Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG ĐỂ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. Khái niệm điêu khắc tượng Phật 1. Khái niệm Điêu khắc Trong cuốn Từ điển Mỹ thuật phổ thông, khái niệm điêu khắc được xác định là: “ Nghệ thuật thực hiện những tác phẩm có không gian ba chiều (tượng tròn) hoặc hai chiều (chạm khắc, chạm nổi) bằng cách gọt, đẽo, gò, đắp, gắn… những khối vật liệu rắn chắc như gỗ, đá, kim loại… Điêu khắc còn là nghệ thuật nặn tượng hoặc tạc tượng bằng đôi tay khéo léo của người nghệ sĩ, đồng thời là nghệ thuật đúc tượng thông qua việc đổ khuôn (chất làm tượng được làm chảy ra, sau đó đổ vào khuôn, nó sẽ cứng chắc lại nhờ tự khô hoặc nung) ” [6, tr. Trong cuốn Từ điển Bách khoa Việt Nam thì điêu khắc là : “ Nghệ thuật tạc, nặn để làm hiện lên từ một khối nguyên liệu cứng (gỗ, đá, xương, ngà…) một mỹ cảm nhất định.
Nếu là nguyên liệu mềm, lỏng (các kim loại, chất dẻo, thạch cao…) thì điêu khắc được đổ khuôn lên bản mẫu bằng đất hay chất tổng hợp [7, tr.” Có thể nhận thấy, nhìn chung, điêu khắc là nghệ thuật không gian ba chiều, được sáng tác đặc biệt bằng cách tạo hình các chất liệu thành những vật thể tạo hình không gian ba chiều. Có các loại hình điêu khắc: Tượng tròn và Phù điêu. Trong đó Tượng tròn là danh từ để chỉ tác phẩm điêu khắc ba chiều. Bất cứ nhà điêu khắc nào khi dựng tượng tròn (thường gọi tắt là tượng) đều phải tính thấu đáo để người xem có thể nhìn toàn diện nội dung và hình thức tượng qua các góc độ khác nhau.
Tượng tròn có thể được đặt trong không gian nội thất hay ngoại thất, thậm chí có thể là một phức hợp quần thể kiến trúc - điêu khắc và được làm bằng các chất liệu như: đá, đồng, thạch cao, gỗ, thép không rỉ, đất nung, tổng hợp. Tùy theo nội dung và mối quan hệ với 10 không gian, tượng tròn được chia ra thành các thể loại như tượng có kích cỡ nhỏ, tượng trang trí, tượng triển lãm, tượng đài với các hình thức thức thể hiện là tượng chân dung, bán thân, toàn thân, cụm tượng, bố cục nhóm… Phù điêu (Relief – Pháp, có nguồn gốc từ tiếng La tinh Relevo: làm nổi lên) là loại điêu khắc được thể hiện trên mặt phẳng, có sự gắn kết khăng khít với mặt phẳng. Mặt phẳng đóng vai trò là nền tảng cơ bản và là phông nền của hình khối tạo hình trên nó. Cũng như nhiều đền đài và chùa miếu ở Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam và nhiều nước châu Á khác, các công trình kiến trúc Phật giáo Lào được nghệ thuật điêu khắc Phật giáo tô điểm làm tăng thêm các giá trị tinh thần.
Điêu khắc hướng tới các giá trị tinh thần, kiến trúc gắn với những giá trị thực dụng. Đôi khi công trình kiến trúc và tác phẩm điêu khắc hòa vào nhau không tách biệt. Từ phân tích nêu trên kết hợp với kiến trúc nghiên cứu và sáng tác điêu khắc, có thể xác định khái niệm “ Điêu khắc” như sau : “Điêu khắc là một trong ngành Mỹ thuật tạo hình tác phẩm điêu khắc được làm bằng các chất liệu như: đá , gỗ, đồng, vàng, bạc, đất nung. Điêu khắc có tiếng nói rêng của nó đó là hình khối, đường nét và màu sắc chất liệu.
Khái niệm điêu khắc tượng Phật Điêu khắc tượng Phật có 2 dạng chính là :Tượng tròn và Phù điêu. Nội dung xoay quanh chủ yếu về các hình tượng phù hợp với đạo giáo ( Phật giáo). Đối với tượng tròn là việc xây dựng các hình tướng Đức phật , các vị a la hán, .Những người được dân gian quan niệm là các vị có công với nhà Phật Và các hình tướng được xây dựng phù hợp với văn hóa , con người vùng miền. Để tăng tính gần gũi theo đúng quan điểm Phật giáo.
