phần Mở đầu (12 trang); Kết luận (8 trang); Tài liệu tham khảo (7 trang); Giải thích thuật ngữ (3 trang); Phụ lục (51 trang); luận án đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu của luận án (45 trang). Chƣơng 2: Sự vận dụng Mỹ thuật truyền thống trong Thiết kế đồ họa Việt Nam đƣơng đại (35 trang). Chƣơng 3: Những nhận thức, bàn luận rút ra từ kết quả nghiên cứu (43 trang). 16 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 1.
Cơ sở lý thuyết, lý luận về Thiết kế đồ họa 1. Giới thuyết khái niệm Thiết kế đồ họa và một số thuật ngữ liên quan 1. Khái niệm Thiết kế đồ họa Ngay từ thời kỳ cổ đại đã xuất hiện những bản vẽ thiết kế mang tính đồ họa. Những bản vẽ của ngƣời Ai Cập cổ đại đã đƣợc tìm thấy trên một số tấm đá khắc trong các Kim Tự Tháp.
Ở phƣơng Đông, trƣớc khi xây một ngôi đền, chùa… những ngƣời thợ cũng phải thiết kế các phần kiến trúc lên giấy/vải. Thiết kế chính là bản phác thảo trên mặt phẳng để hình dung ra công trình, đồ vật sau này nhƣ thế nào. Tất cả các thiết kế, do đó, tự thân nó mang tính đồ họa sâu sắc. Tuy nhiên, trên thế giới, khái niệm Thiết kế đồ họa/Graphic design mới chỉ có trong khoảng một thế kỷ trở lại đây và chính thức đƣợc xác định nhƣ một hoạt động nghề nghiệp độc lập.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “thiết kế” có nghĩa là làm đồ án, xây dựng một bản vẽ với mọi tính toán cần thiết để theo đó sản xuất ra sản phẩm [95, tr.1508], “đồ họa” là nghệ thuật tạo hình lấy nét vẽ, nét khắc hoặc mảng, hình tách bạch làm ngôn ngữ chính [95, tr. Theo từ điển Anh - Việt, “design” là kiến tạo, sáng tạo, là những gì liên kết sự sáng tạo và đổi mới. Nó định hình các ý tƣởng để trở thành những đề xuất thực tiễn và hấp dẫn ngƣời dùng, “graphic” là: in khắc, ấn loát và nhân bản. Năm 1981, khi sang Việt Nam trao đổi học thuật với các giảng viên trƣờng ĐH Mỹ thuật công nghiệp Hà Nội, Phó tiến sĩ nghệ thuật ngƣời Nga E.
V Chernevit đã đề cập đến khái niệm Thiết kế đồ họa nhƣ sau: Design đồ họa là một hoạt động thiết kế mỹ thuật sáng tác ra bản gốc để nhân lên hàng loạt bằng bất kỳ phƣơng tiện truyền thông thị giác nào (ấn loát, điện ảnh, vô tuyến truyền hình). Nhiệm vụ của thiết kế đồ họa là trình bày trực quan các thông báo, sự kiện, giá trị, tƣ tƣởng, và các chỉ thị 17 thuộc bất cứ loại nào, nhƣ các ấn phẩm (sách báo, tạp chí, biểu ngữ, nhãn mác, bao bì.); đồ họa tạo hình và tem nhãn trên máy móc, đồ dùng; đồ họa cho vô tuyến truyền truyền hình và điện ảnh; các đối tƣợng của tri giác đại chúng (giải pháp đồ họa các triển lãm, gian hàng, ký hiệu đƣờng sá.), tức là tất cả những gì thực hiện mối liên hệ thị giác giữa ngƣời với ngƣời, giữa ngƣời với đồ vật [27, tr. Theo nhà nghiên cứu mỹ thuật Nguyễn Ngọc Dũng, khái niệm Thiết kế đồ họa đã đƣợc công nhận từ năm 1964 tại Đại hội các tổ chức design đồ họa thế giới: Thiết kế đồ họa là một hoạt động nghiệp vụ phức tạp bao gồm các phƣơng tiện nghệ thuật và thiết kế mà trƣớc đây mang tính chất riêng lẻ của các họa sĩ trình bày sách, tranh cổ động và đồ họa công nghiệp. Tính chất và hoạt động của nó cũng nhƣ mỹ thuật công nghiệp, là thiết kế mỹ thuật cho các sản phẩm công nghiệp để thiết lập môi trƣờng sống thẩm mỹ.
