Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ: Lăng Thoại Ngọc Hầu (Châu Đốc – An Giang) trong hệ thống lăng mộ thời Nguyễn ở Nam Bộ Việt Nam.

Chuyên ngành nghiên cứu: Khảo cổ học (chuyên sâu về Khảo cổ học mộ táng và Khảo cổ học lịch sử), kết hợp phương pháp nghiên cứu liên ngành Sử học, Văn bản học, Dân tộc học và Mỹ thuật học.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong hệ thống di tích khảo cổ học, mộ táng và lăng mộ giữ vị trí quan trọng đối với việc nghiên cứu quá khứ nhân loại thông qua kiến trúc, hình thức táng tục, tín ngưỡng tâm linh và di vật tùy táng. Thống kê sơ bộ tại Nam Bộ ghi nhận khoảng 30 lăng mộ của các bậc quan lại đại thần thời Nguyễn cùng thân quyến có chức tước, phẩm hàm từ Tam phẩm trở lên hoặc được triều đình truy phong. Tuy nhiên, trước tác động của thiên nhiên, thời gian, sự tàn phá của con người và tình trạng đào trộm săn lùng cổ vật, nhiều di tích đã bị mai một hoặc biến dạng do trùng tu thiếu cơ sở khoa học.

Khoảng trống nghiên cứu lớn được tác giả xác định gồm:

  • Chưa có công trình khoa học nào hệ thống hóa toàn diện tư liệu về lăng mộ thời Nguyễn ở Nam Bộ trên cả hai phương diện: kiến trúc (phần âm, phần dương) và táng tục.
  • Khối lượng lớn di vật tùy táng thu thập qua các đợt khai quật, di dời, giải phóng mặt bằng từ trước năm 1975 và giai đoạn gần đây (đang lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh và các bảo tàng địa phương) chưa được chỉnh lý, nghiên cứu, giám định và công bố một cách hệ thống.
  • Nhiều hiện vật trong các bảo tàng và sưu tập tư nhân chưa xác định được nguồn gốc, niên đại chuẩn xác do thiếu tư liệu so sánh đối chiếu có niên đại tuyệt đối từ khảo cổ học mộ táng.

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Hệ thống hóa toàn bộ tư liệu liên quan đến lăng Thoại Ngọc Hầu và hệ thống lăng mộ quan lại cao cấp thời Nguyễn ở Nam Bộ về mặt kiến trúc và di vật tùy táng.
  2. Nhận diện, làm rõ các đặc điểm kiến trúc (quy mô, bố cục mặt bằng, kết cấu phần âm - phần dương, vật liệu hợp chất, trang trí mỹ thuật), phong thủy, táng tục và giải mã minh văn bia mộ để xác định niên đại tuyệt đối.
  3. Nghiên cứu toàn diện hệ thống di vật tùy táng, làm rõ nguồn gốc xuất xứ, niên đại, kỹ thuật chế tác và giá trị lịch sử - văn hóa đối với vùng đất Nam Bộ giai đoạn thế kỷ XVIII - XIX.
  4. Đặt kiến trúc lăng mộ thời Nguyễn ở Nam Bộ trong mối tương quan so sánh với lăng tẩm hoàng gia ở Huế, lăng mộ quan lại miền Trung, miền Bắc, mộ tầng lớp khá giả người Việt và lăng mộ quý tộc người Hoa (như dòng họ Mạc ở Hà Tiên) cũng như quan lại thời Minh - Thanh (Trung Hoa).

Nhiệm vụ nghiên cứu

  1. Hệ thống hóa nguồn tư liệu thư tịch cổ và các công trình nghiên cứu liên quan đến lăng mộ thời Nguyễn và các giai đoạn trước đó.
  2. Tiến hành điều tra, khảo sát, đo đạc, khảo tả, lập bản vẽ kiến trúc (tỷ lệ 1/200), rập văn bia, chụp ảnh di tích - di vật, lập bảng biểu thống kê và phân tích mẫu vật khoáng vật/kim hoàn.
  3. Trực tiếp tham gia khảo sát, khai quật thực địa, bảo quản và phục nguyên di vật sau khai quật (đặc biệt là hiện vật tại lăng Thoại Ngọc Hầu).
  4. Phân tích các yếu tố thống nhất và dị biệt giữa các lăng mộ dựa trên phẩm trật xã hội và nguồn gốc tộc người của chủ nhân.
  5. Tổng hợp các nguồn dữ liệu liên ngành (khảo cổ học, sử học, văn bản học, văn hóa học, mỹ thuật học, địa chí) để giải quyết các khoảng trống tư liệu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Quần thể lăng Thoại Ngọc Hầu (Châu Đốc, An Giang) và hệ thống lăng mộ của các quan lại đại thần triều Nguyễn tại Nam Bộ (cùng thân quyến) có phẩm hàm tương đương từ Tam phẩm trở lên, bao gồm toàn bộ cấu trúc kiến trúc và hệ thống di vật tùy táng phát hiện được.
  • Phạm vi không gian: Trọng tâm tại khu vực Nam Bộ (Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ); mở rộng so sánh đối chiếu tại miền Trung (Thừa Thiên Huế, Khánh Hòa, Quảng Ngãi, Bình Định) và miền Bắc (Hà Nội, Bắc Ninh, Quảng Ninh).
  • Phạm vi thời gian: Giới hạn từ năm 1780 (khi Nguyễn Ánh xưng Vương tại Gia Định) đến năm 1874 (khi triều đình Huế ký Hiệp ước Giáp Tuất, chính thức giao toàn bộ Nam Bộ cho thực dân Pháp cai quản).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các nguồn tư liệu và công trình nghiên cứu được điểm luận

