CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Giải phẫu tạo hình bàn tay con người và mỹ thuật thời Phục Hưng 1. Sơ lược mỹ thuật thời Phục Hưng Thời kỳ Phục Hưng (Renaissance – tiếng Anh) nghĩa là sự tái sinh, sự “Phục Hưng”. Là cuộc tái sinh các giá trị nghệ thuật, tư tưởng, khoa học của thời ḱỳ Cổ đại và sự sống lại, phát triển rực rỡ của nền văn minh phương Tây.
Phong trào Phục Hưng thường được coi bắt đầu từ khoảng cuối thế kỉ 14 đến giữa thế kỷ 16 tại Châu Âu. Giai đoạn này được coi là đánh dấu giai đoạn chuyển tiếp của Châu Âu từ thời kỳ Trung cổ sang thời kỳ Cận đại (cũng như từ Thời kỳ phong kiến sang Thời kỳ tư bản). Thuật ngữ Renaissance được họa sỹ Giorgio Vasari dùng ban đầu khi viết “sự Phục Hưng” của nền nghệ thuật Italia trong cuốn sách “Ghi chép sinh động về các họa sỹ, nhà điêu khắc và kiến trúc sư nổi tiếng” vào năm 1550. Thuật ngữ này có một nội dung sâu sắc để chỉ sự hồi sinh và phát triển rực rỡ các hoạt động nghệ thuật và khoa học.
“Phục Hưng” ở đây có hai nghĩa: Một là sự khám phá lại các sách vở cổ điển và đem ứng dụng vào trong khoa học và nghệ thuật; hai là để chỉ kết quả của các hoạt động văn hóa đó mang lại sự hồi sinh cho văn hóa châu Âu nói chung. Thời kỳ Phục Hưng bắt đầu vào thế kỷ XIV với những bước đi đầu tiên ở lĩnh vực hội họa từ cái nôi Florence, thời kỳ của lịch sử nghệ thuật – “thời kì của hội hoạ". Tư tưởng xuyên suốt cơ bản của thời kỳ này chính là Chủ nghĩa Nhân văn, luôn hướng tới giá trị đạo đức, ca ngợi vẻ đẹp tự nhiên và đặc biệt đề cao về đẹp con người cả về hình thể lẫn nội tâm. Khác với thời kỳ Trung cổ luôn lấy đề tài tôn giáo để sáng tạo nghệ thuật.
Trong không khí của thời đại, hội họa thời Phục Hưng cũng hướng đến phát triển những nhận thức 13 về bản thân và thế giới xung quanh đồng thời hướng đến sự nghiên cứu thiên nhiên, lấy tự nhiên làm hình mẫu (chứ không phải lấy thần thánh làm hình mẫu) cho những tạo hình con người và sự vật. Hội họa phát triển cùng với sự thức tỉnh con người, khơi dậy nhu cầu tự khám phá thế giới và tri thức, khám phá những quy luật tự nhiên và bản thân con người. Hội họa cũng tái hiện lại không gian thành thị nơi mà giai cấp tư sản đang xác lập vị thế của mình. Xã hội đang thực hiện những bước chuyển mình từ Trung cổ sang thời đại Phục Hưng với cảm hứng ngợi ca ánh sáng và chân lý, khao khát nhận thức giá trị con người ngay trong đời sống thế tục.
Chủ thể của những tác phẩm hội họa không chỉ là những vị thần hay thế lực cầm quyền mà còn là những con người thị dân, nhỏ bé và rất đời thường trong một không gian chân thực và sáng rõ. Nếu trước đây, nghệ thuật gần như thuộc về nhà thờ, thì đến thời Phục Hưng, nghệ thuật đi đến gần với đời sống thị dân hơn. Các nghệ sĩ chú ý đến nghệ thuật tạo hình trong sáng tạo hơn là mục đích trang trí như nghệ thuật thời Trung cổ (thể hiện không gian hai chiều). Một trong những thành tựu quan trọng nhất của hội họa thời Phục Hưng chính là kỹ thuật vẽ phối cảnh.
