Chương 1: Tổng quan tư liệu (33 trang) Nội dung tập trung giới thiệu các tư liệu nghiên cứu liên quan đến hệ thống lăng Thoại Ngọc Hầu nói riêng và lăng mộ thời Nguyễn ở Nam Bộ nói chung qua các giai đoạn lịch sử. Nghiên cứu tổng hợp về vị trí địa lý, lịch sử hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ; lịch sử hình thành và phát triển các loại hình táng tục vùng đất Nam Bộ trong lịch sử. Nghiên cứu thao tác hóa khái niệm liên quan đến đề tài như lăng, lăng mộ, mộ…; di vật, di vật tùy táng và các loại hình tên gọi, kiểu thức và trang trí kiến trúc lăng mộ. Chương 2: Lăng Thoại Ngọc Hầu: Kiến trúc và di vật (62 trang) Tác giả tập trung nghiên cứu lăng Thoại Ngọc Hầu dưới góc độ tiếp cận khảo cổ học và phương pháp nghiên cứu liên ngành để nhận diện và làm rõ được các đặc điểm về vị trí địa lý, lịch sử vùng đất Châu Đốc; không gian cảnh quan, bố cục mặt bằng, kết cấu và trang trí kiến trúc; cùng với đó là các loại hình tư liệu Hán Nôm như văn bia, liễn đối, thơ văn.
Đặc biệt là việc nghiên cứu hệ thống hóa các nguồn tư liệu về di vật tùy táng tìm thấy trong khu lăng Thoại Ngọc Hầu với nhiều phát hiện mới, cung cấp cho khảo cổ học nguồn tư liệu giá trị để nghiên cứu về lăng mộ Việt Nam trong lịch sử một cách toàn diện. Đồng thời cung cấp cho lịch sử, văn hóa nhiều nguồn tư liệu 11 liên quan đến lịch sử Việt Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng giai đoạn -XIX qua việc nghiên cứu nguồn gốc xuất xứ, niên đại và những vấn đề lịch sử văn hóa ẩn chứa đằng sau di vật tùy táng tìm thấy trong khu lăng Thoại Ngọc Hầu. Chương 3: Lăng mộ thời Nguyễn ở Nam Bộ (55 trang). Tác giả tập trung giới thiệu hệ thống lăng mộ thời Nguyễn với các đặc điểm, đặc trưng về lịch sử xây dựng; đặc điểm kiến trúc và trang trí kiến trúc; đặc điểm hệ thống di vật tùy táng tìm thấy trong các lăng mộ thời Nguyễn ở Nam Bộ.
Trên cơ sở nghiên cứu có hệ thống dưới góc độ đặc điểm kiến trúc và di vật tùy táng của lăng mộ thời Nguyễn ở Nam Bộ, tác giả đặt hệ thống lăng mộ thời Nguyễn ở Nam Bộ trong so sánh với hệ thống lăng mộ Việt Nam thời Nguyễn và một số giai đoạn trước đó. Từ đó góp phần bổ sung về mặt lý luận và thực tiễn, đặc biệt là đối với khảo cổ học mộ táng nói chung và nghiên cứu lăng mộ Việt Nam trong lịch sử nói riêng. 12 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TƢ LIỆU 1. Khái quát về lịch sử hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ Nam Bộ Việt Nam phân theo khu vực địa lý hiện nay nằm trong khoảng tọa độ địa lý 8032’32” đến 12017’48” Vĩ độ Bắc; 104024’ đến 107032’ Kinh độ đông.
Phía Tây giáp Vịnh Thái Lan, phía Đông và Đông nam giáp Biển Đông; phía Bắc và Tây bắc giáp Campuchia và một phần Nam Tây Nguyên, Nam Trung Bộ. Tổng diện tích tự nhiên khoảng 64. Phân theo vùng, Nam Bộ chia làm hai khu vực Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, gồm 17 tỉnh và 02 thành phố trực thuộc Trung ương: TP.HCM, các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh (Đông Nam Bộ); TP.Cần Thơ, Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Đồng Tháp, Hậu Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau. Điều kiện địa lý tự nhiên Lịch sử thành tạo vùng đất Nam Bộ đã trải qua bốn giai đoạn: Địa hào từ Đại cổ sinh, trở thành một vịnh biển mênh mông trong Đại trung sinh và hình thái châu thổ được phác họa trong quá trình biển thoái vào Đại tân sinh; Châu thổ Nam Bộ hiện nay được định hình sau đợt biển tiến Flandrian từ khoảng 18.
Lúc đầu mực nước dâng nhanh, cả vùng Đông Nam Á đã bị hạ xuống, khiến cho biển tràn vào những vùng thấp như đồng bằng sông Cửu Long ngày nay. Vịnh Thái Lan được hình thành từ đó. Vùng Hà Tiên – Rạch Giá vào thời kỳ này nằm ở vùng giáp ranh giữa biển và đất liền [14]. Nam Bộ có độ cao trung bình từ vài mét đến khoảng 200m, gồm có những bề mặt cao nguyên thấp và những đồi lượng sóng, ít bị chia cắt sâu.
Đây là khu vực mang tính địa hình chuyển tiếp từ vùng cao nguyên đất đỏ ở Nam Đông Dương xuống các bậc thềm đồi đá phiến và bazan, phù sa cổ phù hợp với quy mô của sông Cửu Long.11 -12] Nhìn chung, những hoạt động địa chất kỷ thứ 4 (1,6 triệu năm trước đây) đã để lại trên địa hình Nam Bộ những bậc thềm sông và thềm biển cổ: miền Đông Nam Bộ, các bậc thềm sông do hoạt động của sông Đồng Nai và có thể cả sông Cửu 13 Long để lại ở độ cao 50 – 70m trải dài từ Bình Phước đến Biên Hòa; tiếp đến là độ cao 25 -35m phân bố từ Tây Ninh qua Đồng Nai đến Bà Rịa; ở độ cao 10 -15m dọc theo các con sông suối. Bán đảo Cà Mau hình thành trong thời kỳ Toàn tân giữa – muộn (6.000 năm trở lại đây) do phù sa sông Mêkông qua hạ lưu của nó trên đất Việt là sông Tiền và sông Hậu. Trước đó, đường bờ biển cổ Nam Bộ chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam từ miền Đông qua vùng Tri Tôn – Bảy Núi – Hà Tiên (ở An Giang và Kiên Giang) ngày nay [57, tr. Về khí hậu, Nam Bộ nằm trong vùng đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa và cận xích đạo.
Nhiệt độ trung bình toàn Nam Bộ dao động khoảng từ 250C đến 290, trung bình 26,90C. Độ ẩm tương đối cao từ 80 đến 82%, tạo khí hậu luôn mát mẻ, chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4. Sách Gia Định thành thông chí (GĐTTC) của Trịnh Hoài Đức chép: “Phương Nam thuộc về quẻ Ly, là nơi mặt trời và nơi lửa nóng. Người ở gần biển miền Gia Định thường thấy trước mặt trời mọc, hình thể rất lớn, vì biển Nam ở cách hang mặt trời không xa, cho nên thấy mặt trời lớn hơn…Khí hậu Gia Định thường nóng.
Cuối mùa Xuân mới bắt đầu mưa, đến mùa Hè là mùa mưa, Thu hay mưa rào, nhiều khi mưa to như đổ nước, nhưng chỉ trong 1 đến 2 giờ rồi tạnh ngay. Tuy bốn mùa có mưa, mà đến khí đông hơi lạnh. Khí hậu không thường, bốn mùa đều có hoa nở và thơm nhiều…” [19, tr.16-17] Tất cả các điều kiện thuận lợi về tự nhiên ở trên, từ thời tối cổ đến thời nay, nơi đây luôn thu hút được sự tập trung dân cư sinh sống và khai thác trên các khu vực thềm phù sa cổ và ven các con sông lớn, kênh rạnh ở Nam Bộ. Lịch sử hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ Khảo cổ học đã chứng minh từ cách đây hàng chục vạn năm, trên vùng đất Nam Bộ đã có người cổ sinh sống với các dấu tích văn hóa sơ kỳ đá cũ ở Đồng Nai, Bình Dương… được tìm thấy.