                               CÁC NGUỒN TƯ LIỆU ĐƯỢC KHẢO CỨU
   Thư tịch cổ                     Nghiên cứu trước 1975                Nghiên cứu sau 1975
   - Đại Nam thực lục              - Ban Nghiên cứu Đông Dương (1902)   - Khai quật: Huỳnh Công Lý (1977),
   - KĐ Đại Nam hội điển sự lệ     - Ngạc Xuyên / Ca Văn Thỉnh (1943)     Xóm Cải (1994), Viện Pasteur (2006)
   - Hoàng Việt luật lệ            - Nguyễn Văn Hầu (1972)              - Khảo sát: Phạm Đức Mạnh, Đỗ Đình Truật,
   - Gia Định thành thông chí      - Vương Hồng Sển (1960)                Nguyễn Thị Hà, Trần Hồng Liên
   - Đại Nam nhất thống chí        - Nguyễn Bá Lăng (1965)              - So sánh: L.Cadière, Phan Thanh Hải,
                                                                          Nguyễn Hữu Thông, Nguyễn Huy Hạnh

1. Thư tịch cổ thời Nguyễn

  • Đại Nam thực lục (ĐNTL): Quốc sử quán biên soạn, ghi chép quy định năm Gia Long thứ 16 (1817) về kích thước mồ mả dân gian (tả hữu cách 7 thước 5 tấc, trước sau cách 9 thước).
  • Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (KĐĐNHĐSL):
    • Quyển 216 (Chính biên) quy định chi tiết về quy thức, lệnh cấm, xây dựng viên tẩm hoàng gia.
    • Quyển 187 (Luật lễ) ghi rõ quy chế mồ mả quan lại: Nhất phẩm (90 bước), Nhị phẩm (80 bước), Tam phẩm (70 bước), Tứ phẩm (60 bước); từ Tam phẩm trở lên đặt 6 con thú đá; Ngũ phẩm trở lên dùng bia rùa đầu si; Lục phẩm trở xuống dùng mốc đá tròn, bệ vuông.
    • Quyển 40 (Tục biên - năm 1857): Chuẩn định dùng thước quan điền đo đất mộ quan chức (Nhất phẩm 90 thước, Nhị phẩm 80 thước, Tam phẩm 70 thước, Tứ phẩm 60 thước).
  • Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long): Quyển IX (Lễ luật, mục 12) quy định số lượng thú đá (Nhất đến Tam phẩm dùng 6 con, Tứ đến Ngũ phẩm dùng 4 con; bia mộ quan từ Lục phẩm trở xuống hình lưỡi búa hoặc chân vuông đầu tròn).
  • Gia Định thành thông chí (Trịnh Hoài Đức): Quyển V (Sản vật chí) ghi chép về đá ong Biên Hòa xây mồ mả; nhựa cây Bời Lời trộn đất tam hòa/tam hợp làm chất kết dính xây mộ; gỗ Hoàng đàn và Giáng hương dùng đóng quan quách.
  • Đại Nam nhất thống chí (ĐNNTC): Ghi chép tản mạn về một số mộ phần tại Hà Tiên (mộ Mạc Cửu, Mạc Thiên Tứ, mộ hoàng tử trên đảo Phú Quốc).

2. Các công trình nghiên cứu trước năm 1975

  • Ban Nghiên cứu xã hội Đông Dương (1902): Địa lý hình thể, kinh tế và lịch sử Nam Kỳ (Tập VI - Châu Đốc) ghi nhận đợt trùng tu lăng Thoại Ngọc Hầu vào năm 1888.
  • Ngạc Xuyên - Ca Văn Thỉnh (1943): Bài viết trên Tạp chí Đại Việt nhắc đến “Miếu mộ Thoại Ngọc Hầu” và vuông mộ gia tộc tại Cù Lao Dài (Vĩnh Long).
  • Nguyễn Văn Hầu (1972): Tác phẩm Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang khảo tả chi tiết lăng bà Nguyễn Thị Tuyết (thân mẫu Thoại Ngọc Hầu), lăng bà Nguyễn Thị Định và lăng nhạc phụ Châu Vĩnh Huy tại Cù Lao Dài.
  • Vương Hồng Sển (1960): Sài Gòn năm xưa ghi nhận sự kiện cải táng mộ quan võ tại đường Công Lý năm 1942, phát hiện mão vàng, đai vàng, cúc vàng (Hồ sơ lưu trữ số 31 tại Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh).
  • Nguyễn Bá Lăng (1965): Công bố trên Nội san Viện Khảo cổ về đợt khai quật lăng mộ “Thiên vương Thống chế” và “Tiền chi” tại Biên Hòa năm 1962, phát hiện trang sức mũ mão, đai lưng, hốt ngà.

