Tổng quan luận án

Văn bản học Hán Nôm về đề tài Kham dư (hay Phong thủy) là một bộ phận chuyên biệt trong khối di sản thư tịch cổ Việt Nam. Luận án tiến sĩ chuyên ngành Hán Nôm với đề tài "Nghiên cứu văn bản kham dư Hán Nôm Việt Nam tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm" đã giải quyết khoảng trống trong việc tổng kiểm kê, khảo sát văn bản học và minh giải giá trị của hệ thống tư liệu này.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Kham dư 堪輿 là bộ môn văn hóa truyền thống về môi trường và kiến trúc có nguồn gốc từ Trung Quốc cổ đại, vận dụng lý thuyết Âm Dương - Ngũ hành để nghiên cứu mối quan hệ giữa con người và cảnh quan tự nhiên. Trong tiến trình lịch sử, tri thức Kham dư đã du nhập vào Việt Nam qua nhiều con đường (hoạt động của quan lại đô hộ thời Bắc thuộc, các sứ thần đi sứ, người Việt sang học tập, các dòng họ di cư lánh nạn, và sự truyền bá của các nhà sư). Tại Việt Nam, hệ thống tri thức này đã được bản địa hóa và ghi chép trong nhiều văn bản chữ Hán và chữ Nôm.

Trước khi luận án thực hiện, nguồn tư liệu Kham dư Hán Nôm lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (VNCHN) chưa từng được thống kê định lượng đầy đủ, chưa được phân loại, giám định văn bản học hay xác định thiện bản một cách có hệ thống. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận dưới dạng dịch thuật phổ thông ứng dụng, khảo sát cục bộ một tác giả/tác phẩm riêng lẻ, hoặc chỉ dừng lại ở các mục ghi ngắn gọn trong thư mục đề yếu. Do đó, việc nghiên cứu toàn diện văn bản Kham dư Hán Nôm tại VNCHN là một yêu cầu khoa học nhằm khai thác, bảo tồn và đánh giá khách quan mảng di sản văn hóa thành văn này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là hệ thống hóa toàn bộ văn bản, tác phẩm Kham dư Hán Nôm Việt Nam lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm; khai thác, nghiên cứu và chứng minh giá trị khoa học cũng như ý nghĩa thực tiễn được phản ánh trong các tác phẩm; từ đó đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị nguồn di sản văn hóa truyền thống này.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định theo 3 nội dung cụ thể:

  1. Thống kê định lượng và hệ thống hóa văn bản Kham dư Hán Nôm hiện đang lưu trữ tại VNCHN, phân tích đặc điểm văn bản và xác định thiện bản để nghiên cứu.
  2. Giới thiệu thân thế, sự nghiệp và trước tác Kham dư của một số tác giả tiêu biểu có tác phẩm lưu giữ tại VNCHN.
  3. Nghiên cứu, khai thác các giá trị tư tưởng, văn hóa và thực tiễn của Kham dư trong đời sống xã hội truyền thống và đương đại của người Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ các văn bản Kham dư Hán Nôm hiện đang lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (tổng cộng 46 tác phẩm tương ứng với 60 văn bản/ký hiệu thư viện). Ngoài ra, luận án có tham khảo đối sánh với văn bản ngoài viện như Thiên Nam địa lý cách ngôn toàn tập (ký hiệu R.2221 tại Thư viện Quốc gia Việt Nam).
  • Phạm vi không gian và thời gian: Phạm vi tư liệu tập trung vào kho sách Hán Nôm tại VNCHN, khảo sát các văn bản có niên đại trải dài từ thời Trần (với tác phẩm của Chu Văn An ghi niên đại 1340) đến đầu thế kỷ XX (thời Nguyễn - Khải Định). Phạm vi nội dung giới hạn ở các phương diện văn bản học, tác gia học, khảo sát hệ thống long mạch - huyệt đạo và các giá trị văn hóa, môi trường, xã hội học thuật.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Tác giả luận án đã phân loại và điểm lại các công trình nghiên cứu liên quan theo 3 nhóm chính:

  1. Nghiên cứu về Kham dư tại Trung Quốc:

    • Các trước tác cổ điển: Thôi quan thiên của Lại Văn Tuấn (thời Tống), Kham dư biện hoặc của Từ Bột (thời Minh), Táng kinh chú của Ngô Nguyên Âm (thời Thanh).
    • Các công trình hiện đại: Đàm Dưỡng Ngô (1923, 1924) với Đại tam nguyên huyền không phong thủy; Bạch Hạc Minh (1983) với Phong thủy tùy bút; Lưu Tường Quang với Sự phát triển mở rộng của văn hóa Phong thủy đời Tống; Vương Kỳ Hanh (1992, Đại học Thiên Tân) chủ biên cuốn Nghiên cứu lý luận Phong thủy; Thiệu Vĩ Hoa (2004) với Phong thủy toàn thư Trung Quốc; Cao Hữu Khiêm với Văn hóa Phong thủy Trung Quốc; Hồ Triệu Đài (2015) với Phong thủy Dương trạch chỉ nam.
  2. Các công trình biên dịch nước ngoài tại Việt Nam:

    • Biên dịch từ tiếng Trung: Vương Ngọc Đức (1996, Trương Huyền dịch), Ngô Bạch (1997), Hồ Kinh Quốc (2001), Lưu Bá Ôn (Địa lý toàn thư, Lê Khánh Trường và Lê Việt Anh dịch, 2001; Phong thủy đại sư, Anh Vũ và Kim Đồng dịch, 2002), Tống Thiều Quang (2002, Nguyễn Văn Đức dịch), Du Khổng Kiên (2005), Thạch Sơn Thủy (2008), Lý Đức Hùng (2010), Vu Dũng và Vu Hy Hiền (2010), Vương Quân Vinh (2011), Triệu Ngọc Tài (2013, Thu Hiền dịch).
    • Biên dịch từ các ngôn ngữ khác: Terah Kathryn Collins (2001), Gill Hale (2006, Vũ Tài Hoa dịch), Lillian Too (2008, 2012, Nguyễn Mạnh Thảo dịch), Raymond Lo (2008, Phạm Gia Minh dịch), Ingrid Zhang (2010), Kimhactv (2012), Cheryl Grace (2014).
  3. Nghiên cứu, biên soạn và dịch thuật văn bản Hán Nôm tại Việt Nam:

    • Thư tịch cổ: Tang thương ngẫu lục (Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án), Lịch triều hiến chương loại chí - Văn tịch chí (Phan Huy Chú), Tự Đức thánh chế tự học giải nghĩa ca (1897), Nam hải dị nhân và Việt Nam phong tục (Phan Kế Bính).
    • Các công trình học thuật thế kỷ XX - XXI: Hoàng Xuân Hãn (1952) với La Sơn Phu Tử; Trần Văn Giáp (1984) trong Tìm hiểu kho sách Hán Nôm (tập 1, mục Sơn xuyên lý lộ); Trần Nghĩa và François Gros (1993) đồng chủ biên Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu; Cao Trung (1969, 1974, 1975, 1998) dịch các tác phẩm địa lý Tả Ao; Thọ Nhân (2001, Tạp chí Hán Nôm); Nguyễn Quốc Khánh (2015, Luận văn Thạc sĩ tại Học viện Khoa học xã hội về Tả Ao chân truyền địa lý; cùng các bài báo khoa học các năm 2016, 2017); Trần Trọng Dương (Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển).

Khoảng trống luận án giải quyết

Luận án chỉ ra rằng phần lớn các ấn bản lưu hành trên thị trường mang tính thực hành ứng dụng hoặc sao lục tản mạn, thiếu sự khảo chứng văn bản học nghiêm ngặt. Việc nghiên cứu thư tịch Hán Nôm về Kham dư trước đây chưa xử lý toàn bộ kho tài liệu tại VNCHN, chưa đính chính những sai sót trong biên mục của Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu, chưa xác lập hệ thống thiện bản và chưa phân tích các trước tác của các danh nhân lịch sử như Chu Văn An, Lê Hoàng, Trịnh Tùng dưới góc độ văn bản học.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án vận dụng các lý thuyết và khái niệm nền tảng của học thuật Đông phương và chuyên ngành Hán Nôm:

  • Cơ sở học thuật Kham dư: Vận dụng lý luận của hai trường phái chính:
    • Phái Hình thế (phái Loan đầu): Bắt nguồn từ Giang Tây (Dương Quân Tùng, Tăng Văn Thuyên, Lại Đại Hữu, Tạ Tử Nghĩa), chú trọng khảo sát loan đầu, long mạch, sa, thủy, huyệt vị, thế núi dòng sông thông qua "phép xem núi nếm nước" (khán sơn thưởng thủy pháp) và "phép sơn hoàn thủy bão".
    • Phái Lý khí: Vận dụng Dịch lý, Âm Dương, Ngũ hành, Hà Đồ, Lạc Thư, Bát quái (Tiên thiên, Hậu thiên), Cửu tinh, Thập nhị Địa chi, Thần sát, Nạp âm; chú trọng phương vị la bàn và các phân phái (Tam nguyên, Tam hợp, Thiên tinh, Bát trạch, Huyền không phi tinh).
  • Khung phân tích văn bản học và văn hóa học: Dựa trên quan điểm bảo tồn di sản văn hóa thành văn, kết hợp phương pháp luận ngữ văn Hán Nôm, văn hiến học và lịch sử tư tưởng.