Bước sang hậu kỳ thời đại đá mới, sơ kỳ đồ đồng, cư dân vùng đất này đã tạo dựng nên một nền văn hóa phát triển dựa trên nền tảng nghề trồng lúa nước. Các di 14 chỉ được phát hiện dọc theo lưu vực sông Đồng Nai với những diễn biến khá liên tục từ Cầu Sắt, Bến Đò, Phước Tân, Cù Lao Rùa, Dốc Chùa, Cần Giờ…cho thấy toàn bộ quá trình lịch sử này đã có cơ sở vững chắc trên nền văn hóa bản địa – văn hóa Đồng Nai [27, tr.13] Trên cơ nền văn hoá tiền sơ sử Đồng Nai cùng nhiều yếu tố nội sinh khác, kết hợp với giao lưu văn hoá với thế giới bên ngoài, trong những thế kỷ đầu Công nguyên, vùng đất Nam Bộ được biết đến vương quốc Phù Nam – văn hoá Óc Eo qua các nguồn ghi chép từ các nguồn sử liệu và thực địa khai quật khảo cổ học của người Pháp và giai đoạn sau này của khảo cổ học Việt Nam. Vương quốc Phù Nam và văn hoá Óc Eo được các nhà nghiên cứu đánh giá là một nền văn minh phát triển rực rỡ ở Đông Nam Á, niên đại kéo dài từ những thế kỷ cuốn trước Công nguyên, đến khoảng thế kỷ thứ 7 sau Công nguyên. Thế kỷ thứ 7, lợi dụng lúc nước Phù Nam suy yếu, nước Bhavacura (người Trung Quốc gọi là Chân Lạp) được hình thành từ một thuộc quốc của Phù Nam có địa bàn hoạt động từ Đông Bắc Campuchia hiện nay xâm chiếm.
Và khi đó, người Chân Lạp mới đặt chân lên vùng đất Nam Bộ… Chân Lạp là một quốc gia hoàn toàn khác Phù Nam. Nhà nước Chân Lạp đã hình thành phát triển ở vùng trung lưu sông Mêkông, cư dân lấy nông nghiệp làm nghề sống chính. Còn Phù Nam là một quốc gia ven biển, có truyền thống thương nghiệp, trong đó có cả hoạt động thương hải. Phù Nam từng là một vương quốc hùng mạnh, có một số thuộc quốc, trong đó có Chân Lạp.
Nước Chân Lạp sau khi xâm chiếm được Phù Nam, tiếp tục mở rộng, bao gồm một phần lãnh thổ phía Tây Nam Bộ Việt Nam ngày nay. Năm 706, nước Chân Lạp lại chia làm hai: Lục Chân Lạp mà trung tâm là khu vực Biển Hồ thuộc Campuchia và Cò Rạt thuộc Thái Lan ngày nay; và Thủy Chân Lạp ở hạ lưu sông Mêkông (Nam Bộ Việt Nam ngày nay). Sau đó Chân Lạp lại bị nước Java chiếm, đến năm 802 mới khôi phục lại được quyền tự do và rút về phía Bắc Biển Hồ. Đó là địa bàn chủ yếu của người Khmer… [14, tr.585-589] 15 Thế kỷ 13, sứ thần Trung Hoa là Chu Đạt Quan đến vùng đất Nam Bộ đã viết trong tác phẩm Chân Lạp phong thổ ký của mình về vùng đất Nam Bộ như sau: “Bắt đầu vào Chân Bồ (vùng cửa sông Tiền Giang), phần lớn là rừng thấp cây rậm.
Sông dài cảng rộng, kéo dài mấy trăm dặm cổ thụ rậm rạp, mây leo um tùm, tiếng chim muông chen lẫn nhau ở đó. Đến nửa cảng mới thấy đồng ruộng rộng rãi, tuyệt không có một tấc cây. Nhà ra xa chỉ thấy cây lúa, rờn rờn mà thôi. Trâu rừng họp thành từng đàn trăm ngàn con, tụ tập ở đấy.
Lại có giồng đất đầy tre dài dằng dặc mấy trăm dặm. Loại tre đó đốt có gia, măng rất đắng. Bốn mặt đều có núi cao”.