3. Các công trình nghiên cứu sau năm 1975

  • Khảo sát và khai quật khảo cổ học: Khai quật lăng Huỳnh Công Lý (1977 - Lê Xuân Diệm, Đỗ Đình Truật); Mộ hợp chất Xóm Cải (1994); Mộ hợp chất Phú Thọ (1996); Mộ Chánh thất phu nhân Tham tri bộ Hộ tại Viện Pasteur (2006); Mộ hợp chất Cầu Xéo - Đồng Nai (2011); Mộ Đình thần An Khánh và mộ đá ong An Phú (Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh).
  • Nghiên cứu chuyên đề và vật liệu: Phạm Đức Mạnh (Mộ hợp chất ở Gia Định và Nam Bộ xưa); Đỗ Đình Truật (Văn hóa mộ táng ở đất Gia Định); Nguyễn Thị Hà (Vật liệu và kỹ thuật xây dựng mộ cổ ở Thành phố Hồ Chí Minh); Thông Thanh Khánh (Hợp chất ô dước hay hợp chất cổ truyền Nam Bộ?); Trần Quốc Vượng (1998 - khảo sát lăng Phạm Quang Triệt và Phạm Duy Trinh).
  • Nghiên cứu so sánh mở rộng: L.Cadière (1928 - Lăng mộ của người An Nam trong vùng phụ cận Huế); Phan Thanh Hải (Lăng mộ Hoàng gia thời Nguyễn tại Huế); Nguyễn Hữu Thông (2014 - Mỹ thuật thời chúa Nguyễn – Dẫn liệu từ di sản lăng mộ); Nguyễn Huy Hạnh (Lăng đá Hà Bắc: kiến trúc và điêu khắc); Nguyễn Văn Anh (2014 - Quần thể lăng tẩm nhà Trần ở Đông Triều, Quảng Ninh).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Luận án giải quyết tính đơn lẻ, thiếu đồng bộ của các công bố trước đó; tiến hành giám định và phân loại khoa học toàn bộ 523 di vật tùy táng phát hiện năm 2010 tại lăng Thoại Ngọc Hầu; cung cấp các kết quả phân tích thành phần khoáng vật học của vật liệu hợp chất; đồng thời lập hệ thống bản vẽ kiến trúc quy chuẩn và bản dập văn bia Hán Nôm của hệ thống lăng mộ quan lại thời Nguyễn ở Nam Bộ.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và thao tác hóa khái niệm

  • Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử vào việc phân tích sự phát triển của kiến trúc và táng tục trong bối cảnh lịch sử xã hội Nam Bộ thế kỷ XVIII - XIX.
  • Thao tác hóa các khái niệm chuyên ngành:
    • Lăng / Lăng tẩm (陵寢): Danh từ vốn dùng chỉ nơi an táng của vua chúa, hoàng tộc theo điển lệ phong kiến phương Đông (KĐĐNHĐSL). Trong thực tế Nam Bộ, thuật ngữ này được mở rộng trong dân gian để chỉ các khu mộ quy mô lớn của các bậc đại thần có công khai phá vùng đất.
    • Mộ (墓) / Mộ chí / Sinh phần: Nơi chôn cất di hài, bao gồm cấu trúc phần âm (kim tĩnh, quách hợp chất, áo quan) và phần dương (nấm mộ, uynh thành, bình phong, bia ký).
    • Di vật tùy táng: Các hiện vật được chôn theo người chết (phẩm phục, đồ dùng sinh hoạt, đồ ngự tứ, đồ quý kim, tiền đồng, thoi bạc...).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp các phương pháp khảo cổ học truyền thống và nghiên cứu liên ngành:

