Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ CHÂU THƯỢNG LANG, TỈNH CAO BẰNG 1. Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên Cao Bằng phía đông giáp với châu Hạ Lôi nước Thanh (Trung Quốc) , phía Tây giáp phủ Trấn An nước Thanh và huyện Để Định tỉnh Tuyên Quang, phía nam giáp huyện Thất Khê tỉnh Lạng Sơn, phía bắc và đông bắc đều giáp với châu Quy Thuận nước Thanh. Phía Tây nam giáp các huyện Bạch Thông, Cảm Hóa của tỉnh Thái Nguyên, phía đông nam giáp giới các châu Hạ Đống, Long Châu, An Bình nước Thanh. “Đông Tây cách nhau 152 dặm, Nam Bắc cách nhau 87 dặm.
Nguyên số quân thuộc 2 cơ Hùng, Dũng là 836 người. Hiện tại ngũ chỉ có 269 người. Dân số theo sổ cũ là 9. Hiện nay chỉ có 3.980 người” [51, tr.
Vị trí của huyện Thượng Lang “cách phủ 81 dặm về phía Đông Bắc, Đông Tây cách nhau 109 dặm, Nam Bắc cách nhau 76 dặm, phía Đông đến địa giới huyện Hạ Lang 79 dặm, phía Tây giáp địa giới huyện Quảng Yên đến đó là 30 dặm, phía Nam đến địa giới huyện Hạ Lang là 33 dặm, phía Bắc đến địa giới châu An Bình nước Thanh là 43 dặm” [38, tr. Nơi đây nằm ở độ cao trung bình từ 500 - 800m so với mực nước biển, là một huyện miền núi có địa hình tương đối phức tạp, nơi đây có những dãy núi cao chạy dọc và xen kẽ với những sông suối ngắn, thung lũng hẹp dần theo hướng từ Tây Bắc xuống đến Đông Nam. Châu Thượng Lang có 3 dạng địa hình chính là địa hình dạng núi đá vôi, địa hình dạng thung lũng, địa hình dạng đồi. Với địa hình dạng đồi chủ yếu là ở 6 xã hình thành trên phiến thạch sét và sa thạch, phân bố ở khu vực các xã phía Đông Nam với độ cao từ 500 - 800m.
Bên cạnh đó vùng này cũng có những nơi xen kẽ là địa hình caster. Với địa hình dạng núi đá vôi có 11 xã chiếm diện tích khá lớn, phân bố chủ yếu ở các xã thuộc phía Bắc và phía Tây Nam với độ cao trung bình từ 700 - 800m, với nhiều hang động, nổi bật là động Ngườm Ngao - hiện nay là một trong những điểm đến thu hút nhiều 8 c khách du lịch đến tham quan, xen kẽ với một số thung lũng nhỏ hẹp. Dạng địa hình thung lũng thì tập trung ở 3 xã là những dải đất tương đối bằng phẳng, những cánh đồng nhỏ hẹp kéo dài và cao thấp khác nhau, chạy dọc theo 2 hệ thống sông Quây Sơn và sông Bắc Vọng và xen giữa những dãy núi đá là những thung lũng bằng phẳng, được kiến tạo nên bởi thiên nhiên hùng vĩ nơi đây và bàn tay khai phá của nhân dân các dân tộc từ nhiều đời, đã tạo nên những cánh đồng, những bãi rẫy trù phú như vùng Ngọc Khuê, Đình Phong. Chí Viễn, Đàm Thủy, Phong Nặm, Lăng Hiếu, Phong Châu, Đức Hồng,…Nét đặc trưng của địa hình Thượng Lang là giữa các thung lũng bằng phẳng có những ngọn núi đá, núi đất sừng sững, nhấp nhô với nhiều hình dạng tiêu biểu là vùng Ngọc Khuê chạy dọc song Quây Sơn, được nhân dân nơi đây ca ngợi là vùng “Hà lục sơn thủy hữu tình”.
