MỞ ĐẦU ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA MĨ HỌC 1. TRÌNH XÁC ĐỊNH ĐỐI TƯỢNG CỦA MĨ HỌC TRONG LỊCH SỬ Những tư tưởng của mĩ học đã manh nha từ thời cổ đại qua ý kiến của Pythagore (580 - 500 TCN), Héraclite (530 - 470 TCN), của Soerates (469 - 399 TCN), cia Platon (427 - 347 TCN), cua Aristotle (384- 322 TCN). vé cái đẹp, về hoạt động thẩm mĩ của con người. Nhưng chỉ đến giai đoạn Marx - Lenin, mĩ học mới thực sự trở thành một khoa học, có cơ sở triết học đúng đến cách mạng nhất, tiêu biểu cho tư tưởng tiên tiến của thời đại.
Từ thời xa xưa đến thế kỉ XVIII, mi hoc vẫn chưa trở thành một khoa học độc lập. Nghĩa là, nó chỉ được quan niệm là một bộ phận của triết học, là việc "lam thêm" của triết học, Vị trí của mĩ học vì thế chưa được coi trọng đúng mức. Cố thể nói mĩ hợc với tư cách là một khoa học hình thành khá muộn so với một số các khoa học khác. Thuật ngữ "mĩ hoc" (esthétique trong tiéng Pháp, 2cmemuka, trong tiếng Nga) bắt nguồn từ một chữ Hy Lạp cổ aisthetikos' có nghĩa là giácquan, cảm giác, tình cảm.
Trong lịch sử tư tưởng 'mĩ học của nhần loại, người đầu tiên sử dụng thuật ngữ này là Á. Baumgarten(1714- 1762)- một nhà mĩ học duy tâm người Đức. Vào nắm 178, trong bài Những suy xét vé triết học có quan hệ tới uiệc xây dựng thơ ca, ông đề xuất khái niệm mĩ học. Trong khoảng tám năm từ 1750 đến 1758, Baumgarten cho xuất bản cuốn sách gồm 2 tập (tập I năm 1750, tập II năm 1758) lấy tên là MĨ HỌC.
Từ đó về sau, thuật ngữ mĩ học ngày càng 5 được sử dụng rộng rãi nhưng mỗi người sử dụng nó theo một quan niệm riêng, khác nhau. Với Baumgarten, thuật ngữ mũ học gắn liển với một trong những hoạt động nhận thức của con người. Baumgarten chia hoạt động nhận thức của con người thành hai loại : hoạt động nhận thức bậc thấp (sự lĩnh hội cái đẹp) và hoạt động nhận thúc bậc cao (sự hướng tới chân lí trong khoa học). Ứng với hai loại nhận thức nói trên là hai khoa học : mĩ học và lôgíc học.
Baumgarten đối lập lôgic học với mĩ học. Theo ông, lôgic học nghiên cứu quy luật của nhận thức lí tính, dựa vào tư duy và dạy cho con người cách thức nghiên cứu quy luật của nhận thức lí tính, dựa vào tư duy và dạy cho con người cách thức nắm bắt chân lí. Ngược lại, mĩ học nghiên cứu quy luật của nhận thức cảm tính, giúp chúng ta nắm được cái đẹp. Ông để xuất định nghĩa : "Mĩ học là khoa học về cái đẹp”.
Baumgarten giới hạn lĩnh vực của cái đẹp là hướng tới tự nhiên. Ông loại trừ nghệ thuật và quy luật của nghệ thuật ra khỏi mĩ học. Nghệ thuật theo Baumgarten nằm ngoài phạm vi chú ý của mĩ học, nằm ngoài đối tượng nghiên cứu của mĩ học. Như vậy, đóng góp của Baumgarten là đưa lại một thuật ngữ khoa học ngày càng được sử dụng rộng rãi.
Baumgarten đã chính thức khai sinh tên gọi mĩ học. Nhưng ông đã không đúng khi đối lập hai loại nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính, đối lập yếu tế cảm xúc và yếu tế đuy l, đối lập tư duy hình tượng và tư duy lô gich cho rằng tư duy bằng hình tượng thấp hơn tư duy bằng khái niệm. Mĩ học nhận thức thế giới bằng cảm tính, còn nhận thức thế giới bằng lí tính là nhiệm vụ của các khoa học khác. Ông đem đối lập cái đẹp với chân lí giới hạn đối tượng tìm hiểu của mĩ học trong một phạm vi quá hẹp bằng phạm vì cái đẹp.
