mở đầu cho việc nhận diện chất liệu sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí, bởi những quy trình về kỹ thuật sơn đem lại những thủ thuật, thủ pháp biểu hiện 17 trên các đồ vật, cấu kiện gỗ, ván tường hay cột trụ. tạo thành những đồ sơn có giá trị thẩm mỹ nhất định. Sơn truyền thống khá phức tạp về mặt kỹ thuật, nên những thuật ngữ và khái niệm mang tính nghề nghiệp đặc thù. Chúng có liên quan trực tiếp đến quy trình sơn truyền thống, sơn cổ truyền, son thếp, sơn quang bóng và nền cốt gỗ (vóc), hom bó, sơn son thếp bạc hay vàng, mài phẳng, khắc nét, lớp màu, chồng các lớp hom, lớp thí sơn.
Sơn ta, sơn chín rất cần thiết đối với DTCĐH nên NCS hệ thống một số thuật ngữ thường dùng trong quá trình thao tác của nghề sơn truyền thống ở DTCĐH cụ thể như sau: - Cốt gỗ là nguyên liệu chính trong việc tạo tác thành nền mộc như các kiểu thức trang trí, những cấu kiện, hàng cột, ô hộc, ván tường, cơi trầu, án thờ, khánh thờ và kiệu võng. - Phất vải (phủ vải) trên nền gỗ của các sản phẩm, mục đích tránh sự co giản và tạo nền bám vững chắc cho lớp bó sơn, hom sơn. - Bó sơn là trát lên nền mặt gỗ có phủ vải hoặc không phủ vải một lớp sơn gồm sơn sống trộn với đất phù sa và mạt cưa. - Hom là công đoạn sử dụng sơn sống trộn với đất phù sa để hom lên những đồ sơn như câu đối, án thờ, khánh thờ, kiệu võng, long sàng.
để nơi mát mẻ và tránh ở vị trí khô nóng làm rạn nứt mặt hom. - Lót sơn là lót lên mặt hom nhiều lớp sơn sống làm nền. - Mài sơn là mài các lớp sơn (mài bó, hom, lót sơn, thí sơn) cho phẳng phiu bằng đá mài hoặc giấy ráp (giấy nhám). - Thí sơn cũng như chồng lớp sơn, lớp màu lên trên nền vóc hoặc trên các họa tiết trang trí.
Hòa trộn màu son (đỏ) với sơn chín tô phủ lên bề mặt các kiểu thức, đồ sơn, hàng cột. - Vóc sơn có nghĩa là cốt gỗ được xử lý qua các công đoạn từ bó sơn đến thí son gọi là vóc. 18 - Sơn cầm, tô quét mỏng một lớp sơn cầm trên nền vóc có họa tiết để dát (thếp) vàng hay bạc lá. - Sơn thếp, thếp (dát) vàng bạc chính là sử dụng kim loại quý của nghề kim hoàn được người thợ dát mỏng.
Chúng được thếp lên các họa tiết trang trí hoặc đường viền, đường diềm của họa tiết trong và ngoài ô hộc. - Sơn quang (dầu) là nước sơn được phủ nhiều lần lên các cấu kiện gỗ có hoặc không có kiểu thức trang trí. Chúng tạo sản phẩm có độ bóng như công trình kiến trúc cung Diên Thọ và điện Long An. - Sơn phủ hoàng kim, loại sơn phủ trên bề mặt của vàng, bạc lá và trên nền màu son (đỏ).
- Sơn sống là một loại mủ sơn được chiết xuất từ cây sơn Phú Thọ - Sơn cánh gián (sơn chín) được khuấy chín bởi sơn sống loại tốt (sơn giọi nhất) với nhựa thông để trộn với màu son (đỏ) tô phủ mặt nền và họa tiết trang trí trong QTDTCĐH. - Sơn then được tinh chế từ sơn sống trộn với bột sắt, tô phủ lên mảng tường, cột kèo có các họa tiết trang trí. - Sơn son thếp vàng có nghĩa kết hợp hai công đoạn sơn son nền và dát vàng hoặc bạc lá phủ hoàng kim. - Sơn ta (sơn mỹ nghệ, sơn cổ truyền, sơn truyền thống) chính là sơn sống, những cụm từ đó được sử dụng chung trong nghề sơn.