- Tượng tròn trong điêu khắc Phật giáo được dựa trên sự cách điệu về hình tướng , sác thái theo quan niệm về đạo Phật. Với 32 tướng tốt và 81 vẻ 11 đẹp. Vẻ đẹp của tượng phật là sự hiền hòa, dịu dàng, với đôi mắt hơi nhìn xuống. Các hình khối được đẩy căng tối đa, cộng thêm sự cách điệu vẻ đẹp theo quan niệm tôn giáo.
- Phù điêu trong điêu khắc Phật giáo thường diễn tả về các hoạt động dựa trên các tích cổ truyền lại. Các câu chuyện về Phật giáo. Thể hiện các hình tướng với tất cả vẻ đẹp theo quan điểm tôn giáo. Với tính cách điệu cao.
Khác với tượng tròn, phù điêu thể hiện không gian trên mặt phẳng. Và trong Bố cục phù điêu phật giáo, hình ảnh Đức Phật luôn đóng vai trò trung tâm. Điều này ảnh hưởng nhiều bởi tôn giáo, tín ngưỡng. Như vậy, điêu khắc tượng Phật là những tác phẩm điêu khắc tượng tròn thể hiện hình tượng đức Phật.
Đức Phật có nhiều hình tướng, ở nhiều kiếp khác nhau được thể hiện trong cuộc đời ngài. Ở mỗi một phần đời khác nhau ngài lại được thể hiện qua những hình tướng, tư thế khác nhau. Tùy vào đặc điểm thờ tự của các chùa mà hình tượng các vị Phật (thần chủ) lại được khắc họa khác nhau và tùy vào các giai đoạn phát triển, hưng thịnh của Phật giáo qua từng thời kỳ, thế kỷ khác nhau mà tạo hình tượng Phật có những điểm giống và khác nhau. Các pho tượng Phật ở chùa Lào có những đặc điểm riêng: khuôn mặt tròn với miệng mỉm cười, tai dài.
Tượng có nhiều dáng đứng, ngồi, nằm và được làm bằng nhiều chất liệu khác nhau như: kim loại (vàng, bạc, đồng.), đá, gỗ và đá quý. Trên đầu tượng có hình nụ sen (tiếng Lào gọi là Kệt). Đặc điểm tinh thần và hình dáng bên ngoài đều mang những nét đặc trưng của người dân Lào và rất sinh động. Lào có rất nhiều tượng Phật và tượng Phật có nhiều tuổi nhất, thiêng liêng nhất là tượng Phạ Bang ở chùa Xiêng Thoong, Luông Phra Bang.
Từ phân tích nêu trên kết hợp với kiến trúc nghiên cứu và sáng tác điêu khắc, có thể xác định khái niệm Điêu khắc như sau: “Điêu khắc tượng phật là nghệ thuật điêu khắc sử dụng ngôn ngữ hình khối, mảng, đường nét. để tạc , 12 tả về hình tượng đức Phật ” Tượng phật đầu tiên đã được tạo ra ở Ấn Độ do nghệ nhân G rếch (Grec) [28, tr. nghệ thuật điêu khắc tượng phật luôn gắn bó với kiến trúc chùa. Tượng phật có đặc điểm riêng biệt khác với tượng của Ai cập, Hi lạp, La mã.
tượng phật không phải là tượng chân dung tượng phật diễn tả trong nhiều tư thế khác nhau. Cách tạc tượng của nghệ nhân xưa là tạo ra theo những câu chuyện, diễn tả trong hình dáng mềm mại đẹp đẽ nhằm thể hiện lòng nhân ái, trí thông minh, tạo ra để giáo dân được tôn sùng và truyền đạo lời dạy của Ngài. Khái quát về Phật giáo thời kỳ Lạn Xạng 1.1 Khái quát về sự hình thành và tồn tại quốc gia Lạn Xạng Lịch sử dân tộc Lào ngày nay, mà trước kia là Vương quốc Lạn Xạng (Anajuk Lanxarng) có nhiều thăng trầm, sự thăng trầm đó có ảnh hưởng từ các nước lân bang của Lào. Ngay từ khi bắt đầu thành lập nên vương triều của mình nó cũng là sự mâu thuẫn, xung đột vũ trang để đi đến thống nhất quốc gia.