  1. Phương pháp khảo cổ học: Điều tra, khảo sát thực địa, thám sát, tham gia khai quật, đo vẽ ghi nhận mặt bằng, mặt cắt dọc, mặt đứng kiến trúc lăng mộ; phân loại loại hình học cấu kiện kiến trúc và di vật; rập hoa văn, văn bia Hán Nôm.
  2. Phương pháp văn bản học (Hán Nôm): Dịch thuật, khảo chứng nội dung minh văn trên các bia mộ, hoành phi, câu đối, sắc phong để xác định chính xác danh tính, phẩm hàm, chức tước, quê quán, niên đại lập bia và các cải biến hành chính.
  3. Phương pháp lịch sử và dân tộc học: Phân tích, đối chiếu thư tịch cổ (chính sử triều Nguyễn) với các ghi chép gia phả và truyền tích dân gian thu thập qua điền dã tại địa phương.
  4. Phương pháp mỹ thuật học: So sánh kiểu dáng mỹ thuật, đồ án trang trí trên bình phong (rồng, hổ, phụng, hoa lá, chữ Thọ), trụ cổng, uynh thành giữa các lăng mộ Nam Bộ với lăng mộ hoàng gia Huế và lăng mộ miền Trung, miền Bắc.
  5. Phương pháp phân tích khoa học tự nhiên:
    • Phân tích thành phần khoáng vật của các mẫu vật liệu hợp chất xây dựng lăng mộ (Bảng 3.5 và các phiếu phân tích khoáng vật).
    • Phân tích thành phần hợp kim quý kim (vàng, bạc) trên các di vật trang sức mũ mão, đai lưng và thoi bạc tùy táng.

Nguồn tư liệu và dữ liệu thực tế

  • Khối dữ liệu điền dã khảo sát đo vẽ trên 30 lăng mộ quan lại thời Nguyễn tại Nam Bộ (Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Tiền Giang, Long An, Vĩnh Long, An Giang, Kiên Giang...).
  • Khối tư liệu 523 di vật tùy táng phát hiện năm 2010 tại lăng Thoại Ngọc Hầu (Châu Đốc, An Giang).
  • Hồ sơ lưu trữ khoa học và hiện vật khảo cổ học tại Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh (Hồ sơ số 31, hiện vật lăng Huỳnh Công Lý, lăng Xóm Cải, lăng Viện Pasteur, lăng Thiên vương Thống chế Biên Hòa).
  • Nguồn tư liệu bản dập văn bia Hán Nôm (Bản dập 2.1 đến 3.6) và bản vẽ kiến trúc chi tiết (Bản vẽ 2.1 đến 3.18).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tư liệu (33 trang)

Chương này tập trung tổng thuật bối cảnh tự nhiên, lịch sử Nam Bộ và phân tích các nguồn tư liệu học thuật liên quan đến đề tài.

                            TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ VÙNG ĐẤT NAM BỘ
Thời tiền sơ sử     Thế kỷ I - VII      Thế kỷ VII - XVII    Năm 1698 - 1757    Thời Nguyễn (1802-1874)
Văn hóa Đồng Nai    Phù Nam - Óc Eo    Chân Lạp kiểm soát   Chúa Nguyễn xác    Gia Định thành -> 6 tỉnh;
trên nền lúa nước   thương cảng biển   hoang vu, rừng rậm   lập chủ quyền      hình thành hệ thống lăng mộ
  • Địa lý và lịch sử hình thành vùng đất:
    • Địa chất Nam Bộ trải qua 4 giai đoạn: Địa hào Đại cổ sinh, vịnh biển Đại trung sinh, biển thoái Đại tân sinh và đợt biển tiến Flandrian (khoảng 18.000 năm trước định hình châu thổ). Địa hình chuyển tiếp từ thềm phù sa cổ 50 - 70m (Bình Phước - Biên Hòa) xuống đồng bằng hạ lưu sông Tiền và sông Hậu.
    • Tiến trình lịch sử từ văn hóa tiền sơ sử Đồng Nai, nền văn minh Phù Nam - văn hóa Óc Eo (thế kỷ I - VII), thời kỳ Chân Lạp (từ thế kỷ VII, tình trạng hoang vu kéo dài), đến công cuộc khai phá của người Việt và người Hoa dưới thời chúa Nguyễn (mốc năm 1623 lập đồn thu thuế tại Sài Gòn; năm 1679 nhóm tướng lĩnh nhà Minh Dương Ngạn Địch, Trần Thượng Xuyên đến định cư; năm 1698 Nguyễn Hữu Cảnh kinh lý lập phủ Gia Định; năm 1708 Mạc Cửu dâng đất Hà Tiên; năm 1757 tiếp nhận vùng Tầm Phong Long).
    • Thời kỳ triều Nguyễn (1802 - 1874): Thiết lập Gia Định thành (5 trấn), cải cách hành chính năm 1832 của vua Minh Mệnh chia Nam Bộ thành 6 tỉnh (Nam Kỳ Lục tỉnh: Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) cho đến khi Pháp chiếm đóng năm 1874.
  • Hệ thống hóa tư liệu nghiên cứu: Đánh giá chi tiết các ghi chép trong thư tịch cổ triều Nguyễn (ĐNTL, KĐĐNHĐSL, Hoàng Việt luật lệ, GĐTTC, ĐNNTC), các công trình nghiên cứu thời kỳ trước năm 1975 và các đợt khai quật khảo cổ học từ sau năm 1975 đến nay.
  • Thao tác hóa khái niệm: Xác định ranh giới học thuật giữa các thuật ngữ lăng, lăng tẩm, mộ chí, sinh phần, di vật tùy táng và điển lệ kiến trúc mộ táng thời phong kiến.

