Chương 1: Lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2000 đến năm 2005 của Đảng bộ huyện Tiền Hải Chương 2: Lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện Tiền Hải từ năm 2006 đến năm 2015. Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm lịch sử.LÃNH ĐẠO PHÁT TRIEN KINH TENONG NGHIỆP TUNAM 2000 DEN NAM 2005 CUA DANG BỘ HUYỆN TIEN HAI 1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên -— xã hội va tinh hình kinh tế nông nghiệp huyện Tiền Hảitrước năm 2000 1.1 Điều kiện tự nhiên - xã hội Tiền Hải là huyện đồng bằng ven biển nằmở vị trí Đông Nam tỉnh Thái Bình thuộc đồng bằng châu thé sông Hồng, giáp các huyện: Phía Bắc giáp huyện Thái Thụy; phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ; phía Nam giáp với huyện Giao Thủy (Nam Định); phía Tây giáp huyện Kiến Xương. Tiền Hải không chỉ biết đến bởi những đặc sản của vùng biển mà còn nhắc đến với hai từ thân thuộc “Qué Lia”. Trong chiến tranh Tiền Hải đã làm tốt vài trò của hậu phương lớn, chi viện cho miền Nam.
Đạt thành tích cao trong sản xuất nông nghiệp không chỉ thời chiến, mà thời bình huyện Tiền Hải còn tiếp tục phát huy truyền thống quê lúa, đạt nhiều thành tựu trong sản xuất. Huyện được thành lập từ tháng 9 năm 1828, sau cuộc khẩn hoang của người nông dân vùng ven biên Tiền Châu do doanh Điền sứ Nguyễn Công Trứ xuất xưởng và tô chức. Trải qua 180 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành, nay Tiền Hải có một Thị Tran, 34 xã. Tiền Hai cách thành phố Thái Bình 21km và cách Thủ Đô Hà Nội chừng 130km, hệ thống giao thông đường thủy, đường bộ thuận lợi cho giao lưu hội nhập thương mại, thông tin khoa học kỹ thuật, tiếp thu thành tựu khoa học tiên tiến, kha năng thu hút vốn đầu tư của các t6 chức cá nhân trong nước và ngoài nước.
Năm trong vùng đồng bằng châu thổ được bôi đắp bởi phù sa của các con sông lớn như Sông Hồng, Trà Lý. Do đặc trưng vùng châu thổ sông Hồng nên địa hình của huyện khá băng phăng và nghiêng dần từ Đông Bắc sang Tây Nam. Tuy với đặc điểm của bãi bồi ven biển nên địa hình của huyện có dạng lồng chảo vùng trũng ở phía nội đồng, vùng cao ở ven biển. Vùng trũng chủ yếu là các xã: Tây Phong, Tây Tiến, Đông Lâm, có độ cao Trung Bình là 0,5 — 0,6 so với mặt nước biển.
Vùng cao ven biển chủ yếu ở các xã: Đông Minh, Đông Trà, Đông Hoàng, Đông Quý có độ cao trung bình là 1m so với mặt nước biển rất thuận lợi cho việc canh tác nông nghiệp. Đất ở đấy chủ yếu là đất phù sa màu mỡ, phân bố trên địa hình khá bằng phăng, thích hợp với việc trồng lúa, cây hoa màu, cây công nghiệp có năng xuất cao, có khả năng thâm canh, tăng vụ. Huyện có diện tích đất tự nhiên rộng song lại có đặc điểm đất đai rất phức tạp và khó khăn hơn các huyện nội đồng. Đất chua mặn nhiều, có thể chia thành ba miền khác nhau khoảng 45% diện tích đất vùng ngọt, 30% diện tích đất vùng đệm, 25% diện tích đất phèn mặn.