Châu Thượng Lang còn có những dãy núi đá cao, chạy dọc biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc nằm ở phía Bắc và Đông Bắc, được ví như là một phên dậu, bức tường thành che chắn cho kinh thành Thăng Long. Theo Đại Nam nhất thống chí: “Núi Chiêu Sơn: cách huyện Thượng Lang 2 dặm về phía đông nam, đá núi lởm chởm, cây cỏ um tùm. Núi Mô Sơn: cách huyện Thượng Lang 11 dặm về phía nam, dưới núi có động, có nước suối chảy ra ruộng, nhà nông rất lợi. Đời Lê Cảnh Hưng, Nông Văn Bồng chăn trâu, nhận thấy nước trong động khô cạn, liền đi thẳng vào động, thấy một con trâu lớn.
Bồng gõ vào sừng trâu mà hát thì con trâu ấy chạy vào hang sâu không thấy đâu cả. Sau đó một lúc nước từ trong động vọt ra. Sau này hễ khi nào nghe trong núi có tiếng trâu rống, thì năm ấy tất có nước lũ. Núi Quảng Đô: cách huyện Thượng Lang 3 dặm về phía bắc, núi rất cao” [38, tr.
Phía Nam và Tây Nam là địa hình chuyển tiếp của cao nguyên miền Đông cao dần từ Nam lên Bắc. Trong những đèo dốc ở châu Thượng Lang thì nổi tiếng nhất là Đèo Liêu, được xác định là mốc giới giữa hai vùng Quảng Hòa và Thượng Lang, có độ cao là 664m. 9 c Khí hậu ở đây, theo Đại Nam nhất thống chí có viết “theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi, thì thiên hạ có 29 xứ ác thủy, mà Cao Bằng chiếm 4 xứ là Thạch Lâm, Quảng Uyên, Thượng Lang, Hạ Lang” [28, tr. Do địa thế vùng núi rừng liên tiếp nhau, lam chướng độc hại, nhưng được cái không có bão.
“Ba mùa từ thu, đông đến mùa xuân buổi sáng đều có sương mù dày đặc, phải quá một, hai giờ thìn mới tan, trời thường âm u, chỉ mùa hè mới được trời quang mây tạnh. Khoảng tháng 6 thường có mưa rào. Tháng 11,12 là rét nhất”[52, tr. 654] Thượng Lang nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa.
Mùa đông độ ẩm thấp, khô hanh và rét buốt, mùa hè mưa nhiều, oi bức, chỉ dịu mát về đêm. Khí hậu nơi đây phân làm hai mùa rõ rệt, nóng và lạnh, mùa lạnh thường bắt đầu từ tháng 10, kéo dài đến hết tháng 5 năm sau, nửa đầu mùa hạ là thời tiết khô hanh, ban ngày nhiệt độ ấm áp nhưng ban đêm nhiệt độ thường thấp, nhiệt độ chênh lệch giữa ban ngày và ban đêm từ 5 - 10℃, nhiệt độ trung bình năm khoảng 24℃, tối đa lên đến 40℃ vào tháng 7 và tối thiểu là 0℃ vào tháng 12, nhiệt độ trung bình vào đầu mùa đông là 17℃. Ruộng đất khô rắn xấu xa, chỉ cấy được vụ mùa, không có vụ chiêm, người bản thổ theo tục thường xem lá cây hoặc mưa sấm để nghiệm được mùa hay mất mùa, tục cho rằng trên núi đất, lá cây đỏ không nên cấy lúa, trên núi đá lá cây đỏ là triệu chứng được mùa. Lượng mưa trung bình năm thấp vào khoảng 1.777mm, cao nhất là vào tháng 5 đến tháng 9 (vào khoảng 82%) và thấp nhất là vào tháng 1 và tháng 2 có mưa đá và gió mùa đông bắc thổi từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau, gió mùa đông nam thổi từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 11.
Độ ẩm trung bình vào khoảng 81%, có sương muối xuất hiện bình quân 6 ngày trong năm, ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông, lâm nghiệp. Trong hệ thống sông suối, Đại Nam nhất thống chí có viết: “Khe Trạo Nhi: ở địa giới huyện Hạ Lang, nước khe từ cửa ải Ba Hoài Châu Qui Thuận nước Thanh, chảy về phía nam qua xã Trạo Nhi thuộc huyện Thượng Lang, làm khe Trạo Nhi, lại chảy về phía bắc mà vào địa giới châu An Bình nước Thanh. 10 c Sông Huề: cách huyện Quảng Uyên 30 dặm về phía tây, nguồn từ ải Thuận thuộc châu Qui Thuận nước Thanh chảy về phía nam, qua các xã Quả Thoát, Ngưỡng Đồng, Cảm Hảo và Thông Huề thuộc huyện Quảng Uyên, lại chảy về phía nam qua các xã Đoài Côn. Giáp Dương, Cổ Phương và Tứ Mĩ thuộc huyện Thượng Lang.