Chương 2: Lăng Thoại Ngọc Hầu: Kiến trúc và di vật (62 trang)

Chương này đi sâu khảo sát toàn diện quần thể lăng Thoại Ngọc Hầu (Châu Đốc, An Giang) và các khu lăng mộ thân quyến tại Cù Lao Dài (Vĩnh Long), đồng thời giám định khối di vật tùy táng phát hiện năm 2010.

Khu vực / Nhóm di tích Chủ nhân phần mộ Niên đại văn bia Đặc điểm kiến trúc & Hiện vật phát hiện
Khu lăng Thoại Ngọc Hầu (Núi Sam, Châu Đốc, An Giang) - Nguyễn Văn Thoại (Thoại Ngọc Hầu)
- Châu Thị Tế (Chính thất)
- Trương Thị Miệt (Thứ thất)
Minh Mệnh (Hoàng Việt) - Bố cục mặt bằng chữ Nhất, tường thành bao quanh, bình phong tiền - hậu.
- Phát hiện 523 di vật tùy táng (2010): Mão Hổ đầu nạm vàng, thố/ống nhổ thủy tinh, đồ đồng, thoi bạc.
Khu lăng thân mẫu (Cù Lao Dài, Vĩnh Long) - Nguyễn Thị Tuyết (Thân mẫu Thoại Ngọc Hầu)
- Nguyễn Thị Định (Em gái)
- Thượng đạo Cai đội (Thân quyến)
- 1828 (Minh Mệnh thứ 9)
- 1854 (Giáp Dần)
- 1816 (Gia Long)
- Tường thành xây bằng hợp chất cát vôi ô dước cao bằng đầu người, dày ~0,5m.
- Nấm mộ chính dạng khối chữ nhật, có hai bình phong tiền - hậu.
Khu lăng thân tộc họ Châu (Cù Lao Dài, Vĩnh Long) - Châu Vĩnh Huy (Nhạc phụ)
- Đỗ Thị Toán (Nhạc mẫu)
- 2 mộ Khâm sai Cai cơ bên ngoài
Minh Mệnh (Hoàng Việt) - Vòng thành uynh thấp hơn khu lăng bà Tuyết.
- Hai ngôi mộ lớn ngoài cổng có khắc minh văn chức tước Khâm sai Cai cơ.
  • Phân loại 523 di vật tùy táng tại lăng Thoại Ngọc Hầu:
    1. Trang sức phẩm phục quý kim: Mão Hổ đầu trang sức vàng của Thống chế Thoại Ngọc Hầu (Hình 2.27), các chi tiết trang trí hình rồng, hoa cúc, ngọn lửa bằng vàng dát mỏng.
    2. Di vật thủy tinh ngoại nhập: Bảng 2.3 thống kê các loại hình thố thủy tinh màu trắng (2010.13), thố thủy tinh màu tím (2010.14), đĩa thủy tinh (2010.15), ống nhổ thủy tinh (2010.16, 2010.17), chai rượu (2010.18), lọ hít (2010.19, 2010.20) có nguồn gốc giao thương quốc tế.
    3. Di vật kim loại đồng và thoi bạc: Chân đèn đồng (2010.21 - 2010.24), ống nhổ đồng (2010.25), lồng ấp đồng (2010.26); Bảng 2.4 thống kê các thoi bạc Việt Nam đúc chuẩn thời Nguyễn chôn theo mộ táng.
  • Giá trị tư liệu Hán Nôm: Khảo cứu các bản dập văn bia 2.1 (bia Thoại Ngọc Hầu), 2.2 (bia Châu Vĩnh Tế), 2.3 (bia Trương Thị Miệt), các bia mộ họ Nguyễn và họ Châu tại Vĩnh Long (Bản dập 2.4 - 2.6) làm sáng tỏ tiểu sử, quan hàm và niên đại xây dựng thực tế.

Chương 3: Lăng mộ thời Nguyễn ở Nam Bộ (55 trang)

Chương này mở rộng nghiên cứu toàn diện hệ thống lăng mộ quan lại cao cấp tại các tỉnh Nam Bộ, phân tích cấu trúc kỹ thuật và so sánh đối chiếu đa diện.