Thành tựu này tạo hiệu quả đặc biệt về hình khối, bố cục, màu sắc, ánh sáng trong các họa phẩm thời Phục Hưng. Thường cũng với đề tài tôn giáo nhưng những nhân vật thần thánh trở nên hết sức chân thực, gần gũi, thể hiện cái đẹp, diễn tả cuộc sống, diễn tả con người, họ không vẽ theo công thức gò bó mà học hỏi cái đẹp từ thời Hy Lạp, La Mã, từ tự nhiên. Phát triển từ những hiểu biết của thời đại về các định lý toán học, đặc biệt là hình học, các nghệ sĩ ứng dụng kỹ thuật vẽ tranh không gian ba chiều, đặc biệt chú ý đến việc thể hiện chiều sâu, ánh sáng, hình khối, bố cục, màu sắc, tỉ lệ trong các họa phẩm của mình. Kỹ thuật phối cảnh này tạo nên một cách nhìn mới mẻ đầy lý tính về không gian trong các tác phẩm hội họa, cái người ta gọi là kiểu “không gian thấu thị”.
Cách nhìn này cũng thể hiện sự 14 hiện đại và tiến bộ của con người thời đại Phục Hưng đối với các vấn đề vũ trụ, thế giới cũng như đời sống con người. Khi ứng dụng kỹ thuật xây dựng không gian ba chiều trong hội họa, cùng với sự hỗ trợ của chất liệu sơn dầu mới, các họa sĩ có điều kiện để thể hiện ánh sáng hiệu quả hơn. Ánh sáng trong các họa phẩm được thể hiện một cách tập trung, sắc nét và cụ thể hơn. Nếu như trước kia yếu tố ánh sáng trong tác phẩm hội họa không được chú ý đến, không được thể hiện một cách tập trung thì lúc này, thì ánh sáng luôn được chiếu đến từ một hướng nhất định trong bức tranh.
Nhờ vậy, bố cục của bức tranh, sự liên kết giữa các nhân vật trong phối cảnh tác phẩm được thể hiện đồng bộ, hợp lý và chặt chẽ hơn. Những thành tựu mới mẻ về nghệ thuật xây dựng phối cảnh và sử dụng ánh sáng đã giúp cho các tác phẩm hội họa thời Phục Hưng đến gần với thế giới thực hơn, ngay cả ở trong các tác phẩm có đề tài tôn giáo hay thần thoại. Điều này có liên quan đến một trong những đặc trưng tiêu biểu của tinh thần nhân văn thời Phục Hưng. Tư tưởng then chốt của thời đại này đề cao những phẩm chất và ưu điểm của con người, phát triển nó để đạt được quy mô đầy đủ nhất.
Mỹ thuật thời kỳ này các hoạ sĩ đưa không gian thấu thị vào tranh và áp dụng những kỹ thuật vẽ như Chiaroscuro là kỹ thuật tương phản giữa sáng tối, Sfumato kỹ thuật vẽ tranh sáng tranh tối (làm mềm không gian phân biệt giữa sáng và tối),…”. Tác phẩm hội họa giai đoạn này cho thấy con người và thiên nhiên được diễn tả rất sâu về khối, y phục và bối cảnh, các qui luật về bố cục, màu sắc không gian, tỉ lệ, ánh sáng đến cách diễn tả đều đạt tới sự hoàn hảo. Các tác phẩm Phục Hưng mang tư tưởng nhân văn: ca ngợi chủ nghĩa anh hùng, sức mạnh con người. Tranh thời kì Phục Hưng là tranh của sự mẫu mực về tỉ lệ cơ thể người, hoàn chỉnh về bối cảnh, bố cục.
Có thể nói, hội hoạ thời Phục Hưng vẽ rất nhiều tranh khỏa thân, ngay cả trong tôn giáo, các thiên thần, thánh thần. và diễn tả chất vô cùng độc đáo với làn da mềm mại của 15 người phụ nữ và cơ bắp chắc khỏe của người đàn ông. đã làm cho hội họa thời kỳ này là một trong những thời kỳ đỉnh cao của nền hội hoạ, là bước ngoặt của nền mĩ thuật thế giới. Việc tìm ra chất liệu sơn dầu đã tạo một bước ngoặt lớn cho lịch sử nghệ thuật.