- Sơn hạt điều, sơn Nhật được tinh luyện theo công nghệ hiện đại, ưu điểm nhanh khô, không bị lở loét da thịt người của thợ sơn; nhược điểm nhanh chóng bong tróc thành từng mảng, vì vậy trong DTCĐH không nên sử dụng hai loại sơn này. - Sơn mật dầu là lớp mật loãng, có màu nâu sẫm, nổi trên mặt sơn, rất khó khô và có khi không khô, công dụng pha chế và che chở các lớp sơn bên dưới như sơn giọi nhất, nhì, thịt. 19 - Dầu đồng là một loại dầu có sắc đỏ, như dầu nhựa thông. - Ngân châu có nghĩa là chất thuốc màu sắc đỏ, lấy lưu hoàng và thủy ngân chế thành, được hiểu như màu son (đỏ) ngày nay.
- Thổ phấn châu, trong Hán Việt dịch thuật chữ thổ có nghĩa là đất (đất thó), còn từ phấn như phàm vật gì tán nhỏ gọi là phấn, châu là sắc đỏ. Được hiểu là đất mịn có màu nâu đỏ (bột chu) để trộn với sơn sống và hom bó. - Phấn châu, Phấn có nghĩa là vật nghiền ra rất nhỏ gọi là phấn và châu là sắc đỏ. - Khắc nét là dùng các loại đục bạt, vũm, tách có nhiều kích cỡ, sử dụng linh hoạt trong khắc chạm nông sâu họa tiết trang trí.
- Vẽ nét chính là sử dụng bút lông có kích cỡ nhỏ, người thợ vẽ nét theo mẫu lên nền sơn son hoặc nền gỗ bằng chất liệu sơn then, sơn cầm; cụ thể từng chi tiết của họa tiết để sơn son thếp vàng, còn đối với vẽ nét chạm khắc sử dụng bút chì để vẽ nét thành họa tiết. Sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí thời Nguyễn 1. Khái quát về chất liệu sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí di tích cố đô Huế Thời Nguyễn tinh tế chọn Huế làm thủ phủ (1802-1945), kế thừa và phát triển mạnh mẽ những tinh hoa của các thời kỳ trước đó, nhất là thời Lý. So sánh với kiến trúc di tích của cả nước thì tuổi đời mỹ thuật cung đình thời Nguyễn còn non trẻ, chỉ có 143 năm hình thành xây dựng kinh thành, nhưng cũng vừa đủ để góp thêm tiếng nói của các chất liệu khác mà trong đó chất liệu sơn truyền thống và nghệ thuật trang trí nổi bật nhất.
Sơn truyền thống đóng vai trò chủ đạo trong kiến trúc DTCĐH, bởi giá trị nhân văn của nó biểu hiện rõ nét trên các kiểu thức trang trí. Chúng vẫn còn gắn bó với các nhân chứng sống đó là “các kiểu thức trang trí” và “chất liệu sơn truyền thống ” được định hình cụ thể trong QTDTCĐH ngày nay. 20 Thuận Hóa (Huế) là nơi hội tụ các bậc tài năng, trí tuệ của cả nước. Cùng với kiến trúc, điêu khắc, sơn cổ truyền hiện hữu khắp nơi, từ cung điện, đền miếu, đền đài lăng tẩm của vua chúa cho đến các đình, chùa, nhà thờ họ đều được sơn son thếp vàng lộng lẫy.
Các vật dụng sinh hoạt từ trong cung đình cho đến dân gian như các gia đình quyền quý với những đồ sơn quen thuộc như hoành phi, câu đối, đáp, hộp, kiệu võng, án thư, sạp tủ đều được sơn cổ truyền tô điểm trang trọng, uy nghi. Sơn cổ truyền Huế được sinh hoạt theo từng cụm gia đình, họ hàng theo kiểu cha truyền con nối như một số ngành nghề thủ công khác. Có thể nói cái nôi của nghề sơn truyền thống Huế tập trung ở các làng như Địa Linh, Triều Sơn, Tiên Nộn ở tỉnh Thừa Thiên Huế. Trong đó làng Tiên Nộn - xã Phú Mậu - huyện Phú Vang cách thành phố Huế khoảng 10 km về hướng Đông - Bắc, được xem là làng nghề sơn cổ truyền tại xứ Huế.