Sự ra đời của Vương quốc Lạn Xạng (Anajuk Lanxarng) là một quá trình chinh phục các tiểu quốc lân cận của một vị vua anh hùng đó là vua Phả Ngùm Mạ Ha Rạt (Phangum Maharath). Vào thế kỷ XI - XIII, trong các thung lũng của con sông Mê kông chảy qua miền bắc Lào đã hình thành nên những tiểu quốc như Mương Xinh (Mueang Sing) Mương Xay (Mueang Xay), Mương Hun (Mueang Houn) … Tại miền trung lưu sông Mê kông có một số tiểu quốc lớn hơn như Mươg Xoa (Mueang Xoua) , Mương Khăm Kớt, (Mueang Khamkerd) Bát Xắc… Đa số các tiểu quốc này đều bị lệ thuộc vào vương quốc Campuchia ở phía Nam, còn ở phía đông là Đại Việt và tình hình ở các nước láng giềng có ảnh hưởng không nhỏ đối với sự thống nhất của nước Lạn Xạng(Lanxarng) lúc bấy giờ. Vào khoảng cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV, Rama Khamheng (1280 – 1318) đã ra sức mở rộng biên giới của nước Su khố Thay (Sukhothai) và xây dụng đất nước thành một quốc gia hùng mạnh, cùng lúc này còn tồn tại một 13 đất nước khác tồn tại và phát triển đó là A Nhụt Thạ Nha (Ayutthaya) đây chính là quốc gia đối đầu với Su khố Thay (Sukhothai) sau đó thì A Nhụt Thạ Nha (Ayutthaya) đã chinh phục được Su khố Thay (Sukhothai) , đây chính là hai quốc gia phong kiến của Thái Lan được hình thành vào khoảng thế kỷ XIII và thế kỷ XIV. Suốt thế kỷ XIV, vương quốc A Nhụt Thạ Nha (Ayutthaya) đã thi hành chính sách ngoại giao phản động, bành trướng đánh chiếm và gây chiến tranh với nhiều quốc gia trong khu vực lúc bấy giờ như: bán đảo Mã Lai, rồi vương quốc Khơ Me (Campuchia), phía bắc xâm lược Su khố Thay (Sukhothai) và Lạn Na (Lanna) Miền bắc Thái Lan (Thailand) Thai bao gồm có 8 tỉnh như: Xiêng May (Xiengmai), Lăm Phun (Lamphoun), Lăm Pang (Lumpang), Xiêng Lai (Xienglai), Pha Nhau (Phayaow), Phé (Fea), Nạn (Nan), Mẹ Hoong Son (Maehongsone) Và một số tỉnh của Trung Quốc như: Sịp Soong Phăn Na (Sipsongpunnalue) và Xiêng Hùng (Xienghoung).
Cũng vào cuối thế kỷ XIII thì Mông Cổ xâm lược vương quốc Pagan, sự thất bại của Pagan trước quân Mông Cổ đã làm cho Pa gan đi vào thời kỳ chia cắt lãnh thổ kéo dài gần ba thế kỷ. Đất nước phân ra thành nhiều tiểu quốc đối địch nhau. Tóm lại, tình hình chung của các nước xung quanh Lạn Xạng không yên ổn, đi Su khố Thay (Sukhothai) đến giải thể, Khơ Me suy yếu, Pa gan bị chia cắt, A Nhụt Thạ Nha (Ayutthaya) lao vào các cuộc chiến tranh liên miên, nhưng đây cũng lại là điều kiện khách quan thuận lợi, mở đường cho sự ra đời nhà nước thống nhất độc lập của Vương quốc Lạn Xạng. Năm 1353, sau những ngày tháng lãnh đạo nhân dân Lạn Xạng chiến đấu anh dũng thì vua Phả Ngùm Mạ Ha Rạt (Phangum Maharath) thống nhất đất nước.
vua Phả Ngùm Mạ Ha Rạt (Phangum Maharath) lên ngôi vua ở Xiêng Đông Xiêng Thoong (Xiêng Đông Xiêng Thoong nay là (Luang Pra bang). Đây là kết quả của một quá trình đấu tranh quyết liệt để chống lại tình trạng phân chia đất nước và sự lệ thuộc ngoại bang.