Sơn dầu là chất liệu lý tưởng để các họa sỹ thời kỳ này nghiên cứu và sáng tạo ra cho kỹ thuật hoàn hảo thể hiện trạng thái tốt nhất của hình thức, màu sắc, ánh sáng. Florentine là trung tâm của sự phát triển nghệ thuật thời kỳ này. Mỹ thuật thời kỳ này luôn song hành cùng khoa học và tạo được một cơ sở vững chắc cho sự phát triển. Nhưng nghệ thuật luôn có tiếng nói riêng và không thể theo logic tuyệt đối như khoa học trong cuốn Câu chuyện nghệ thuật có viết: Nghệ thuật hoàn toàn khác với khoa học.
Các phương tiện và dụng cụ kỹ thuật của nhà nghệ sĩ có thể được phát triển, nhưng khó có thể nói rằng nghệ thuật tự thân nó cũng phát triển theo kiểu khoa học. Một khám phá trên bình diện này sẽ tạo nên một khó khăn mới ở một bình diện nào đó. Trong thực tế, các nhân vật không tụ tập lại một cách hòa hợp, cũng chẳng nổi bật trên một khung tranh. Nói cách khác, có một mối nguy rằng cái sức mạnh mới của nhà họa sĩ sẽ phá hủy tài năng quý giá nhất của anh ta – cái khả năng tạo nên một tổng thể hài hòa và vừa ý.
Khó khăn này trở nên nghiêm trọng đặc biệt khi nhà nghệ sĩ phải đối phó với những bức tranh lớn ở bàn thờ và những công việc tương tự. Những bức họa này phải được nhìn từ xa và phải thích hợp với tổng thể kiến trúc của ngôi giáo đường [12, tr 196]. Người có công đầu tiên trong việc sáng tạo ra thuật vẽ phối cảnh là Fillipo Brunelleschi, ông là một kiến trúc sư lớn của Frorence. Brunelleschi đã giúp Masaccio áp dụng luật vẽ phối cảnh vào tác phẩm “The Trinity” (xem phụ lục H.
Bức tranh miều tả Đức chúa cha đứng phía trên cây thánh giá 16 mà chúa Jesu bị đóng đinh, bên dưới là Đức mẹ Maria, thánh John cùng với hai con chiên đang quỳ gối hai bên. Hình ảnh được tạo không gian nhờ vào hình ảnh hai cột Ionic đỡ vòm cuốn ở tiền cảnh. Bức ảnh mở đường cho phong trào nghiên cứu đưa luật phối cảnh vào tranh vẽ của các họa sỹ sau này. Sau này cách thức và những lý thuyết về cách vẽ phối cảnh của Brunelleschi đã được Leon Battista Alberti tiếp tục hoàn thiện cụ thể hóa thành những lý thuyết và cách thức dựng phối cảnh một cách chính xác.
Khá lâu sau họa sỹ Albrecht Durer đã sử dụng phương pháp lưới ô vuông để phân tích và hướng dẫn cách dựng phối cảnh. Sự ưu việt giúp cho nghệ thuật Phục Hưng trở thành nền nghệ thuật đỉnh cao của mọi thời đại chính là sự phát triển của nghiên cứu giải phẫu. Các họa sỹ Phục Hưng quan tâm đến khoa học giải phẫu đặc biệt là giải phẫu cơ thể người dựa trên hình mẫu của mỹ thuật Hi Lạp cổ đại. Nhưng hình mẫu con người ở thời kỳ Phục Hưng mang tính hiện thực gần gũi với với cuộc sống.
Và song song với nghệ thuật hoành tráng là sự xuất hiện của tranh giá vẽ manh mún cho các sự phát triển của thời kỳ nghệ thuật sau này. Hội họa Phục Hưng phát triển mạnh ở Italy, rồi sau đó đến Hà Lan, Đức, Pháp, Anh,… Các tài năng hội họa ra đời ở khắp châu Âu và để lại cả một kho tài khổng lồ của các họa phẩm giá trị. Đây là thời kỳ ghi dấu tên tuổi của các họa sỹ như Leonardo Da Vinci, Michenlangelo, Raphael, Titian, Jan Van Eyck, Sandro Botticelli, Correggio, Albrecht Durer, Holbein… là thời kỳ của sự hiện hữu thiên tài, có nhiều họa sỹ bậc thầy danh tiếng.