa hình.
Nơi đây không hẳn là một bồn trũng hoàn toàn, vì ngoài vạt đất giồng chung quanh, ngay tại vùng trung tâm cũng nổi lên nhiều giồng gò cao. Trên thế giới có 91 nước có đất phèn ở các dạng và các mức độ khác nhau, với tổng diện tích khoảng 15 triệu hecta. Điểm chung của sự xuất hiện đất phèn là đều ở những vùng đất gần biển hoặc trước đó vốn là vịnh biển. Hầu như tất cả các nước ở khu vực Đông Nam Á đều có đất phèn, riêng Việt Nam có tới 2 triệu hecta (chiếm 13,3%) tổng diện tích đất phèn của thế giới [36, tr.
Đồng Tháp Mười, vùng đất phèn được hình hành từ khoảng 1000 năm nay, là vùng đất phèn rất nổi tiếng, thường được mệnh danh như một cái “rốn” phèn, “cứ điểm kiên cố nhất” của đất phèn [33, tr. Trong tổng số đất phèn của Đồng Tháp Mười, phần thuộc địa phận tỉnh Long An là nhiều nhất, với 181. Các vùng đất phèn đặc trưng đều tập trung vào lòng chảo trung tâm của Đồng Tháp Mười. Sự hiện hữu của đất phèn là yếu tố chính khiến người ta thường gọi Đồng Tháp Mười là vùng tập trung “đất có vấn đề”.
Trong lịch sử khai phá 12 Đồng Tháp Mười, đất phèn là một trong những trở ngại chính, đến nỗi nhiều nhà chuyên môn đã từng xếp cánh đồng này vào loại “cánh đồng không sinh lợi” (plaines improductives) [36, tr. Về đặc điểm địa hình, cánh đồng rộng bao la này có hình lòng chảo nghiêng, cao ở phía bắc và nghiêng dần về phía đông và phía nam. Vì vậy, Đồng Tháp Mười mang tính chất một đồng lụt kín, không giao tiếp với biển, nên nước lũ gây úng lụt lâu và sâu. Về phương diện khí hậu, Đồng Tháp Mười có những điểm tương đồng với đồng bằng sông Cửu Long.
Nằm trong vùng khí hậu gió mùa nhiệt đới cận xích đạo, chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa, khí hậu vùng này mang tính tương phản hai mùa rõ rệt. - Mùa mưa ở Đồng Tháp Mười bắt đầu từ tháng Năm và kéo dài đến tháng Mười Một dương lịch. Thông thường, trong tháng Tám, có một giai đoạn mưa ngừng khoảng 15 đến 20 ngày, giai đoạn này được dân gian gọi là “hạn Bà Chằn”. Trong suốt sáu tháng mùa mưa, lượng mưa trong cả mùa tương đối lớn, trên toàn vùng, vũ lượng trung bình khoảng từ 1500 đến 1700mm/năm.
- Mùa khô, với gió mùa Đông – Bắc, từ tháng Mười Hai đến tháng Tư. Điểm bất lợi lớn nhất và cơ bản nhất về phương diện khí hậu đối với sản xuất và sinh hoạt ở Đồng Tháp Mười là sự sai biệt rất lớn về lượng mưa giữa hai mùa. Có đến 92,0% lượng mưa tập trung vào các tháng mùa mưa. Lượng mưa này cùng với các nguồn nước từ những nơi khác đổ vào vùng khiến cho Đồng Tháp Mười hàng năm bị ngập lụt sâu và kéo dài, ảnh hưởng rất lớn đến việc canh tác cây trồng và mọi hoạt động sống của cư dân.
Mặt khác, trong sáu tháng mùa khô Đồng Tháp Mười chỉ nhận được khoảng 8,0% tổng lượng mưa cả năm. Vì vậy, vào mùa này toàn vùng bị khô hạn, cả cây cối, động vật và con người đều bị thiếu nước gay gắt. 13 Do đó, mâu thuẫn giữa úng lụt và hạn hán là mâu thuẫn cơ bản diễn ra ở Đồng Tháp Mười. Ngoài đặc điểm về địa hình và khí hậu, chế độ thủy lưu cũng ảnh hưởng có tính quyết định đến môi trường sinh thái của Đồng Tháp Mười là một đặc điểm không thể bỏ qua khi đề cập đến vùng trũng này.
Trong năm, ở đây có hai mùa rõ rệt: - Mùa nước từ tháng Bảy đến tháng Mười âm lịch: mùa này trùng với mùa mưa, lượng nước mưa tại chỗ không nhiều để tạo nên mùa nước lên, mà chủ yếu là do nước từ sông Cửu Long đổ về tràn qua biên giới Việt Nam – Campuchia, chảy lan tràn trên đồng, chớ không phải do nước sông Tiền và Vàm Cỏ dâng cao. Nước lên từ từ, cao điểm thường vào cuối tháng Tám âm lịch, nhận chìm mọi thứ, chỉ trừ các giồng, gò cao. Các loài thảo mộc ngâm nước lâu ngày thối rữa làm cho nước có màu sẫm và có mùi hôi. Dân gian gọi là “nước thúi” hay nước cỏ.
Nước thúi theo dòng chảy đến đâu làm cá tôm có thể chết đến đấy. Đến tháng Mười âm lịch, nước bắt đầu rút, tôm cá cũng theo nước rút ra sông rạch, gọi là mùa cá ra.