Nhân vật lịch sử Chức vụ / Phẩm hàm Địa bàn phân bố Đặc điểm kiến trúc tiêu biểu
Lê Văn Duyệt Tả quân, Tổng trấn Gia Định thành Bình Thạnh, TP.HCM Quy mô rộng lớn, bố cục liên hoàn gồm nhà bia, uynh thành, mộ song táng dạng ngưu miên, đúc hợp chất ô dước kiên cố.
Trịnh Hoài Đức Thượng thư, Hiệp biện Đại học sĩ Biên Hòa, Đồng Nai Lăng song táng cùng phu nhân, tường thành bao quanh khép kín, bình phong tiền đắp nổi họa tiết hoa văn thời Minh Mệnh.
Nguyễn Huỳnh Đức Tiền quân Quận công Tân An, Long An Khuôn viên lăng mộ bề thế, nấm mộ đúc khối lớn, bia đá hoa cương chạm khắc tinh xảo, bình phong hậu đắp chữ Thọ.
Võ Di Nguy Bình Tây Hữu quân Đô đốc Phú Nhuận, TP.HCM Mặt bằng hoàn chỉnh (Bản vẽ 3.13-3.18), bình phong tiền cắt ngang hình cuốn thư, nấm mộ hình voi phục bằng hợp chất.
Phạm Đăng Hưng Lễ bộ Thượng thư, Đức Quốc công Gò Công, Tiền Giang Kiến trúc lăng mộ hoàng thân, uynh thành uốn lượn, bình phong chạm trổ rồng mây tinh xảo, chất liệu đá xanh và hợp chất.
Phạm Quang Triệt & Phạm Duy Trinh Tả tham tri bộ Lại / Tả tham tri bộ Binh Quận 2, TP.HCM Cụm lăng mộ phụ tử thời Gia Long - Tự Đức, mặt bằng chữ nhật, nấm mộ hợp chất ô dước kết hợp tường đá ong.
Lê Văn Phong Đô thống chế Thần sách Phú Nhuận, TP.HCM Mão Chánh nhị phẩm Võ ban trang sức vàng (Hình 3.34), kim tĩnh hợp chất dày đúc khối toàn phần.
“Thiên vương Thống chế” Quan võ cao cấp thời Nguyễn Biên Hòa, Đồng Nai Khai quật năm 1962 (Bảng 3.7, Hình 3.35), phát hiện mũ cánh chuồn trang sức vàng, đai lưng, hốt ngà và cúc áo vàng.
  • Đặc trưng kiến trúc và vật liệu xây dựng:
    • Bố cục mặt bằng: Cơ cấu chuẩn gồm Cổng lăng/Trụ biểu -> Sân tế -> Bình phong tiền -> Uynh thành bao quanh -> Nấm mộ (dạng ngưu miên - trâu nằm, voi phục hoặc khối chữ nhật giật cấp) -> Hương án -> Bình phong hậu.
    • Vật liệu hợp chất cổ truyền: Bảng 3.5 và các phiếu phân tích mẫu (Hình 3.36 - 3.43) xác định thành phần khoáng vật của hợp chất ô dước gồm: vôi vỏ sò/san hô, cát hạt mịn, bột đá ong, than tre hoạt tính kết hợp chất kết dính hữu cơ từ mật mía và nhựa cây Bời Lời, tạo độ kết tinh bền vững tương đương đá tự nhiên.
    • Nghiên cứu văn bia: Bảng 3.2 và 3.3 thống kê các loại quốc hiệu ghi trên bia mộ (Việt Cố, Hoàng Việt, Đại Nam), chất liệu đá (đá cát/sa thạch, đá granit/hoa cương, đá xanh Biên Hòa), xác lập niên đại phân bố từ 1780 đến 1874.
  • So sánh đối chiếu loại hình học:
    • Với lăng tẩm hoàng gia Huế (Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức, Khải Định): Lăng mộ quan lại Nam Bộ kế thừa cấu trúc uynh thành và bình phong tiền - hậu nhưng quy mô tuân thủ điển lệ phẩm trật, không xây dựng tẩm điện thờ phụng quy mô lớn như lăng thiên tử.
    • Với lăng mộ miền Trung và miền Bắc: Khác với lăng đá Hà Bắc (chạm khắc đá lộ thiên thời Lê - Trịnh) hay lăng quan lại Huế (dùng nhiều vôi vữa gạch trát), lăng mộ Nam Bộ sử dụng ưu thế vật liệu khối đúc hợp chất ô dước dày đặc kết hợp lõi đá ong bản địa.
    • Với lăng mộ quý tộc người Hoa (Mạc Cửu - Hà Tiên, Cù Lao Phố, mộ Trịnh Thành Công - Phúc Kiến): Nhận diện sự giao thoa văn hóa nhưng lăng mộ quan lại triều Nguyễn giữ vững quy thức bình phong, kiểu dáng nấm mộ ngưu miên và văn bia Nho giáo truyền thống của người Việt.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Xác lập hệ thống loại hình học lăng mộ thời Nguyễn ở Nam Bộ: Là công trình đầu tiên khảo sát, phân loại và hệ thống hóa toàn diện diện mạo kiến trúc lăng mộ quan lại thời Nguyễn, phân tích rõ mối quan hệ giữa điển lệ cung đình (KĐĐNHĐSL, Luật Gia Long) và sự vận dụng linh hoạt trong điều kiện địa lý - xã hội vùng đất Nam Bộ.
  2. Làm sáng tỏ cấu trúc phần âm và táng tục: Xác định quy chuẩn xây dựng huyệt mộ (kim tĩnh) đúc hợp chất toàn khối khép kín chống ẩm, giữ thi hài, chứng minh táng thức địa táng kiên cố của tầng lớp quan lại đại thần cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX.
  3. Tiêu chuẩn hóa dữ liệu di vật khảo cổ học mộ táng: Phân loại và định danh khoa học các nhóm hiện vật tùy táng (đặc biệt là phẩm phục mão võ quan nạm vàng dát mỏng, đồ thủy tinh Tây phương, đồ đồng sinh hoạt, thoi bạc), bổ sung tiêu chí khoa học cho việc phân kỳ khảo cổ học lịch sử Việt Nam.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp tư liệu chuẩn cho công tác giám định cổ vật: Bộ dữ liệu đo vẽ, hình ảnh và phân tích kim hoàn/khoáng vật từ 523 hiện vật lăng Thoại Ngọc Hầu và các lăng mộ đã khai quật trở thành hệ quy chiếu chuẩn giúp các bảo tàng và nhà nghiên cứu thẩm định các bộ sưu tập cổ vật cùng thời kỳ chưa rõ nguồn gốc.
  2. Cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn, trùng tu di tích: Cung cấp thông số kỹ thuật, bản vẽ mặt bằng tỷ lệ 1/200 và kết quả phân tích thành phần hợp chất ô dước, giúp các cơ quan quản lý văn hóa phục hồi di tích chính xác, ngăn chặn việc trùng tu sai lệch làm mất yếu tố gốc.
  3. Định hướng quy hoạch khảo cổ học địa phương: Đưa ra danh mục phân bố tọa độ địa lý (Bảng 3.1) của khoảng 30 lăng mộ đại thần tại Nam Bộ phục vụ công tác khoanh vùng bảo vệ, cắm mốc di tích và đưa vào quy hoạch bảo tồn khảo cổ học tổng thể tại Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Tiền Giang, An Giang, Vĩnh Long...