Địa hình đất đai cao trũng khác nhau có độ chênh lệch lớn, nên công tác thủy lợi tưới tiêu khó khăn. Sự khác biệt về chất đất của huyện, không những khó khăn thử thách lớn đối với sản xuất nông nghiệp, mà trái lại huyện đã biến những khó khăn đó trở thành động lực, phát triển ngành nông nghiệp đa dạng với nhiều lĩnh vực, cây trồng, con vật nuôi mà không chỉ đơn thuần là sản xuất lúa. Do vậy công tác khai phá và cải tạo vùng đất này để phục vụ sản xuất nông nghiệp luôn là một yêu cầu cấp thiết, vô cùng quan trọng tới sự phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện. Tiền Hải nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa mang nhiều nét đặc trưng của khí hậu duyên hải, mùa đông thường thì ấm hơn, mùa hè thì mát hơn so với các vùng sâu trong nội địa.
Nhiệt độ trung bình trong năm từ 23°C - 24°C cao nhất lên tới 39°C, thấp nhất khoảng 4,1°C, chênh lệch nhiệt độ giữ ngày nóng và lạnh là khoảng từ 15°C tới 20°C. Lượng mưa: Trung bình hàng năm từ 1.500 — 200mm, tập trung chủ yếu vào mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10 chiếm khoảng 80% lượng mưa cả năm, mùa khô kéo đài từ tháng 11 năm trước đến tháng 3,4 năm sau, độ 4m dao động từ 80% - 90%. Bức xạ mặt trời lớn: Sé giờ nang trung bình từ 1. Tổng nhiệt lượng cả năm 19.800 KCQ/cm?/nam.
Gió: Gió thịnh hành gió Đông Nam mang theo không khí nóng 4m, mùa hè hay có gió bão kèm theo mưa lớn, bão thường xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 10, mỗi năm trung bình chịu ảnh hưởng từ 2 đến 3 cơn bão. Mùa đông là gió mùa Đông Bắc kèm theo không khí lạnh. Thủy văn: Huyện có hệ thống sông ngòi chăng chịt với sông Hồng và cửa Ba Lat và các chỉ lưu của nó. Sông Hồng chảy qua phía Nam huyện đồ ra biển Đông là ranh giới tự nhiên giữa Tiền Hai và Nam Định.
Sông Trà Ly là chi nhánh của sông Hong đồ ra biển Đông chảy qua phía Bắc huyện là ranh giới giữa Tiền Hải và huyện Thái Thuy. Sông Lân là chi lưu của sông Hồng chảy xuyên qua nội địa huyện đồ ra Biển như dây cung vạch ngang địa hình, hai cánh cung là sông Hong và sông Tra Lý. Sông Long Hầu là chi lưu của sông Trà Lý chảy ngang qua huyện, đây là trục sông chính dẫn nước ngọt cho toàn huyện Tiền Hải, ngoài ra nó có hệ thống kênh mương dày đặc. Sông ngòi: Tiền Hải có nguồn nước ngọt đổi dao tải lượng phù xa lớn và thuận lợi về nguồn nước tưới thau chua rửa mặn cho toàn bộ ruộng của huyện.
Với lượng phù sa lớn đồ ra biển tạo thành những bãi bồi lớn ở các cửa sông là thế mạnh của huyện cho phát triển nông lâm ngư nghiệp. Bãi biển: Tiền Hải thuộc vùng biển nước triều theo chế độ nhật triều hoạt động mạnh vao thang 1, 6,7,12. Vì vậy nước mặn có thể theo chế dộ nhật triều vào sâu trong nội địa ở các sông lớn như Trà Lý độ mặn (muối 1% vào sâu tới 8km, sông Hồng vào tới 10Km). Diện tích đất tự nhiên 28.698 ha do phù sa sông Hồng bồi đắp, trong đó diện tích đất trong đê là 20.037 ha chiếm 70% diện tích, ngoài đê biển 8.661 ha chiếm 30% diện tích.
Diện tích đất nông nghiệp 16.684 ha có 23km bờ biển thuận lợi cho nuôi trồng đánh bắt thủy hải sản và vận tải du lịch, có 3 cửa sông lớn đồ ra biến là sông Hong, sông Trà Lý và sông Lân, hang năm đưa triệu TM phù sa ra biển tạo ra những bãi bồi lớn. Cứ khoảng 20 — 30 năm lại được thêm một xã mới, hiện nay có khoảng gần 10.000 ha đất bãi bồi ven sông, ven biển tập trung ở khu Côn Vành, Côn Thủ. Đây là tiềm năng to lớn của huyện đã và đang được khai thác nhất là việc nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản và trồng rừng phòng hộ, tạo cảnh quan phát triển du lịch. Tiền hải có mỏ khí đốt ở xã Đông cơ trữ lượng lớn, hiện nay đang được khai thác để phục vụ cho các ngành công nghiệp như: Sứ, thủy tinh, gach dp lát, gạch micado, xI măng trắng, điện khí đốt, sứ vệ sinh cao cấp.