Tính chất design của đồ họa đem lại những hình dáng (hình dáng mang màu sắc, màu sắc mang hình dáng) cho một môi trƣờng bao gồm những tín hiệu thông báo [18,tr. Năm 2011, Lê Huy Văn và Trần Văn Bình đã đƣa ra khái niệm: Design đồ họa (graphic design) bao gồm tất cả các lĩnh vực giao tiếp và thông tin (Communication). Quảng cáo, bao bì sản phẩm, brochure, catalogue, trang trí trƣng bày cửa hàng, đồ họa ấn phẩm văn phòng cho các hãng. nói tóm lại, đó là công việc trang trí vẽ trên bề mặt.
Ngày nay, khi phƣơng tiện truyền thông chủ yếu dựa vào hệ thống nghe nhìn, trên màn hình vô tuyến, vi tính. thì các designer đồ họa cũng phải ngồi bên máy tính và sáng tạo trong trƣờng 2D và 3D, tĩnh và động, tạo ra những sản phẩm mỹ thuật ứng dụng mới hiệu quả hơn nhiều so với các hình thức đồ họa ấn phẩm, đồ họa marketing, quảng cáo truyền thống [85, tr.12-13] 18 Trên thực tế và trong cách đề cập của luận án, khái niệm Thiết kế đồ họa không cố định mà luôn đƣợc thay đổi trong tiến trình phát triển bởi chính phƣơng thức sản xuất, cách tiêu dùng và sự tƣởng tƣợng đến tƣơng lai. Ở giai đoạn đầu (thập niên 80 của thế kỷ XX trở về trƣớc), Thiết kế đồ họa xuất hiện, phát triển và phổ cập bởi khả năng đa bản của công nghệ ấn loát, với nhiều thể loại nhƣ: áp phích, tranh cổ động chính trị, tranh minh họa, trình bày sách báo, ấn phẩm văn hóa, hệ thống ký hiệu, biểu trƣng, biểu tƣợng, thiết kế quảng cáo sản phẩm và thƣơng hiệu (logo, biển bảng, bao bì, tem nhãn…). Thiết kế đồ họa/graphic design đƣợc hiểu là một trong những chuyên ngành của design, nhằm đƣa cái đẹp phổ cập vào hầu hết những sản phẩm, hàng hóa tiêu dùng phục vụ mọi nhu cầu da dạng của con ngƣời.
Trong đó danh từ “thiết kế” để chỉ những bản vẽ đƣợc hiển thị trên một mặt phẳng (đa chất liệu), và động từ “thiết kế” bao hàm ý nghĩa kiến thiết, sáng tạo. Sau thập niên 80 của thế kỷ XX, Thiết kế Đồ họa đã vƣợt ra ngoài phạm vi vốn có, không chỉ bó hẹp ở lĩnh vực ấn loát, trang trí bề mặt, làm đẹp cho sản phẩm công nghiệp, mà ngày càng đƣợc mở rộng vai trò truyền thông hình ảnh. Những giải pháp sáng tạo của các họa sĩ thiết kế đồ họa hiện đại đƣợc thực hiện không bị giới hạn bởi bất cứ phƣơng tiện truyền thông thị giác nào (phim ảnh, vô tuyến truyền hình, các giao diện điện tử…). Thiết kế đồ họa hiện nay đƣợc hiểu theo nghĩa: là việc lập kế hoạch cho một quy trình, đƣa ra ý tƣởng, phƣơng pháp, giải pháp sáng tạo cho vấn đề truyền thông thị giác, thông qua việc sử dụng văn bản, tổ chức không gian, hình ảnh, màu sắc.
Nó bao gồm tổng hợp cả quá trình thiết kế, mà sau quá trình đó, các sản phẩm thiết kế và thông tin liên lạc đƣợc tạo ra. Luận án giới hạn khái niệm thuật ngữ này ở mảng thiết kế đồ họa in ấn, bao bì, quảng cáo trên mặt phẳng theo cách hiểu đúng về tên gọi của nó (dịch theo tiếng Anh) và theo thói quen sử dụng cụm danh từ này ở Việt Nam. Tuy nhiên, ở trên thế giới, do công nghệ thông tin, truyền thông hiện đại ngày càng đƣợc mở rộng, danh từ “Thiết kế đồ họa” trở nên hạn hẹp với chính khái niệm và chức năng của nó. Ngƣời ta tìm đến một tên gọi mới, sát nghĩa hơn cụm 19 từnày: Thiết kế truyền thông thị giác (Visual Communication design).
