CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm “Đề tài nông nghiệp trong tranh khắc gỗ” Khái niệm Đề tài nông nghiệp Khái niệm Nông nghiệp Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế mỗi quốc gia, đặc biệt là trong những thế kỷ trước đây khi công nghiệp chưa phát triển và nông nghiệp chiếm tỉ trọng cao trong nền kinh tế. Việt Nam là một nước chuyên về nông nghiệp với 95% dân số sống về đồng ruộng, bởi vậy việc tìm hiểu thế nào là nông nghiệp cũng như giá trị của ngành nghề cần được nắm rõ hơn bao giờ hết. Theo thời gian, nông nghiệp ngày càng phát triển đa dạng với nhiều hình thức thể hiện phong phú.
Từ xưa đến nay có khá nhiều khái niệm ở mức độ phạm vi rộng, hẹp khác nhau tùy thuộc vào sự hiểu biết của mỗi cá nhân và dưới đây là vài ví dụ ở một số cuốn từ điển có định nghĩa về “Nông nghiệp”: Cuốn Từ điển Tiếng Việt do Văn Tân chủ biên định nghĩa “Nông nghiệp” là ngành kinh tế quốc dân chuyên trồng trọt và cày cấy thực phẩm cho nhân dân và nguyên liệu cho công nghiệp. Cuốn Đại từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên của Bộ Giáo dục và đào tạo có định nghĩa “Nông nghiệp” như sau: “Ngành sản xuất chủ yếu của xã hội có nhiệm vụ cung cấp sản phẩm trồng trọt và chăn nuôi: phát triển nông nghiệp, mặt trận nông nghiệp. Bên cạnh đó, từ điển còn phân chia rõ ràng cụ thể hơn với các khái niệm xung quanh như “nông nghiệp cổ truyền”, “nông nghiệp công nghiệp hóa”, “nông nghiệp nguyên thủy”, “nông nghiệp sinh học”, “nông nghiệp sinh thái học”, “nông nghiệp 8”. Cuốn Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên đã định nghĩa: “Nông 16 nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, cung cấp sản phẩm trồng trọt và chăn nuôi”.
Từ những khái niệm trên, có thể thấy tuy nhận định về “Nông nghiệp” là dài, ngắn khác nhau (đáng chú ý có cuốn “Đại từ điển Tiếng Việt” của Nguyễn Như Ý có phân tích sâu, làm sáng rõ những khái niệm nhỏ hơn thuộc về nông nghiệp) nhưng tổng quan vẫn có những ý kiến trùng khớp và gộp lại, ta được mẫu số chung: Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn chủ yếu của xã hội có nhiệm vụ sử dụng đất đai để trồng trọt, cấy cày và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chính để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp. Khái niệm Đề tài Theo cuốn Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên định nghĩa đề tài là: “Đối tượng để nghiên cứu hoặc miêu tả, thể hiện trong tác phẩm khoa học hoặc văn học, nghệ thuật. Cuốn Từ điển Tiếng Việt do Văn Tân chủ biên định nghĩa đề tài là: “Phạm vi vấn đề mà nghệ sĩ hoặc nhà khoa học nhằm nghiên cứu, giải quyết hay thể hiện: Đời sống công, nông binh là một đề tài phong phú cho nhà tiểu thuyết; Đề tài nghiên cứu vật lý hạt nhân. Theo Từ điển thuật ngữ Mỹ thuật phổ thông, đề tài được giải thích là: “Những lý do, những vấn đề được gợi ý hoặc được nghĩ ra bởi một người hay một nhóm người để tập trung xoay quanh vào đó nghiên cứu, thể hiện, diễn đạt bằng một hình thức riêng với những hình tượng cô đọng, điển hình.