Phương pháp nghiên cứu

  1. Phương pháp văn bản học: Thống kê định lượng toàn bộ văn bản; đối chiếu, phân loại tình trạng vật lý (bản in, bản chép tay, kích thước, số trang, con dấu cú đậu, hình vẽ); khảo sát niên đại và nguồn gốc truyền bản; đính chính tên sách và lỗi biên mục; xác định thiện bản để phục vụ khảo cứu và phiên dịch.
  2. Phương pháp thông diễn học (thuyên thích học): Giải nghĩa, phiên âm, dịch nghĩa hệ thống thuật ngữ chuyên môn, văn tự cổ và các đồ hình Kham dư phức tạp trong văn bản.
  3. Phương pháp phân tích - so sánh: So sánh liên văn bản giữa các dị bản cùng tên; đối sánh các yếu tố địa lý - phong thủy nguyên gốc từ Trung Quốc với quá trình khúc xạ, bản địa hóa trên địa hình và phong tục Việt Nam.
  4. Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp tri thức ngữ văn Hán Nôm với địa lý học lịch sử, kiến trúc truyền thống, văn hóa học và xã hội học tôn giáo.

Nguồn tư liệu

Nguồn tư liệu cốt lõi là 46 tác phẩm (gồm 60 văn bản/ký hiệu) hiện lưu trữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, kết hợp các tài liệu chính sử như Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lục, văn bia và các tác phẩm tham chiếu tại Thư viện Quốc gia.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và định hướng nghiên cứu

Chương này làm rõ lịch sử hình thành khái niệm, quá trình du nhập, phát triển và lịch sử nghiên cứu bộ môn Kham dư:

  • Khái niệm và nguồn gốc: Thuật ngữ Kham dư 堪輿 ban đầu là tên một vị thần sáng tạo đồ trạch thư hoặc chỉ 12 vị thần chiêm bốc. Theo Hứa Thận thời Đông Hán: "Kham là đạo trời, Dư là đạo đất". Từ thời Tùy - Đường trở đi, Kham dư đồng nghĩa với thuật tướng trạch (Dương trạch) và tướng mộ (Âm trạch), hay còn gọi là Phong thủy, Địa lý, Thanh ô thuật.
  • Tiến trình du nhập và phát triển tại Việt Nam:
    • Thời Bắc thuộc: Gắn liền với các nhân vật như Sĩ Nhiếp, Mã Viện và đặc biệt là Cao Biền (Giao Châu Đô hộ sứ 865–875), người được giao nhiệm vụ vẽ bản đồ, khảo sát các huyệt đạo ở miền Bắc và biên soạn các sách như An Nam cửu long kinh, An Nam cửu long ca, An Nam địa cảo lục, Cao Biền di cảo.
    • Thời Đinh - Lý: Vua Đinh Tiên Hoàng sai Trần Quốc Kiệt soạn Thiên Nam hình thắng ca và chú giải sách của Cao Biền. Vua Lý Thái Tổ ban chiếu Thiên đô chiếu (1010) thể hiện tầm nhìn địa lý phong thủy khi chọn Đại La (Thăng Long) làm kinh đô ("ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng chầu hổ phục, tiện nghi núi sông sau trước"). Mâu Du Đô soạn Dã đàm.
    • Thời Trần: Năm 1248 (Mậu Thân), triều đình cử các nhà Kham dư đi trấn yểm các nơi có vượng khí đế vương (như đào sông Bà Lễ, đục núi Chiêu Bạc ở Thanh Hóa). Xuất hiện trước tác của danh nho Chu Văn An.
    • Thời Lê sơ - Mạc - Lê Trung hưng - Tây Sơn: Tinh thần Nho giáo hòa quyện với phong thủy, coi trọng việc mồ mả tổ tiên báo hiếu để phát tích khoa cử. Sự kiện chúa Nguyễn Hoàng dựng chùa Thiên Mụ (1601) trên gò Hà Khê; chúa Trịnh Cương dời phủ đệ về đất Cổ Bi (phủ Kim Thành). Các tác gia tiêu biểu: Tả Ao (Hoàng Chiêm), Đặng Tán, Trần Phỉ, Lê Hoàng (Hòa Chính), Lê Bá Thư.
    • Thời Nguyễn: Triều đình chú trọng phong thủy trong quy hoạch kiến trúc (Nguyễn Hoàng viết tựa Ngự đề danh thắng đồ hội thi tập; triều đình cử quan khảo sát sông Vĩnh Điện, sông Ái Nghĩa, dời tỉnh thành Quảng Nam về Mỹ Khê).