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Giới hạn nguồn tư liệu di vật: Do yêu cầu bảo tồn nguyên trạng di tích kiến trúc tâm linh, tác giả chỉ tiếp cận nghiên cứu hệ thống di vật tùy táng ở các khu lăng mộ đã từng được khai quật, cải táng hoặc di dời trong quá khứ, chưa thể khảo sát phần âm của toàn bộ 30 lăng mộ hiện tồn.
  • Sự tản mạn của thư tịch cổ: Các bộ chính sử thời Nguyễn chủ yếu quy định chi tiết về lăng tẩm hoàng gia; ghi chép về lăng mộ quan lại dùng đơn vị đo lường cổ (bộ/bước) mang tính ước lệ, gây khó khăn nhất định cho việc quy đổi kích thước thực tế.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng phân tích hóa học - khoáng vật học so sánh giữa các mẫu hợp chất ô dước ở miền Đông Nam Bộ (sử dụng đá ong) và miền Tây Nam Bộ (sử dụng cát phù sa, vôi vỏ sò).
  • Tiếp tục khảo sát, đối chiếu táng tục và cấu trúc lăng mộ quan lại thời Nguyễn với các di tích mộ táng đồng đại tại các quốc gia Đông Nam Á và Nam Trung Hoa để làm sâu sắc hơn tính giao lưu văn hóa khu vực.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên: Thuộc các chuyên ngành Khảo cổ học, Lịch sử Việt Nam, Văn hóa học, Hán Nôm, Kiến trúc cổ và Bảo tàng học.
    • Cán bộ quản lý di sản và chuyên viên bảo tồn: Cục Di sản văn hóa, Sở Văn hóa - Thể thao các tỉnh Nam Bộ, các Ban quản lý di tích lịch sử - văn hóa.
    • Chuyên gia giám định cổ vật: Các hội đồng giám định di vật, bảo vật quốc gia và hệ thống bảo tàng công lập/ngoài công lập.
  • Các phần nội dung đáng tham khảo:
    • Danh mục bản vẽ kiến trúc chi tiết (mặt bằng, mặt cắt, mặt đứng tỷ lệ 1/200 của các lăng Thoại Ngọc Hầu, Võ Di Nguy, Lê Văn Toại...).
    • Kết quả phân tích thành phần khoáng vật học của vật liệu hợp chất kiến trúc (Bảng 3.5 và phiếu phân tích mẫu).
    • Bảng thống kê, phân loại và giám định 523 di vật tùy táng lăng Thoại Ngọc Hầu (mão vàng Hổ đầu, đồ thủy tinh, thoi bạc).
    • Hệ thống bản dập và khảo chứng văn bia Hán Nôm các quan lại đầu triều Nguyễn (Thoại Ngọc Hầu, Trịnh Hoài Đức, Nguyễn Huỳnh Đức, Phạm Đăng Hưng...).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án nghiên cứu đối tượng nào và giới hạn trong khung thời gian - không gian nào?