Ví dụ: đề tài về lực lượng vũ trang, đề tài chiến tranh, đề tài về thiếu nhi, đề tài về xây dựng… Nghệ thuật tạo hình thế giới qua các thời kỳ đều thể hiện những đề tài nổi bật, phổ biến. Ví dụ thời kỳ lãng mạn, đề tài là thiên nhiên, con người và tình yêu; thời kỳ hiện thực, đề tài là thiên nhiên, quê hương, đất nước, con người trong lao động, trong chiến đấu, trong sinh hoạt bình thường với những tình cảm đa dạng phong phú… Kể từ khi hình thành chủ nghĩa Ấn 17 tượng, với sự ra đời của trường phái mới, nhất là những trường phái mang tính hình thức, trừu tượng thì đề tài không quan trọng và không có tính chất quyết định nữa mà tên tranh chỉ gợi một sự chú ý, liên tưởng xa xôi, thậm chí có khi tùy tiện. Có những bức tranh tùy hứng, vẽ theo sự thích thú ngẫu nhiên của tác giả, không định thể hiện một ý đồ, một chủ đề nào cả, được đặt tên là “vô đề”, tức là tranh không có đề tài. Nói chung, đề tài dành cho nghệ sĩ rất rộng rãi, phong phú.
Những người đã nung nấu nhiều về một đề tài thường có nhiều cảm xúc, nhiều tư liệu nghiên cứu, tìm tòi, hư cấu sâu vào đề tài đó. Nhờ đó họ sẽ tạo ra những tác phẩm có chất lượng. Đề tài rộng hơn chủ đề. Chủ đề được diễn đạt bằng hình tượng cụ thể hơn.
Ví dụ: đề tài là phụ nữ, còn chủ đề có thể là phụ nữ đi cấy, phụ nữ làm văn nghệ, phụ nữ tập quân sự,…” [25, tr 62-63]. Cuốn Từ điển Bách khoa Việt Nam 1 do Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển có khái niệm rất đầy đủ: “Đề tài (văn, nghệ thuật, khoa học), đối tượng để miêu tả, biểu hiện, nghiên cứu, chuyện trò. Trong văn học, nghệ thuật, đề tài là những hiện tượng xã hội được nhà văn, người nghệ sĩ khai thác một cách nhất quán theo ý định tư tưởng - nghệ thuật của mình. Đề tài được nhận thức và khai thác theo những quan điểm khác nhau, tùy thuộc vào thế giới quan, lập trường tư tưởng, thái độ của văn nghệ sĩ.
Bản thân đề tài không trực tiếp mang tính tư tưởng, nhưng đề tài là điểm xuất phát để văn nghệ sĩ bộc lộ quan điểm, tư tưởng của mình qua chủ đề, cốt truyện và nhân vật. Ví dụ: đề tài nông nghiệp, đề tài chiến tranh, đề tài tình yêu,… hoặc cụ thể hơn đề tài về đổi mới trong giáo dục lối sống, phê phán tệ nạn xã hội. Trong khoa học, việc chọn đề tài có một tầm quan trọng đặc biệt. Đề tài phải đáp ứng yêu cầu của khoa học, của thời đại, phục vụ sản xuất, và đời sống con người, phải thiết thực và ý nghĩa đối với thực tiễn cuộc sống.
Như vậy, có thể nói có nhiều sự giải thích về đề tài ở những cấp độ nông, sâu khác nhau, tuy vậy thì các định nghĩa đa dạng trên ít nhiều đã góp phần 18 làm sáng rõ khái niệm đề tài trên mọi góc nhìn. Có thể thấy khi so các định nghĩa với nhau, cách giải thích của Từ điển Bách khoa Việt Nam 1 mang tính khái quát, khá đầy đủ; còn Từ điển Mỹ thuật phổ thông đã dùng từ ngữ chuyên ngành Mỹ thuật để giải thích sâu và sát hơn về “Đề tài”; cụ thể đã chỉ ra sự thay đổi quan niệm về đề tài theo từng giai đoạn qua cách thức thể hiện, diễn đạt bằng mỗi hình thức riêng. Ngoài ra để rõ hơn, tác giả còn đề cập mức độ rộng lớn hơn của đề tài so với chủ đề. Đề tài là những lý do, những vấn đề được gợi ý hoặc được nghĩ ra bởi một người hay một nhóm người để tập trung xoay quanh vào đó nghiên cứu, thể hiện, diễn đạt bằng một hình thức riêng với những hình tượng cô đọng, điển hình theo ý định tư tưởng - nghệ thuật.