Chương 2: Khảo sát văn bản Kham dư Hán Nôm Việt Nam tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Chương này thực hiện việc thống kê, mô tả thư mục học chi tiết và phân tích đặc điểm văn bản học của 46 tác phẩm (60 văn bản):

Tiêu chí phân loại Số lượng Tỷ lệ (%) Ghi chú cụ thể
Hình thức văn bản
- Bản chép tay 47 bản (41 tác phẩm) 78,3% Viết chữ chân phương, có dấu cú đậu son, kèm hình đồ
- Bản in khắc gỗ 13 bản (5 tác phẩm) 21,7% In tại các hiệu: Thành Lợi, Nghĩa Lợi, Liễu Văn Đường
Ghi nhận niên đại
- Có ghi niên đại (soạn/in/chép) 20 bản (11 tác phẩm) 33,33% Soạn sớm nhất: 1340 (Chu thị di thư), 1678 (Trùng đính thiên Nam danh địa)
- Không ghi niên đại 40 bản (35 tác phẩm) 66,67% Truyền bản dân gian qua nhiều thế hệ
Ghi nhận tác giả
- Có ghi tên tác giả 38 bản (32 tác phẩm) 63,33% Tác giả Việt Nam và Trung Quốc (Cao Biền, Hoàng Phúc)
- Có ghi người sao chép 5 bản (3 tác phẩm) 8,33% Ví dụ: Phạm Xuân Lộc chép Quách thị địa lý tiết yếu (1916)
- Khuyết danh hoàn toàn 17 bản (11 tác phẩm) 28,34% Khuyết tên người soạn lẫn người sao

Chương 2 mô tả tường tận từng văn bản về kích thước, số trang, thủ bút, dị bản và nội dung cốt lõi:

  • Đính chính Thư mục đề yếu (TMĐY): Chỉ rõ 04 trường hợp TMĐY chua thêm tên sai lệch hoặc gây nhầm lẫn:
    1. Bản Địa lý gia truyền (VHb.76) bị TMĐY chua thêm tên Tả Ao địa lý.
    2. Bản Địa lý tâm ấn bí chỉ thiên (VHv.596) bị TMĐY nhầm lẫn ghi thêm tên Lĩnh Nam Nguyễn thị tâm ấn bí chỉ thiên.
    3. Bản Địa lý đồ chí (A.1511) bị TMĐY ghi thêm Địa lý cảo và Địa lý Hoàng Phúc cảo.
    4. Bản An Nam cửu long ca (VHv.482) bị TMĐY ghi nhầm thành An Nam cửu long kinh.
  • Các khối nội dung cơ bản trong văn bản: Hệ thống hóa các nội dung về nguyên lý Âm Dương - Ngũ hành; cấu tạo và cách sử dụng la bàn (phân kim 24 sơn); phương pháp tầm long tróc mạch (tam đại cán long Việt Nam); phân loại huyệt đạo (huyệt chính, huyệt bàng, huyệt phát đế vương, công hầu, văn võ quan, quý phi, phú quý); các nguyên tắc quy hoạch Dương trạch (nhà ở, đình, chùa) và táng pháp Âm trạch.

Chương 3: Nghiên cứu một số tác gia Kham dư Hán Nôm Việt Nam

Chương này tập trung khảo cứu tiểu sử, hành trạng và giám định trước tác của 4 tác gia tiêu biểu:

  1. Tác gia Chu Văn An: Đại danh nho thời Trần. Luận án khảo sát tác phẩm Thanh trì Quang Liệt Chu thị di thư (gồm 3 bản: A.843, VHv.2711, VHv.2712). Tác phẩm gồm 28 chương lý luận địa đạo, 96 cách xem hình thế huyệt, 10 chương xem thiên văn (chiêm tinh học) và 7 bài thuốc Nam chữa bệnh.
  2. Tác gia Nguyễn Đức Huyên: Khảo cứu hoàn cảnh xuất thân, dòng họ và các trước tác Kham dư mang tính gia truyền lưu giữ tại VNCHN.
  3. Tác gia Lê Hoàng (hiệu Hòa Chính Tử): Người xã Thanh Cương, huyện Sơn Minh (hoặc xã La Tòng, Kim Bảng; quê ngoại Nông Cống, Thanh Hóa), xưng hiệu "Phong thủy chân nhân" thời Mạc. Trước tác gồm: Hòa Chính địa lý (A.2153), Lưu Xá Hòa Chính bí truyền địa pháp (A.1405), Thiên Nam địa lý cách ngôn toàn tập (R.2221).
  4. Tác gia Trịnh Tùng (Bình An Vương): Khảo sát văn bản Trịnh Tùng vấn phong thủy sách văn (A.2265), ghi lại các câu hỏi về phong thủy trị quốc của chúa Trịnh Tùng và 4 bài phụng đối trả lời của Hòa Chính.