Luận án nghiên cứu tổng thể hệ thống lăng mộ quan lại cao cấp thời Nguyễn tại Nam Bộ (từ Tam phẩm trở lên) cùng thân quyến trên cả hai phương diện kiến trúc và di vật tùy táng, trọng tâm là khu lăng Thoại Ngọc Hầu (Châu Đốc, An Giang). Phạm vi không gian là toàn bộ vùng đất Nam Bộ (có mở rộng so sánh với miền Trung và miền Bắc); phạm vi thời gian từ năm 1780 (Nguyễn Ánh xưng Vương tại Gia Định) đến năm 1874 (ký Hiệp ước Giáp Tuất chuyển giao Nam Bộ cho Pháp).

2. Phát hiện khảo cổ học năm 2010 tại lăng Thoại Ngọc Hầu thu được khối lượng di vật như thế nào?

Trong quá trình tu bổ lăng Thoại Ngọc Hầu năm 2010, các nhà khảo cổ học đã phát hiện 523 di vật tùy táng chôn bên cạnh mộ Thoại Ngọc Hầu và chính thất phu nhân Châu Thị Tế. Sưu tập bao gồm: mão Hổ đầu trang sức vàng dát mỏng chạm rồng/hoa cúc; các đồ thủy tinh nhập khẩu (thố màu tím, thố trắng, ống nhổ, chai rượu, lọ hít); đồ đồng sinh hoạt (chân đèn, ống nhổ, lồng ấp); và các thoi bạc chuẩn thời Nguyễn.

3. Thư tịch cổ triều Nguyễn (KĐĐNHĐSL và Luật Gia Long) quy định quy thức mồ mả quan lại ra sao?

Theo KĐĐNHĐSL (Quyển 187) và Hoàng Việt luật lệ (Quyển IX):

  • Đất để mộ tính theo phẩm trật: Nhất phẩm được 90 bước (hoặc 90 thước), Nhị phẩm 80 bước, Tam phẩm 70 bước, Tứ phẩm 60 bước.
  • Biểu tượng và bia mộ: Quan từ Tam phẩm trở lên được đặt 6 con thú đá; Tứ phẩm đến Ngũ phẩm đặt 4 con thú đá; Ngũ phẩm trở lên dùng bia rùa đầu si; Lục phẩm trở xuống dùng mốc đá tròn bệ vuông hoặc bia hình lưỡi búa; thứ dân chỉ dùng mộ chí bằng đá trong phạm vi 9 - 18 bước.

4. Thành phần vật liệu hợp chất ô dước xây dựng lăng mộ Nam Bộ gồm những chất liệu gì?

Căn cứ ghi chép trong Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức và kết quả phân tích khoáng vật (Bảng 3.5), hợp chất ô dước gồm các thành phần chính: cát mịn, vôi (từ vỏ sò/san hô nung), bột đá ong, than tre kết hợp với chất kết dính hữu cơ từ mật mía và chất nhớt của vỏ, lá cây Bời Lời (đất tam hợp/tam hòa), tạo nên khối liên kết siêu cứng, chống thấm nước và bảo vệ thi hài bên trong kim tĩnh.

5. Những lăng mộ danh tướng, đại thần tiêu biểu nào được khảo sát kiến trúc trong luận án?

Luận án khảo sát, đo vẽ mặt bằng và lập hồ sơ kiến trúc của hàng loạt danh thần thời Nguyễn tại Nam Bộ: Thoại Ngọc Hầu (An Giang); Lê Văn Duyệt, Võ Di Nguy, Trương Tấn Bửu, Phạm Quang Triệt, Phạm Duy Trinh, Lê Văn Phong, Trần Văn Học (Thành phố Hồ Chí Minh); Trịnh Hoài Đức, “Thiên vương Thống chế” (Đồng Nai); Nguyễn Huỳnh Đức (Long An); Nguyễn Văn Tồn (Vĩnh Long); Phạm Đăng Hưng (Tiền Giang); cùng khu lăng mộ dòng họ Mạc Cửu (Hà Tiên - Kiên Giang).


Kết luận

Luận án là công trình nghiên cứu khảo cổ học chuyên khảo, hệ thống hóa toàn diện hệ thống lăng mộ quan lại đại thần triều Nguyễn ở Nam Bộ và khối di vật tùy táng tiêu biểu tại lăng Thoại Ngọc Hầu. Tác giả đã giải mã cấu trúc kiến trúc âm - dương, kỹ thuật đúc vật liệu hợp chất ô dước cổ truyền, nội dung văn bia Hán Nôm và phân loại khoa học các bộ sưu tập hiện vật tùy táng cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX. Kết quả nghiên cứu không chỉ bổ sung nguồn tư liệu thực chứng chuẩn xác cho khảo cổ học mộ táng và lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ, mà còn cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp cho công tác giám định cổ vật, bảo tồn, phục hồi và quy hoạch di sản văn hóa thời Nguyễn trong bối cảnh hiện nay.