Sau Baumgarten các nhà khoa học đã có những quan niệm khác nhau về mĩ học. Cho dù đối tượng nghiên cứu của khoa học này 6 được nhìn nhận trên những phạm vỉ rộng, hẹp khác nhau nhưng bao giờ nó cũng liên quan tới cái đẹp. Vào thế kỉ XIX, E.Kant (1724 - 1804) nhà triết học cổ điển Đức quan niệm đối tượng của mĩ học là lĩnh vực của “thị hiếu thẩm mĩ" hoặc lĩnh vực của "sự phán đoán về thị hiếu thẩm mĩ". Ông quan tâm nghiên cứu phạm trù cái đẹp và cái cao cả.
Cái đẹp, theo đánh giá của Kant, mang lại khoái cảm và thoa man những đồi hỗi tinh thần có tính chất chủ quan của con người. Nhưng nhà Mĩ học này đã phủ nhận tính khách quan của các quy luật thẩm mĩ. Ông tách cái thẩm mĩ ra khôi các lĩnh vực liên quan (đạo đức, khoa học, chính trị và các lĩnh vực thực tiễn xã hội)và gan cho nó màu. sắc của cái tôi vốn hết sức chủ quan.
Ông nói: "Cái đẹp không phải ở đôi má hồng của người thiếu nữ mà ở đôi mắt của kê sỉ tình". Theo Kant, cái đẹp là cái làm cho ta vui thích mà không phải thông qua một khái niệm nào cả. Cùng thời với Kant, cũng một nhà triết học cổ điển Đức tên là Hegel (1770 - 1831) khẳng định đối tượng của mĩ học là cái đẹp. Nhung cái đẹp trong quan niệm của Hegel chủ yếu được nhìn nhận ở nghệ thuật.
Hegel không phủ nhận cái đẹp trong cuộc sống nhưng ông xem thường nó, cho nó là không đầy đủ. Hêghen khẳng định : "Cái đẹp trong nghệ thuật cao hơn cái đẹp trong tự nhiên"9), "Đối tượng của mĩ học là vương quốc rộng lớn của cái đẹp., và nếu dùng cách điễn đạt thích hợp nhất với khoa học này, thì đó là triết học về nghệ thuật, hay cụ thể hơn, triết học về cái mĩ thuật” @), Ông lí giải : "Nhưng định nghĩa ấy, khi loại bỗ cái đẹp trong tự nhiên ra khôi khoa học về cái đẹp, liệu có thể coi là tùy tiện không? Đúng là mọi khoa học đều có quyển định ra cho mình một phạm vỉ sự giới hạn của mĩ học ấy theo tùy ý, nhưng chúng ta có thể hiểu một hướng khác. Trong đời sống hàng ngày, người ta có thói quen (D), (2) Georg Wiheelm Friedrich Hegel. Mi hoc, Nhitng van bản chọn lọc, Nxb.
Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1996, tr. đẹp, nói tới những màu sắc đẹp, một bầu trời đẹp, một dong thác rồi những bông hoa đẹp, những con vật đẹp và cả những con người đẹp đẹp nữa. ở đây chúng tôi không để cập tới vấn để: phẩm chất và nói được gán cho những đối tượng ấy là chính đáng tới mức nào, chung, liệu cái đẹp tự nhiên có thể đặt song song với cái đẹp nghệ nghệ thuật không, Nhưng ngay bây giờ, đã có thể cho rằng, cái đẹp thuật cao hơn cái đẹp tự nhiên"), Giải thích nguyên, nhân nói trên, Hegel cho rằng: "Cái đẹp nghệ thuật là cái đẹp nảy sinh và của nó hai lần nảy sinh từ tỉnh thần. Tinh thần và những sáng tạo càng cao hơn tự nhiên bao nhiêu, thì cái đẹp nghệ thuật càng cao hon cái đẹp tự nhiên bấy nhiêu" € Điều đó góp phần giải thích tại nhiên, sao nhà triết học cổ điển Đức loại trừ cái đẹp trong thiên ngay từ đầu ra khôi phạm vi bộ môn mĩ học.