Vào thời vua Khải Định đã trưng dụng cụ Nguyễn Đức Bùi vào cung đình phục chế sơn son thếp vàng. Trong kỹ thuật chế tác từ sơn sống làm ra sơn cánh gián để điều chế ra các màu, các loại sơn thì người thợ sơn đánh sơn rất vất vả, công lao của họ được đền đáp bằng những công trình sơn truyền thống biểu hiện rõ nét trên những kiểu thức trang trí. Ngoài những kiến trúc có sử dụng chất liệu sơn truyền thống như Ngọ Môn, điện Thái Hoà và Thế Miếu… Thời Nguyễn, còn cho xây dựng nhà hát Duyệt Thị Ðường, Tĩnh Quang Viện, Thông Minh Ðường, Minh Khiêm Ðường ở Khiêm Lăng, thành lập Thanh Bình Thư được sơn son thếp vàng lộng lẫy và kiểu thức trang trí phù hợp với chức năng diễn xuất của diễn viên tuồng dưới thời vua Minh Mạng. Thành lập Ban Hiệu Thư dưới thời vua Tự Ðức chuyên nhuận sắc, chỉnh lý, hiệu đính và sáng tác tuồng, những cơ sở được tô vẽ trang trí họa tiết bằng sơn truyền thống giàu tính dân tộc và được 21 coi như toàn bộ công trình là một “khối thống nhất sơn” mạnh mẽ, đặc trưng và sánh với các chất liệu khác cùng thời.
Các công trình kiến trúc cung đình dưới thời Nguyễn theo lối dàn trải, không cao theo hướng vút lên bầu trời so với một số kiến trúc ở miền Bắc, nhưng kiến trúc thời Nguyễn có kiểu thức trang trí được phủ lớp sơn truyền thống độc đáo và nổi bật, bắt mắt nên tác giả Phan Thuận An trong bài viết Kiến trúc cố đô Huế khẳng định “…Với vật liệu chính là gỗ, các cung điện làm theo kiểu nhà kép, gọi là trùng lương trùng thiềm. Trang trí nội ngoại thất đều rất phong phú bằng hình ảnh và thư văn chen kẽ nhau theo lối nhất thi nhất họa. Chạm trổ tỉ mỉ, công phu, tinh tế” [2, tr. Cho thấy, thời Nguyễn đã chú tâm đến kiến trúc cung đình bằng nghệ thuật tạo hình độc đáo trong các chất liệu như khảm sành sứ, tranh gương, đúc đồng, đặc biệt chất liệu sơn truyền thống mà nổi trội hình chạm khắc cầu kỳ, chúng tôn vinh vẻ đẹp tạo hình lẫn nhau.
Ở đây mảng sơn truyền thống có mặt hầu hết ở nội và ngoại thất cung điện, xử lý thành thạo các thao tác, công đoạn trong phần kỹ thuật một cách có tính chủ động trong bộ tứ linh, tứ thời độc tôn. Nghệ thuật trang trí với những kiểu thức được biểu hiện bằng sắc đỏ, vàng lộng lẫy, chúng sắc sảo, sinh động về đường nét; phải công nhận sự tìm tòi, sáng tạo tài hoa của các nghệ nhân thời bấy giờ. Những kiểu thức ấy có sự tác động trở lại với đời sống mỹ thuật trong sự tiếp nhận thuộc tính tạo hình ở cung đình mỹ thuật triều Nguyễn. Tác giả Gia Bảo trong bài viết Những ý tưởng sáng tạo trong hội họa đã trình bày “Hiếm thấy một chất liệu tạo hình khác có sự giao hòa giữa cung đình mang đặc trưng như vậy” [6].
Chính yếu tố về các dấu tích của sơn truyền thống trong ở các đình, chùa, làng xã có tính tương đồng. Điều đó phản ánh sự giao thoa giữa nghệ thuật dân gian và cung đình tạo ra một mạch thống nhất mạnh mẽ trong chất liệu sơn truyền thống.