Lại chảy qua các xã Vĩ Vọng, Cổ Lạc, Bàn Trực, Bác Vọng, Các Linh và Phất Mê thuộc huyện Quảng Uyên rồi chảy vào hạ lưu sông Mãng” [38, tr. Ngày nay chính là 2 con sông Quây Sơn và sông Bắc Vọng. Sông Quây Sơn có hai nhánh chính đều bắt nguồn từ Trung Quốc, chiều dài khoảng 76km, nhánh lớn chảy qua xã Ngọc Khuê, nhánh thứ hai còn gọi là sông Tà Pè, chảy theo hướng đông nam qua xã PhongNậm, Ngọc Khê hợp lưu với nhánh chính tại Khả Mong, xã Ngọc Khê, chảy qua các xã Đình Phong, Chí Viễn, Đàm Thủy qua huyện Hạ Lang rồi chảy sang Trung Quốc. Lòng sông tuy không rộng nhưng sâu, nước chảy xiết, độ dốc bình quân là 0.01˚, nơi đây có nhiều thác ghềnh như thác Khoang (Thoong Khoang) ở xã Ngọc Khê, có độ cao là 10m, thác Gót (Thoong Gót) ở xã Trí Viễn cao trên 20m.
Đặc biệt là thác Bản Giốc, thuộc xã Đàm Thủy, có độ cao trên 50m, ngày nay Thác Bản Giốc là ngọn thác đẹp nhất Việt Nam, là một trong những tặng vật vô giá mà thiên nhiên ban tặng cho Cao Bằng nằm trên đường biên giới Việt Trung thuộc xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh cách thành phố Cao Bằng 89 km. Thác có hai nhánh, nhánh bên phải là dòng nước đổ thẳng xuống vực, nhánh bên trái dòng nước hạ tầng thành 3 bậc, nối tiếp nhau thành một dòng chảy, do độ dốc lớn, dòng chảy đổ xuống vực sâu và tung bọt trắng xóa. Thác chính có địa hình thấp nhưng sức nước tuôn mãnh liệt. Dải nước rộng phía bên trái tràn ra thành thác phụ với rất nhiều “dây” nước mảnh đan xen, uốn cong như bức rèm vĩ đại đầy ngẫu hứng của thiên nhiên.
Vì thế, thác Bản Giốc được ví như vẻ đẹp nguyên sơ của người phụ nữ Tày nơi đỉnh núi mù sương hoặc tựa như mái tóc 11 c nàng tiên bị bỏ quên vắt ngang đỉnh núi.Dưới chân thác Bản Giốc là dòng sông Quây Sơn Do địa hình thấp dần từ tây bắc xuống đông nam nên phần lớn các con sông suối đều bắt nguồn từ phía Tây Bắc chảy theo hướng Đông Nam qua các vùng núi đá vôi. Động Ngườm Ngao được hình thành cách đây khoảng 300 triệu năm trước công nguyên, có thể nói là khá trẻ tuổi so với nhiều hang động ở Việt Nam như động Phong Nha (250 triệu năm), cụm hang động Tràng An (250 triệu năm), động Thiên Đường (360 triệu năm). Động có chiều dài 2.144m này tọa lạc trong lòng một quả núi ở bản Gun, xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh cách thành phố Cao Bằng khoảng 50km. Về tài nguyên động thực vật, do địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, nên phần lớn các con sông, con suối đều bắt nguồn từ phía Tây Bắc chảy theo hướng Đông Nam qua các vùng núi đá vôi, dọc theo các con sông Bắc Vọng, Quây Sơn…có nhiều thác ghềnh, nước chảy xiết.
Các dòng sông lớn như Quây Sơn, Bắc Vọng và nhiều suối, ao, hồ là nguồn thủy sản dồi dào.