Ngoài ra Tiền Hải còn có nước khoáng với chất lượng tốt đang được khai thác ở độ sâu gần 500m, sản xuất nước khoáng theo công nghệ tiên tiến với quy mô lớn phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và xuất khâu như nước khoáng Vital. Dân số và nguôn nhân lực : Tiền Hải là huyện đồng bằng ven biển cư dan sống tập trung trong huyện ngày một đông. Theo kết quả điều tra tới năm 2009 thì dân số của huyện ước tính là 224.854 ngàn người với 55.632 hộ, trong đó dân số trong nông nghiệp chiếm gần 85%. Mật độ dân số trung bình là 890 người/km? huyện, thôn xóm đan xen lẫn nhau.
Đến nay có 100% số xã có đường ôtô đi qua trung tâm xã và đường rải đá láng nhựa. Từ 1993 đến nay toàn huyện đã rải được trên 300km, năm 1999 bàn giao một số tuyến đường cho tỉnh quản lý, hiện nay huyện còn quản lý 90km. Đường thôn xã rải đá láng nhựa 95km, đường bê tông xóm 550km. Giao thông đường thủy thuận tiện với 23km bờ biên và hệ thống sông Hồng, sông Trà Lý, sông Lam, sông Long Hầu đóng vai trò quan trọng trong vận chuyền hàng hóa giao lưu giữa các vùng trong huyện và với các huyện, tỉnh ngoài.
Đến năm 2008 có thêm một cơ sở đóng tàu mới nâng tổng số lên là 3 cơ sở đó là công ty Minh Thanh ở xã Đông Hải dang đóng mới 4 tàu biển với trọng tải trên 500 tân/tàu, đó là một lợi thé phát triển vận tải biển. Hệ thống thủy lợi là công tác rất quan trọng trong quá trình sản xuất, cải tạo đất đai của huyện. Đến nay huyện đã có hệ thống kênh mương và trạm bơm khá hoàn chỉnh, đảm bảo cơ bản nước tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp của toàn huyện. Hai trạm bơm lớn là trạm bơm Thống Nhất và trạm bơm Nam Tiền Hải.
Cùng với trên 70 trạm bơm nhỏ với hàng trăm km mương cấp 1,2 và đê biển ngăn mặn, chống lũ, đảm bảo đáp ứng nhu cầu kịp thời phục vụ cho sản xuất và đời sống nhân dân. Thực hiện kiện cố hóa kênh mương từ năm 2000 đến nay đã triển khai xây dựng ở một SỐ Xã, giá trị thực hiện năm 2000 là 3,5 tỷ đồng, xây dựng xong dự án cải tạo nâng cấp trạm Thống Nhat là 28,3 ty đồng. Hệ thống thông tin liên lạc tương đối hoàn chỉnh, từng bước được nâng cấp. Hệ thống các đài phát thanh huyện, xã, thôn đảm bảo cung cấp đầy đủ những thông tin về tình hình diễn biến của sản xuất nông nghiệp đến với nhân dân.
Mạng lưới điện được hoàn chỉnh, 35/35 xã, thị tran có điện sáng, số hộ dân sử dụng đáp ứng được yêu cầu phục vụ và sản xuất đời sống. Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất ngày càng hoàn thiện là một điều kiện vô cùng thuận lợi để huyện tập trung phát triển kinh tế nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng. Người dân Tiền Hải cần cù, chịu khó có kinh nghiệm trong thâm canh, tăng vụ lại năng động, sáng tạo có khả năng tiếp thu và mạnh dạn áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp. Đây là điều kiện thuận lợi để huyện phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH.