Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật với đề tài "Sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí Quần thể di tích cố đô Huế" được nghiên cứu sinh Đỗ Xuân Phú thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Quốc Hùng (Nguyên Phó Cục trưởng Cục Di sản Văn hóa, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), hoàn thành tại Hà Nội năm 2018.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam, triều đại nhà Nguyễn (1802–1945) để lại một khối lượng di sản kiến trúc và hiện vật mỹ thuật đồ sộ có sử dụng chất liệu sơn cổ truyền, bao gồm đồ dùng sinh hoạt cung đình, đồ tế tự son thếp và hệ thống kiểu thức trang trí trên các cấu kiện gỗ. Sơn truyền thống thời Nguyễn không chỉ giữ chức năng bảo vệ cốt gỗ trước tác động khắc nghiệt của khí hậu mà còn phản ánh hệ giá trị thẩm mỹ cung đình, dung hợp tư tưởng Nho giáo với Lão giáo, Phật giáo và tín ngưỡng dân gian.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định xuất phát từ thực tế: mặc dù sơn truyền thống giữ vị trí chủ đạo trong nghệ thuật trang trí tại Quần thể di tích cố đô Huế (QTDTCĐH), các công trình và hội thảo khoa học trước đây phần lớn chỉ tiếp cận ở mức độ khái lược, chưa đi sâu phân tích bản chất chất liệu, quy trình chế tác và ngôn ngữ tạo hình của các kiểu thức trang trí bằng sơn. Đồng thời, trong thực tiễn bảo tồn di tích, các công trình sơn thếp đang đứng trước nguy cơ xuống cấp, hư hỏng do thời gian và thiếu sự thống nhất về quy chuẩn kỹ thuật (các công đoạn bó, hom, lót, thí, phủ hoàng kim), dẫn đến sự phụ thuộc hoàn toàn vào kinh nghiệm cá nhân của từng nhóm thợ. Việc xác lập cơ sở khoa học để đánh giá đúng giá trị và quy trình sơn truyền thống là yêu cầu cấp thiết của ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật cũng như công tác bảo tồn di sản vật thể thời Nguyễn.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích tổng quát của luận án gồm:

  1. Chứng minh và khẳng định chất liệu sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí tại QTDTCĐH đã tồn tại liên tục từ thế kỷ XIX cho đến ngày nay.
  2. Xác lập các căn cứ khoa học và thực tiễn của sơn truyền thống nhằm làm sáng tỏ giá trị thẩm mỹ của kiến trúc, hiện vật và các kiểu thức trang trí trong di tích cố đô Huế.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 7 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa các nguồn tư liệu lịch sử, thư tịch cổ và tài liệu nghiên cứu liên quan đến sơn truyền thống thời Nguyễn.
  2. Tìm hiểu diện mạo, nguồn gốc xuất xứ và kỹ thuật chế tác sơn truyền thống trong tiến trình lịch sử mỹ thuật dân tộc gắn với di tích cố đô Huế.
  3. Nhận diện mối quan hệ hài hòa giữa các tác phẩm mỹ thuật sử dụng sơn truyền thống với các chất liệu khác cùng thời (khảm sành sứ, pháp lam, đúc đồng, tranh kính).
  4. Tìm kiếm các minh chứng vật thể khẳng định giá trị mỹ thuật của các tác phẩm sơn truyền thống tại Huế.
  5. Xác định đặc điểm tạo hình và giá trị thẩm mỹ của các kiểu thức trang trí mang tính dân gian (bộ Tứ linh, Tứ thời, Bát bửu, đồ án rồng trên hàng cột điện Thái Hòa, án thờ Thế Miếu, Hưng Miếu).
  6. Đánh giá, phân tích thành tựu cũng như những hạn chế trong kỹ thuật thi công và bảo tồn sơn truyền thống dưới thời Nguyễn và giai đoạn hiện nay.
  7. Đưa ra các luận cứ khoa học phục vụ công tác bảo tồn, phục hồi và phát huy giá trị di sản sơn truyền thống trong mỹ thuật cung đình Huế.

Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu được tác giả đặt ra nhằm định hướng khảo sát:

  1. Vì sao sơn truyền thống được ưa chuộng trong trang trí kiến trúc ở nước ta?
  2. Có bao nhiêu loại sơn truyền thống trong trang trí mỹ thuật cung đình Huế?
  3. Sơn truyền thống được sử dụng cho mục đích trang trí ngoài ra còn mục đích gì khác?
  4. Chất liệu sơn truyền thống có độ bền vững cơ lý như thế nào?
  5. Những vật liệu gì phù hợp để gắn kết với sơn truyền thống trong trang trí?
  6. Tác phẩm mỹ thuật sử dụng sơn truyền thống tại kinh đô Huế có điểm gì khác biệt so với các địa phương khác?
  7. Tỷ lệ kiến trúc và hiện vật trang trí bằng sơn truyền thống so với các chất liệu khác tại di tích Huế là bao nhiêu?
  8. Đội ngũ nghệ nhân thực hiện phần mộc thô và nghệ nhân sơn son thếp vàng được tổ chức ra sao?
  9. Hiện tượng sơn bị uốn cong, bong tróc mảng do nguyên nhân kỹ thuật nào?
  10. Hiện tượng lớp phủ trên bề mặt dát bạc bị phai nhạt để lộ mảng vàng - bạc lốm đốm xuất phát từ đâu?
  11. Vì sao thợ sơn sử dụng bạc lá phủ hoàng kim thay cho việc thếp toàn bộ bằng vàng lá?
  12. Vì sao phải phối trộn bột đá hoặc đất phù sa trong các lớp hom sơn?

Giả thuyết khoa học: Chất liệu sơn truyền thống là thành tố mang tính quyết định tạo nên vẻ đẹp trang nghiêm và độ bền vững cho kiến trúc cung đình thời Nguyễn; nếu không có mủ sơn tự nhiên được tinh luyện thành sơn chín, sơn cánh gián, sơn then, sơn quang và sơn phủ hoàng kim, các công trình kiến trúc gỗ triều Nguyễn không thể duy trì được diện mạo vàng son rực rỡ và giá trị thẩm mỹ đặc trưng trong suốt chiều dài lịch sử.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Chất liệu sơn truyền thống và các kỹ thuật chế tác (khắc chạm, dát vàng lá, thếp bạc lá, sơn son, sơn then, sơn quang, phủ hoàng kim) thể hiện trên các kiểu thức trang trí của kiến trúc gỗ, cấu kiện, hàng cột, án thờ, khánh thờ, ô hộc và đồ sinh hoạt cung đình triều Nguyễn.
  • Phạm vi không gian: Tập trung vào các công trình kiến trúc tiêu biểu thuộc QTDTCĐH gồm điện Thái Hòa, Thế Miếu, Hưng Miếu, Hiển Lâm Các, lăng Tự Đức (Khiêm Lăng), cùng các điểm phụ cận như Ngọ Môn, Phước Thọ Am (Khương Ninh Các), điện Ngưng Hy, điện Long An, cung Diên Thọ; đồng thời mở rộng khảo sát so sánh với di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội) và các làng nghề sơn truyền thống tại Thừa Thiên Huế (Tiên Nộn, Địa Linh, Triều Sơn).
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát các công trình từ thời Nguyễn (giai đoạn từ năm 1802 đến 1945), tập trung vào giai đoạn cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, kéo dài đến các đợt trùng tu, bảo tồn di tích hiện nay.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây được điểm lại

Luận án đã hệ thống hóa khối tư liệu đa dạng gồm thư tịch cổ triều Nguyễn, tư liệu khảo cổ học, nghiên cứu của học giả Pháp và các công trình của giới nghiên cứu mỹ thuật Việt Nam:

  1. Thư tịch cổ và văn bản quản lý triều Nguyễn:

    • Bộ Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (KĐĐNHĐSL) của Nội các triều Nguyễn (các tập V, XV, quyển 244–262) cung cấp các cứ liệu chính xác về "Lệ sơn" năm Minh Mạng thứ 10 (1829) và năm thứ 15 (1834) quy định giá mua nộp sơn sống, dầu phủ mặt; "Lệ làm đồ sơn" năm Minh Mạng thứ 13 (1832) quy định tỷ lệ pha trộn giữa ngân châu (son đỏ), sơn sống, dầu đồng, sơn mật dầu, phấn châu, thổ phấn châu; "Lệ thếp phủ vàng bạc" năm Thiệu Trị thứ 4 (1844); và quy định ngạch tiền công, phương gạo trả cho thợ sơn, thợ vẽ, thợ đắp tượng năm Thiệu Trị thứ 2 (1842).
    • Bộ Đại Nam thực lục chính biên (Quốc sử quán triều Nguyễn, tập VII) ghi nhận chính sách trưng tập thợ thủ công các tỉnh về kinh đô và chế độ miễn trừ thuế thân cho thợ làm việc tại các quan xưởng.
    • Sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi ghi chép về vùng trồng cây sơn và kỹ thuật chế biến nhựa sơn của người Việt.
    • Văn bia Thủy tạo đình bi (khắc năm 1686 tại đình Thổ Hà, xã Vân Hà, huyện Việt Yên, Hà Bắc) ghi chép về chi phí tiền công 200 quan trả cho thợ làm sơn son thếp vàng tòa Long môn.
  2. Tư liệu khảo cổ học về lịch sử nghề sơn:

    • Báo cáo khai quật mộ cổ Đường Dù (Đông Sơn, Thủy Nguyên, Hải Phòng) của Đinh Văn Kiên và Lê Xuân Diệm (Viện Khảo cổ học), tìm thấy 14 loại dụng cụ nghề sơn dạng minh khí dính dấu vết sơn, xác định niên đại khoảng thế kỷ I sau Công nguyên.
    • Hiện vật mộ thuyền Việt Khê (Hải Phòng, khai quật ngày 19/4/1961) có niên đại thế kỷ III–IV trước Công nguyên, phát hiện các cán nạo móc dài 30cm sơn then, cán đục dài 55–57cm sơn bóng, cán dáo mác dài 2,39m trang trí đốt tròn và mái chèo sơn then kết hợp sơn vàng.
    • Hiện vật khảo cổ tại La Đôi (Hải Hưng) gồm mảnh gỗ dài 3cm sơn hai màu đỏ – đen, tráp gỗ dài 55cm phủ hai lớp sơn then và vẽ hoa văn cánh gián; hiện vật tại xã Vinh Quang (Hoài Đức, Hà Đông, khai quật tháng 9/1969) là đoạn gỗ sơn hai khoanh đỏ sẫm và then có niên đại thế kỷ IV–V trước Công nguyên.
  3. Nghiên cứu của học giả Pháp và tư liệu hình họa:

    • Tập san Bulletin des Amis du Vieux Hué (B.A.V.H) với các tài liệu nghiên cứu lịch sử triều Nguyễn trong chuyên mục Les Français au service de Gia Long, cùng các ấn phẩm L'Annam, Hướng dẫn nghiên cứu An Nam và Chămpa.
    • Tập tranh tư liệu L'Art à Hué và các bản vẽ ghi chép kiến trúc, hoa văn, phẩm phục cung đình của tác giả Tôn Thất Sa (lưu trữ tại Thư viện Trường Đại học Nghệ thuật – Đại học Huế).
    • Nghiên cứu thực vật học của H. Lecomte (1908–1923), Pierre Domart (1929) và Crévost Charles (1905) định danh loài cây sơn Phú Thọ (Rhus succedanea L.), sơn miền Nam (Melanorhoea laccifera Pierre), phân biệt với loài sơn Nhật Bản (Rhus vernicifera D.).
  4. Nghiên cứu về lịch sử mỹ thuật, kiến trúc và làng nghề:

    • Tác phẩm của Vũ Ngọc Khánh (Lược truyện thần tổ các ngành nghề) về tích võ tướng Trần Ứng Long thế kỷ X dùng nhựa sơn trám thuyền dẹp loạn; Phạm Đức Cường (Kỹ thuật Sơn mài) về cụ Trần Lư (Trần Thượng Công) thời vua Lê Nhân Tông (1443) truyền dạy kỹ thuật sơn thếp tại làng Bình Vọng.
    • Các công trình nghiên cứu của Chu Quang Trứ (Văn hóa mỹ thuật Huế), Phan Thuận An (Kiến trúc cố đô Huế), Trần Lâm Biền (Huế, Mỹ thuật Nguyễn, Những cái riêng), Vĩnh Phối (Những kiểu thức trang trí Huế), Trương Quốc Bình (Về công cuộc bảo vệ và phát huy quần thể di tích lịch sử và văn hoá Cố đô Huế).
    • Nghiên cứu về các làng nghề sơn truyền thống của Nguyễn Văn Chuốt (làng Chuôn Tre, Bối Khê, Hạ Thái), Vũ Từ Trang (làng Đình Bảng), Phạm Côn Sơn (sơn mài Tương Bình Hiệp), Nguyễn Lan Hương (nghề sơn quang Cát Đằng), Phan Thanh Bình (sơn mài Huế), Nguyễn Đăng Quang (Sơn mài Việt Nam), Lê Cường (Nghề sơn trong tâm thức người Việt, 2002), Lê Huyên và nghệ nhân Đinh Văn Thành (người tham dự Đấu xảo Paris 1937 và sáng chế kỹ thuật đấu tùng hương vào sơn chín).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các tài liệu lịch sử triều Nguyễn như KĐĐNHĐSL chủ yếu ghi chép về định mức thu mua nguyên liệu, định ngạch chi trả lương bổng và vàng bạc mà không ghi chép chi tiết về kỹ thuật chế tác, thao tác pha trộn mủ sơn, phương pháp mài vóc hay kỹ thuật chạm lộng. Các công trình mỹ thuật hiện đại chủ yếu khảo cứu tổng thể kiến trúc hoặc tập trung vào nghệ thuật tranh sơn mài hội họa thế kỷ XX. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống về việc khảo sát thực địa, giải mã quy trình kỹ thuật truyền thống thời Nguyễn, thống kê định lượng hiện vật đồ sơn nội ngoại thất và đối sánh màu sắc son thếp giữa các di tích cung đình Huế.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khái niệm, thuật ngữ và khung phân tích

Luận án định nghĩa sơn truyền thống (sơn ta, sơn cổ truyền, sơn mỹ nghệ) là loại chất liệu tự nhiên được khai thác từ mủ cây sơn (Rhus succedanea L.), trải qua các công đoạn tinh chế thủ công để tạo thành các loại sơn chuyên dụng phủ lên bề mặt cốt gỗ nhằm bảo vệ và trang trí các công trình kiến trúc, đồ tế tự và hiện vật mỹ thuật.

Hệ thống thuật ngữ kỹ thuật nghề sơn trong di tích Huế được luận án hệ thống hóa:

  • Cốt gỗ: Khung nền mộc của cấu kiện hoặc hiện vật.
  • Phất vải: Dán vải màn lên cốt gỗ bằng sơn sống nhằm chống co ngót, rạn nứt và tăng độ liên kết.
  • Bó sơn: Công đoạn trát hỗn hợp sơn sống trộn đất phù sa và mạt cưa lên nền vải.
  • Hom: Dùng sơn sống trộn đất phù sa mịn để trát kín các khe hở, tạo độ phẳng cho bề mặt.
  • Lót sơn: Quét nhiều lớp sơn sống lên mặt hom để làm nền.
  • Mài sơn: Dùng đá mài hoặc giấy ráp mài phẳng các lớp bó, hom, lót, thí dưới nước.
  • Thí sơn: Quét các lớp sơn chín hoặc màu son pha sơn chín chồng lên nền vóc.
  • Vóc sơn: Cốt gỗ đã hoàn thiện các công đoạn từ phất vải, bó, hom đến lót và mài phẳng.
  • Sơn cầm: Lớp sơn mỏng có độ dính vừa phải, dùng làm chất kết dính để dát vàng lá hoặc bạc lá.
  • Sơn thếp: Thao tác dát mỏng vàng lá hoặc bạc lá lên lớp sơn cầm.
  • Sơn quang (dầu): Nước sơn bóng phủ nhiều lần tạo bề mặt bóng sâu cho cấu kiện gỗ (như ở cung Diên Thọ, điện Long An).
  • Sơn phủ hoàng kim: Lớp sơn chín pha phẩm màu vàng phủ lên bề mặt bạc lá để tạo hiệu ứng màu sắc tương tự vàng thật.
  • Sơn sống: Nhựa mủ cây sơn tươi vừa thu hoạch.
  • Sơn cánh gián (sơn chín): Sơn sống loại tốt (sơn giọi nhất) khuấy chín kỹ cùng nhựa thông (tùng hương) hoặc dầu đồng.
  • Sơn then: Sơn sống khuấy đều với bột sắt gỉ để tạo màu đen bóng.
  • Sơn mật dầu: Lớp váng dầu loãng màu nâu sẫm nổi trên mặt thùng sơn, dùng pha chế lớp phủ bảo vệ.
  • Ngân châu / Chu sa: Khoáng chất chứa lưu huỳnh và thủy ngân tạo màu son đỏ.
  • Thổ phấn châu / Phấn châu: Đất mịn màu nâu đỏ hoặc bột khoáng đỏ mịn trộn vào sơn sống làm lớp hom bó.
  • Hệ thống Ty, Cục thời Nguyễn: Kim tượng ty (thợ thếp vàng), Ngân tượng ty (thợ thếp bạc), Tất tượng cục / Tất họa tượng cục (cục thợ sơn thếp, vẽ sơn), Họa tượng ty (thợ vẽ), Mộc tượng ty (thợ mộc).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận tạo hình kết hợp các phương pháp chuyên ngành:

  • Phương pháp hệ thống: Khảo sát, lập bảng thống kê phân loại các đồ án họa tiết trang trí, cấu kiện kiến trúc và hiện vật đồ sơn nội ngoại thất tại các cụm di tích.
  • Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp kiến thức Lịch sử Mỹ thuật, Mỹ học, Văn hóa học, Sử học, Dân tộc học và Bảo tàng học để giải mã ý nghĩa biểu tượng của các đồ án trang trí trong bối cảnh cung đình thời Nguyễn.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh màu sắc, quy trình kỹ thuật giữa các công trình sử dụng vàng lá thật (ngai vàng điện Thái Hòa, án thờ Thế Miếu) với các công trình thếp bạc phủ hoàng kim (Hưng Miếu, Tử Cấm Thành); đối sánh kỹ thuật son thếp tại Hưng Miếu với Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội).
  • Phương pháp điền dã, thu thập và xử lý thông tin: Khảo sát thực địa tại 52 công trình thuộc QTDTCĐH, chụp ảnh, vẽ ghi, lập phiếu phỏng vấn các nghệ nhân thợ sơn, thợ mộc và cán bộ quản lý di tích tại Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Cơ sở lý luận, tổng quan tình hình nghiên cứu về sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí QTDTCĐH (41 trang)

Chương 1 tập trung giải quyết cơ sở lý luận về chất liệu, nguồn gốc lịch sử và cơ chế tổ chức nghề sơn thời Nguyễn:

  • Khái quát định danh "sơn truyền thống", "sơn cổ truyền", "sơn ta" và phân biệt với sơn công nghiệp, sơn hạt điều, sơn Nhật, sơn Nam Vang. Tác giả nhấn mạnh sơn hạt điều và sơn Nhật tuy có ưu điểm nhanh khô và không gây dị ứng da cho thợ, nhưng màng sơn giòn, dễ bong tróc từng mảng theo thời gian, không đáp ứng yêu cầu phục chế di tích gỗ cố đô Huế.
  • Lần theo lịch sử chất liệu sơn từ thời các vua Hùng, qua các di chỉ khảo cổ học Việt Khê, La Đôi, Đường Dù, đến mốc lịch sử thời tướng quân Trần Ứng Long (thế kỷ X) và ông tổ nghề sơn Trần Lư (thế kỷ XV–XVI). Luận án làm rõ con đường lan tỏa của kỹ thuật sơn từ các làng nghề phía Bắc vào xứ Huế (làng Tiên Nộn, Địa Linh, Triều Sơn).
  • Phân tích cơ chế quản lý thợ thủ công của triều đình nhà Nguyễn: thành lập các tổ chức quan xưởng (Tất tượng cục, Kim tượng ty, Họa tượng ty...), áp dụng chế độ tuyển mộ "thợ giản", "thợ kén", "thợ chọn" từ các địa phương về kinh thành làm việc từ tháng Giêng đến tháng Bảy hàng năm, đi kèm chính sách cấp lương tiền, gạo và miễn thuế thân.
  • Phân tích các dữ liệu văn bản từ bộ KĐĐNHĐSL về lệ mua bán sơn sống, quy định trọng lượng son ngân châu, dầu đồng, sơn mật dầu trong công thức pha sơn son, sơn then dưới triều Minh Mạng, Thiệu Trị.

Chương 2. Những giá trị tiêu biểu nghệ thuật trang trí của sơn truyền thống trong QTDTCĐH (49 trang)

Chương 2 phân tích các giá trị tạo hình, biểu đạt thẩm mỹ và khảo sát hiện vật thực tế tại các công trình kiến trúc tiêu biểu:

  • Đề tài và kiểu thức trang trí: Hệ thống họa tiết bao gồm bộ Tứ linh (Long, Lân, Quy, Phượng), bộ Tứ thời (Mai, Lan, Cúc, Trúc), Bát bửu, đồ án chữ Thọ, hoa lá hóa rồng, mây lửa, sóng nước. Đặc biệt, tác giả khảo sát tác phẩm 24 đồ bản minh họa tích "Nhị thập tứ hiếu" bằng kỹ thuật sơn khắc trên gỗ tại điện Ngưng Hy.
  • Ngôn ngữ màu sắc: Nghệ thuật trang trí cung đình Huế sử dụng các cặp màu tương phản kinh điển gồm Đỏ – Vàng (son thếp), Đỏ – Đen (son then tại Hiển Lâm Các), Vàng – Bạc, kết hợp các viền màu lục, xanh lam trên các khung ô hộc, tạo nên không gian trang nghiêm, lộng lẫy nhưng trầm ấm.
  • Khảo sát tại các công trình trọng điểm:
    • Ngọ Môn (1833): Hệ thống 100 cột gỗ, trong đó 48 cột thông tầng đỡ lầu Ngũ Phượng được phủ sơn son; các cấu kiện vì kèo trang trí hoa văn rồng hóa cúc thếp vàng.
    • Điện Thái Hòa (1805): Trung tâm quyền lực với Ngai vàng và Bửu tán chạm lộng rồng chầu mặt trời, hổ phù, dát vàng lá nguyên chất không phủ hoàng kim; hệ thống cột gỗ lớn sơn son thếp vàng đồ án rồng cuộn mây nước.
    • Thế Miếu (1821–1822): Nơi đặt 10 án thờ, khánh thờ, sập thờ của các vị vua triều Nguyễn; mỗi án thờ chạm lộng 11 ô hộc tinh xảo, đan xen thơ văn theo lối "nhất thi nhất họa", thếp vàng lá rực rỡ.
    • Hưng Miếu (1821, phục hồi 1951, trùng tu 1995, 2004): Công trình thờ thân phụ vua Gia Long, gồm 3 án thờ mặt tiền (11 ô hộc) và 1 án thờ mặt hậu (13 ô hộc) được thếp bạc lá phủ hoàng kim ngả sắc đỏ.
    • Hiển Lâm Các (1821–1822): Kiến trúc tháp gỗ 3 tầng cao 16m ghi công các bậc khai quốc; ngoại thất sơn son, toàn bộ nội thất và các họa tiết rồng cách điệu được phủ sơn then đen tuyền.
    • Phước Thọ Am (Khương Ninh Các, 1831): Chùa thờ Phật, Quan Công, Thập điện Minh Vương và Thánh Mẫu Thiên Y A Na; các pho tượng và khám thờ được sơn thếp kết hợp y phục màu đỏ, lục đậm, vàng.

Dưới đây là các bảng tổng hợp số liệu khảo sát được trích xuất từ văn bản:

Bảng 1: Thống kê các họa tiết trang trí bằng sơn truyền thống

Tên các họa tiết Điện Thái Hòa Hưng Miếu Thế Miếu
Long, Long hóa x x x
Lân, Lân hóa x x
Quy, Quy hóa x x
Phượng, Phượng hóa x x
Tứ thời (một số ô hộc) x x x

Bảng 2: Thống kê số lượng hiện vật, đồ sơn nội ngoại thất trang trí bằng sơn truyền thống

Địa danh / Tên các đồ sơn Thế Miếu Hưng Miếu Hiển Lâm Các Phước Thọ Am (Khương Ninh Các) Điện Long An
1. Nội thất
Án thờ 10 3
Khánh thờ 10 1 8
Bài vị 20 2
Cơi trầu 2 2
Kiệu, võng 1
Tủ 2
Giường 1
Bàn ghế 1
Ngai vàng 1
Bình phong 1
Sập 10 2 2
Kệ 10 3
Bàn 30
Tợ 10 2
Đôn 12
Đặc trống 1
Bộ Biên chung 1
Tượng Ban Hội đồng 3
Tượng Phật 3
Tượng Quan Công 2
Thập điện Minh Vương 10
Thánh Mẫu 1
Tượng Tổ nghề hát bội 2
Tượng Ngựa 2
2. Ngoại thất
Đặc khánh 1
Đặc chung (chuông) 1 1 5
Chum (bảo vệ kỳ lân) 2
Lầu chuông 1
Lầu trống 1

Ghi chú: Tổng số công trình kiến trúc khảo sát tại QTDTCĐH là 52 công trình, trong đó có hơn 29 công trình kiến trúc cung đình sử dụng sơn truyền thống làm chất liệu trang trí chủ đạo.

Chương 3. Bàn luận về những giá trị của sơn truyền thống có tính khoa học trong nghệ thuật trang trí QTDTCĐH (39 trang)

Chương 3 đi sâu phân tích bản chất khoa học của mủ sơn, cơ sở kỹ thuật và biện luận các phát hiện mới:

  • Cơ sở khoa học của quy trình kỹ thuật: Mủ cây sơn tự nhiên chứa các hợp chất có khả năng tự polyme hóa tạo màng liên kết dai bền, chịu nước, chống mối mọt và chịu được độ ẩm cao của miền Trung. Các công đoạn phất vải, bó, hom (trộn đất phù sa và mạt cưa), lót, mài nước nhiều lần tạo ra lớp nền vóc trơ về mặt cơ học, bảo vệ cốt gỗ bên trong không bị cong vênh, rạn nứt.
  • Kỹ thuật pha chế sơn và phẩm màu: Phân tích vai trò của việc nấu chín sơn sống với tùng hương (nhựa thông) để tạo độ dẻo bóng cho sơn cánh gián; phối trộn bột sắt gỉ tạo sơn then; hòa ngân châu tạo son đỏ; kỹ thuật làm sơn cầm để thếp vàng, bạc lá.
  • Bàn luận về sự khác biệt kỹ thuật giữa các di tích:
    • So sánh kỹ thuật son thếp tại Hưng Miếu (do thợ sơn miền Bắc thực hiện đợt trùng tu) với Thế Miếu: Hưng Miếu dùng kỹ thuật dát bạc lá rồi phủ lớp hoàng kim ngả đỏ (tương tự kỹ thuật tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội), trong khi các án thờ và Bửu tán Thế Miếu, điện Thái Hòa sử dụng vàng lá thuần chất.
    • So sánh Hưng Miếu với Tử Cấm Thành (đợt trùng tu năm 2013 do thợ Huế thực hiện): thợ Huế dùng sơn chín trộn phẩm màu vàng phủ lên bạc lá tạo ra màu vàng tươi sáng, khác biệt với màu vàng ánh đỏ của Hưng Miếu.
  • Phân tích nguyên nhân hư hại và giải pháp bảo tồn: Hiện tượng sơn bị rộp, bong tróc hoặc phai màu lốm đốm xuất phát từ việc thợ thi công pha thêm dầu hỏa vào sơn sống để mau khô, sử dụng sơn thu hoạch non kém chất lượng, hoặc lạm dụng sơn công nghiệp, sơn hạt điều. Luận án khẳng định sự cần thiết phải tuân thủ nghiêm ngặt quy chuẩn sơn ta truyền thống trong mọi dự án trùng tu di tích cố đô Huế.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa một cách toàn diện và khoa học các vấn đề lý luận về chất liệu sơn truyền thống trong mỹ thuật thời Nguyễn, khẳng định tính kế thừa và phát triển liên tục của dòng chảy văn hóa sơn từ thời Hùng Vương, thời Lý, Lê đến triều Nguyễn.
  • Giải mã thành công hệ thống thuật ngữ nghề sơn, các chức danh tượng cục và công thức pha chế sơn ghi chép trong thư tịch cổ triều Nguyễn (KĐĐNHĐSL), cung cấp cơ sở văn bản học vững chắc cho chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Lập bảng danh mục thống kê định lượng chi tiết hệ thống hiện vật, đồ tế tự, án thờ, khánh thờ và các kiểu thức trang trí bằng sơn truyền thống tại các công trình trọng điểm của QTDTCĐH.
  • Làm rõ sự khác biệt về kỹ thuật và sắc độ bề mặt giữa các hình thức thếp vàng lá nguyên chất (điện Thái Hòa, Thế Miếu) và thếp bạc lá phủ hoàng kim (Hưng Miếu, Tử Cấm Thành), chỉ ra sự tương đồng kỹ thuật giữa đợt phục chế Hưng Miếu với di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám.
  • Xác định nguyên nhân gây hư hỏng màng sơn và cung cấp luận cứ khoa học thực chứng để các cơ quan quản lý loại bỏ các chất liệu sơn thay thế không phù hợp (sơn hạt điều, sơn Nhật, sơn pha dầu hỏa), hướng tới việc ban hành quy trình chuẩn trong bảo tồn di sản kiến trúc gỗ cố đô Huế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của văn bản: Các tài liệu thư tịch cổ triều Nguyễn (như KĐĐNHĐSL) được bảo tồn tại Thư viện tỉnh Thừa Thiên Huế chỉ ghi chép tóm tắt về trọng lượng, định mức chi phí và lệ mua bán, thiếu các mô tả chi tiết về thao tác kỹ thuật đục chạm nông sâu hay bí quyết gia công nhiệt khi khuấy sơn. Bên cạnh đó, nhiều công trình di tích đã trải qua các đợt sơn sửa, phục chế qua nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau, gây khó khăn cho việc nhận diện lớp sơn nguyên gốc thời Nguyễn. Số lượng cấu kiện phủ sơn trên thực tế quá dày đặc nên luận án chưa thể thống kê toàn bộ trên biểu bảng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát định lượng toàn bộ hệ thống cấu kiện gỗ phủ sơn tại tất cả 52 công trình thuộc QTDTCĐH; ứng dụng các kỹ thuật phân tích hóa lý hiện đại để kiểm định thành phần màng sơn cổ bản địa và đối sánh sâu hơn với kỹ thuật sơn truyền thống tại các nước trong khu vực Đông Á.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho:

  • Nghiên cứu sinh, giảng viên và sinh viên các chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật, Mỹ thuật Ứng dụng, Di sản Văn hóa, Bảo tồn Di tích và Hội họa Sơn mài tại các trường đại học nghệ thuật.
  • Các nhà quản lý di sản, kiến trúc sư và chuyên gia phục chế tại Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và Cục Di sản Văn hóa trong việc thẩm định hồ sơ, giám sát quy trình trùng tu kiến trúc gỗ sơn thếp.
  • Các nghệ nhân, thợ sơn tại các làng nghề truyền thống (Tiên Nộn, Đình Bảng, Bình Vọng, Hạ Thái, Cát Đằng) trong việc tra cứu công thức pha chế và thao tác kỹ thuật cổ truyền.
  • Nội dung đáng tham khảo nhất là hệ thống thuật ngữ nghề sơn, bảng thống kê hiện vật đồ sơn nội ngoại thất và các phân tích đối sánh kỹ thuật phủ hoàng kim trên nền bạc lá.

Câu hỏi thường gặp

1. Sơn truyền thống trong mỹ thuật thời Nguyễn được chiết xuất từ loại thực vật nào? Theo các tài liệu thực vật học được luận án dẫn chứng (H. Lecomte, Pierre Domart), sơn truyền thống tại miền Bắc và di tích Huế được chiết xuất từ mủ cây sơn Phú Thọ có tên khoa học là Rhus succedanea L., khác với loài sơn miền Nam/Campuchia (Melanorhoea laccifera Pierre) và loài sơn Nhật Bản (Rhus vernicifera D.).

2. Công thức pha chế sơn son phủ ngoài được quy định như thế nào trong Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ năm Minh Mạng thứ 13 (1832)? Văn bản quy định: Sơn son phủ ngoài dùng 1 lạng ngân châu (chất màu đỏ chế từ lưu hoàng và thủy ngân) pha với sơn sống và dầu đồng mỗi thứ 4 đồng cân 8 phân, cùng 2 đồng cân 4 phân sơn mật dầu. Nếu phủ ngoài bằng sơn sống trộn phấn châu quét hai lượt xong thì pha bằng 3 lạng 2 đồng cân sơn sống.

3. Sự khác nhau về kỹ thuật son thếp giữa Bửu tán điện Thái Hòa, án thờ Thế Miếu với án thờ Hưng Miếu là gì? Bửu tán điện Thái Hòa và các án thờ tại Thế Miếu sử dụng vàng lá thật dát trực tiếp lên lớp sơn cầm, không phủ hoàng kim; trong khi các án thờ tại Hưng Miếu sử dụng kỹ thuật dát bạc lá rồi quét phủ một lớp sơn hoàng kim tạo ánh màu vàng ngả đỏ (do nghệ nhân miền Bắc phục chế).

4. Triều đình nhà Nguyễn tổ chức bộ máy thợ sơn và thợ chạm khắc phục vụ cung đình như thế nào? Triều Nguyễn thành lập các tổ chức chuyên môn gọi là Tượng cục (như Tất tượng cục, Tất họa tượng cục, Kim tượng ty, Họa tượng ty, Mộc tượng ty). Hàng năm, triều đình trưng tập thợ giỏi từ các tỉnh vào kinh đô làm việc từ tháng Giêng đến tháng Bảy, cấp lương tiền, gạo theo tháng và miễn trừ thuế thân.

5. Vì sao luận án khuyến nghị không sử dụng sơn hạt điều và sơn Nhật trong trùng tu di tích cố đô Huế? Sơn hạt điều và sơn Nhật tuy nhanh khô và không gây dị ứng da cho thợ, nhưng màng sơn có tính giòn, nhanh chóng bị lão hóa, nứt vỡ và bong tróc thành từng mảng lớn dưới điều kiện thời tiết ẩm nóng của Huế, làm tổn hại đến cốt gỗ và các lớp chạm khắc nguyên gốc của di tích.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Đỗ Xuân Phú là công trình nghiên cứu chuyên sâu về chất liệu và nghệ thuật trang trí sơn truyền thống tại Quần thể di tích cố đô Huế dưới góc độ Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật. Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lịch sử, giải mã các quy chuẩn pha chế sơn trong thư tịch triều Nguyễn và khảo sát thực chứng hệ thống hiện vật đồ sơn tại 52 công trình di tích. Các kết quả nghiên cứu làm rõ giá trị thẩm mỹ cung đình, sự khác biệt kỹ thuật son thếp giữa các di tích và cung cấp luận cứ khoa học quan trọng phục vụ công tác bảo tồn, phục hồi di sản kiến trúc gỗ triều Nguyễn.