Nhƣng rồi, sự truyền thông này còn có thêm cả âm thanh, không chỉ là thị giác, cho nên chữ “thị giác” (visual) đƣợc lƣợc đi, gọi ngắn hơn là Thiết kế truyền thông (Communication design). Lĩnh vực thiết kế đồ họa trên thế giới ngày nay có thể coi là một tập hợp con của truyền thông hình ảnh và thiết kế truyền thông. Nhƣng đôi khi, hai thuật ngữ này đƣợc sử dụng thay thế cho thiết kế đồ họa, bởi chức năng và kỹ năng có sự liên quan chồng chéo nhau, hoặc đôi khi, lại đƣợc tách bạch ra làm ba công việc khác nhau, nhƣng cùng thực hiện nhiệm vụ truyền thông. Ngƣời ta cho rằng, Thiết kế truyền thông là cách gọi khác của Thiết kế đồ họa.
Ở nhiều trƣờng đại học trên thế giới hiện nay, ngƣời ta đã sử dụng tên chuyên ngành đào tạo là Communication design thay thế cho Graphic design. Một số khái niệm thuật ngữ liên quan * Các thể loại của thiết kế đồ họa Thiết kế đồ họa hiện nay đƣợc chia nhỏ thành nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau, song tựu chung lại, có thể chia làm ba mảng chính, gồm: - Thiết kế Ấn loát (sách, báo, lịch, tem thƣ…) - Thiết kế Bao bì (các loại bao bì, tem nhãn sản phẩm hàng hóa…) - Thiết kế Quảng cáo (Tạp chí/magazin, catalogue, porter, biển bảng/bill board, quảng cáo truyền hình, quảng cáo mạng/ internet, website…) * Các yếu tố thiết kế đồ họa Một họa sĩ thiết kế đồ họa (graphic designer) có thể sử dụng kết hợp các yếu tố: a- Chữ (cách điệu, sáng tạo, chọn lựa kiểu chữ, bố trí, sắp xếp chữ, văn bản, trang…) để sản xuất ra một kết quả cuối cùng; b- Hình ảnh và các yếu tố đồ họa khác (điểm, nét, hình khối, màu sắc, chất liệu…) có thể đƣợc tạo ra bằng mọi công cụ và phƣơng tiện, để cho ra sản phẩm sáng tạo mang ý tƣởng và những thông điệp. * Nguyên tắc thiết kế đồ họa Thiết kế đồ họa tuân thủ các nguyên tắc chung của mọi loại hình nghệ thuật thị giác, trên cơ sở vận dụng các nguyên lý, quy luật thị giác của con ngƣời nhƣ: cân 20 bằng, nhịp điệu, tƣơng phản, tỷ lệ, điểm nhấn, trình tự, tính thống nhất, âm - dƣơng, động - tĩnh… * Quy trình thiết kế đồ họa Quy trình thiết kế sẽ bắt đầu từ ý tƣởng thiết kế, bản vẽ đồ họa thiết kế, lập trình hai chiều, ba chiều trên máy tính, đƣa ra sản phẩm mẫu sản xuất thử. Sau bốn bƣớc này mới chuyển sang giai đoạn sản xuất hay không.
Tất cả quy trình thiết kế đều hƣớng đến việc đạt đƣợc mục tiêu, mục đích cụ thể cho trƣớc. Mục đích này có thể tập trung đến tính công năng hơn, hoặc tính thẩm mỹ hơn, nhƣng thƣờng là cả hai, tùy từng yêu cầu của sản phẩm cụ thể. Chẳng hạn, thiết kế hệ thống ký hiệu, tín hiệu giao thông, thì tính công năng (dễ nhìn, dễ hiểu, dễ nhận biết…) đƣợc đề cao, còn thiết kế bao bì một sản phẩm hàng hóa, thì hình thức, vẻ bên ngoài, đƣợc chú trọng hơn. Vấn đề thẩm mỹ và biểu đạt có thể tham dự một phần trong quy trình thiết kế, song nó không thể hiện năng lực thiết kế, cũng không phải là phần quan trọng nhất của quy trình đó trong một số trƣờng hợp.
* Về tính truyền thống và tính hiện đại của sản phẩm thiết kế đồ họa Truyền thống với đƣơng đại có mối quan hệ hữu cơ.