Quan niệm của Hegel dược nhiều nhà mĩ học hiện đại hưởng ứng. Hướng tới cái đẹp trong nghệ thuật hơn là cái đẹp trong tự đặc nhiên, nhiều nhà mĩ học thế kỉ XX đã cố gắng tập hợp những ra tỉnh điểm thung của các khuynh hướng nghệ thuật nhằm rút hoa của những khuynh hướng ấy. Các nhà mĩ học duy vật trước Marz, tiêu biểu là các nhà Dân chủ-cách mạng Nga thế kỉ XI với Bielinski (1811 - 1848), Tsernushevski (1828- 1889). giải quyết vấn để đối tượng của mĩ định học theo một hướng khác.
Họ không ngần ngại khi khẳng với rằng đối tượng của mỹ học là. "quan hệ thẩm mĩ của con người chứ hiện thực": Trong khi vẫn thừa nhận cái đẹp là đối tượng đáng cái ý của mĩ học, các nhà mĩ học dân chủ cách mạng Nga nhìn thấy vào đẹp có nguồn gốc trong đời sống khách quan, không phụ thuộc thừa ý muốn chủ quan của con người. Bielinski, Tsernushevski nhận "cái đẹp là cuộc sống”. Gái đẹp trong nghệ thuật là sự phản những ánh cái đẹp trong cuộc sống, các phạm trù mĩ học phan ánh (1, (3) Georg Wiheelm Friedrich Hegel.
Mi hoe, Những uăn bán chọn lọc, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1996, tr. 8 hiện tượng trong phẩm chất khách quan, vốn có của những sự vật, thế giới hiện thực. gắn bé với nhau và lúc Ra rang, cdi đẹp và nghệ thuật luôn luôn mĩ học, là nào cũng được xem là những vấn để trung tâm của Nhưng cái đẹp những hiện tượng nổi bật của đời sống thẩm mĩ.
của đời sống cũng như nghệ thuật cũng chỉ là một phương điện đẹp, mĩ học là thẩm mĩ. Vì vậy, khi nói đối tượng của mĩ học là cái dễ hiểu nhưng chưa khoa học nghiên cứu cái đẹp thì gọn gàng, phạm vì nghiên cứu mà toàn diện, chưa đầy đủ, chua bao quát hết vươn ra nghiên cứu các mi hoc quan tâm. Ngoài cái dep, mi hoc con cái bị, cái hài, nghiên cứu hiện tượng thẩm mĩ khác như cái cao cả, tượng thẩm mĩ khách việc con người cảm thụ và sáng tạo các hiện khẳng định rằng "MI học quan trong đời sống. Cũng như vậy, khí giá đúng vị trí then chết là triết học về nghệ thuật" thì tuy đã đánh nhưng lại không tránh của nghệ thuật trong đối tượng của mĩ học cứu của khoa học này khöi sự phiến diện, giới hạn lĩnh vực nghiên hiểu nghệ thuật, mĩ học vào một phạm vi quá hẹp.
Không chỉ tìm nguồn của nghệ còn hướng sự quan tâm tới đời sống thẩm mĩ cội thuật. lưu hành hai Tóm lại, trong lịch sử tư tưởng mĩ học đã từng nghiên cứu cái dep", là quan niệm. phổ biến : mĩ học là “khoa học lộ tính hạn chế "triết học về nghệ thuật". Cả hai ngày càng bộc học này.
trong việc nhìn nhận đối tượng nghiên cứu. của khoa HIỆN ĐẠI II. ĐỐI TƯỢNG CỦA MĨ HỌC THEO QUAN ĐIỂM mặt, cả mặt Con người có khổ năng đồng hóa thế giới trên. nhiều theo nhiều quy vật chất lẫn tỉnh thần.
Con người đồng hóa thế giới Marx từng phân. luật khác nhau trong đó có quy luật của cái đẹp. và hoạt động của con biệt sự khác biệt giữa hoạt động của con vật người ở chỗ: tổ, chỗ ở cho nó , “Súc vật cố nhiên cũng sản xuất. Nó xây dựng vật chỉ sản xuất cái như con ong, con hải lì, con kiến.