Đề tài trong nghệ thuật nói chung hay Mỹ thuật nói riêng tức là nói đến đối tượng, đến nội dung mà người nghệ sĩ muốn nhắc đến. Đề tài dành cho nghệ sĩ rất rộng rãi, phong phú. Đề tài dựa trên thực tế, là cái mà họa sĩ nhìn thấy để qua đó gửi gắm, phản ánh tâm tư tình cảm và cái nhìn cá nhân bản thân vào trong tác phẩm trước sự vật hiện tượng. Tác phẩm đẹp phải chuyển tải được nội dung, tư tưởng chủ đề một cách thật tốt đề tài và phải có ngôn ngữ nghệ thuật hoàn mỹ, mang dấu ấn riêng trong tác phẩm.
Từ hai khái niệm “Đề tài” và “Nông nghiệp” được làm rõ ở trên, có khái niệm về Đề tài nông nghiệp như sau: Đề tài nông nghiệp là lý do, là vấn đề được gợi ý hoặc được nghĩ ra bởi một nghệ sĩ hay một nhóm nghệ sĩ để tập trung nghiên cứu, thể hiện, diễn đạt bằng một hình thức riêng với những hình tượng nghệ thuật cô đọng, điển hình theo ý định tư tưởng- nghệ thuật, phản ánh về ngành sản xuất chủ yếu của xã hội có nhiệm vụ cung cấp sản phẩm chuyên trồng trọt, chăn nuôi và cày cấy thực phẩm cho nhân dân. Khái niệm tranh khắc gỗ Tranh khắc gỗ là phương pháp in lâu đời nhất trong nghệ thuật tranh in 19 đồ họa, sử dụng chế bản in gỗ và thuộc phương pháp in nổi. “Tranh in ra từ các ván gỗ đã được khắc theo kỹ thuật in nổi. Tranh khắc gỗ cho phép in ấn văn bản, hình ảnh hoặc những mẫu có sẵn, được sử dụng rộng rãi ở trên toàn khu vực Đông Á.
Loại tranh này có nguồn gốc ở Trung Quốc thời cổ đại và cho đến nay, bản tranh khắc gỗ sớm nhất được tìm thấy ở đây có niên đại năm 868, mặc dù thực tế nghề khắc gỗ in sách đã hình thành ở nước này từ thế kỷ thứ 6. Trong thời nhà Đường (618 - 907) tranh vẽ và chữ kèm theo (trên cùng một bản in) đã được in ra bằng các bản in gỗ, sách in bằng bản khắc gỗ, trong khi loại này ở châu Âu mãi đến thế kỷ 12 mới xuất hiện. Tại châu Âu, việc sử dụng con dấu bằng gỗ đã được chứng minh ở Ý khi vải được in bằng cách này. Tại Nhật Bản, khắc gỗ phát triển như một hình thức nghệ thuật bắt đầu từ khi kỹ thuật này được lan truyền từ Trung Quốc ở cuối thế kỷ thứ 8.
Khắc gỗ tại Nhật Bản cực thịnh trong khoảng thời gian từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19 đã chinh phục cả thế giới và đi vào lịch sử mỹ thuật nhân loại như một gợi mở vô giá cho những ý tưởng nghệ thuật thời hiện đại. Vào thế kỷ 11, người Việt đã in kinh Phật từ bản khắc gỗ. Năm 1936, những đồng tiền giấy đầu tiên được sản xuất bằng kỹ thuật khắc in gỗ và lưu thông dưới triều đại nhà Trần. Các dòng tranh dân gian nổi tiếng của Việt Nam được phát triển trên kỹ thuật khắc in gỗ từ thế kỷ 16, 17.
Ở Việt Nam ván in được làm từ nhiều loại gỗ như gỗ thị, gỗ mít hay gỗ vàng tâm do gỗ mềm dễ khắc và có độ dẻo cao, phổ biến hiện nay còn sử dụng ván ép gỗ công nghiệp.