Chương 4: Nghiên cứu giá trị nội dung của tác phẩm Kham dư Hán Nôm Việt Nam

Chương 4 đúc kết các giá trị tư tưởng, văn hóa và thực tiễn của kho tàng trước tác Kham dư Hán Nôm:

  • Sự hòa đồng tư tưởng Tam giáo và tín ngưỡng bản địa: Tinh thần dung hợp Nho - Phật - Đạo thể hiện rõ trong quan niệm luân hồi, 3 hồn 7 vía (nam) / 9 vía (nữ), sự tích tụ linh khí non sông. Yếu tố tín ngưỡng thể hiện qua tục thờ thần thủ huyệt và các bài văn khấn khi hạ huyệt.
  • Đạo hiếu Nho gia: Việc tìm đất táng mộ tổ tiên được xem là sự tiếp nối của lòng hiếu thảo, với quan niệm xương cốt tiền nhân khi chưa tan thành đất thì vong hồn luôn bảo hộ và truyền phúc ấm cho con cháu.
  • Tư tưởng khuyến học và mạch đất khoa cử: Văn bản ghi chép chi tiết các thế đất kết phát quan văn, đỗ đạt Trạng nguyên, Tiến sĩ (gắn với các danh nhân như Nguyễn Trực, Vũ Duệ, Nguyễn Quang Bật, Nguyễn Giản Thanh...).
  • Con người hòa hợp với cảnh quan môi trường: Thể hiện tư tưởng sinh thái nhân văn qua việc lựa chọn địa điểm lập đô, dựng chùa, lập làng, xây nhà hướng Nam, dựa núi nhìn sông, tránh gió hại, đón khí lành.
  • Ứng dụng cát hung trong đời sống: Phân tích quy chuẩn chọn hướng cửa, phòng ngủ, nhà bếp, giếng nước trong Dương trạch và cách điểm huyệt, phân kim, hóa giải sát khí trong Âm trạch.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận

  1. Tổng kiểm kê và phân loại văn bản học: Luận án là công trình đầu tiên thống kê toàn diện, phân loại định lượng và đối chiếu văn bản học toàn bộ 46 tác phẩm (60 văn bản) Kham dư Hán Nôm hiện có tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
  2. Giám định và đính chính thư mục: Xác định chính xác tình trạng văn bản (chép tay/in, niên đại, tác giả, người sao chép), phát hiện và đính chính các sai sót trong Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu đối với 04 tác phẩm quan trọng (VHb.76, VHv.596, A.1511, VHv.482).
  3. Thống kê định lượng huyệt mạch: Cung cấp số liệu thống kê cụ thể về các đại cán long, huyệt mạch chính, huyệt mạch bàng, các kiểu đất phát văn võ, công hầu, quý phi và phú quý được ghi chép trong thư tịch.
  4. Phục dựng chân dung tác gia: Khảo chứng thân thế, hành trạng và trước tác của các tác giả Kham dư người Việt như Chu Văn An, Nguyễn Đức Huyên, Lê Hoàng (Hòa Chính) và Trịnh Tùng.
  5. Cung cấp công cụ tra cứu chuyên ngành: Xây dựng Bảng thuật ngữ Kham dư Hán Nôm Việt Nam và thực hiện tuyển dịch trọn vẹn văn bản chữ Hán An Nam phong thủy (ký hiệu A.693).

Ý nghĩa thực tiễn và kiến nghị

  • Bảo tồn di sản: Đề xuất giải pháp số hóa, bảo quản đặc biệt đối với các văn bản chép tay quý hiếm và xây dựng cơ sở dữ liệu tra cứu Hán Nôm chuyên ngành.
  • Ứng dụng quy hoạch và kiến trúc: Cung cấp tư liệu khoa học giúp các nhà nghiên cứu kiến trúc truyền thống và quy hoạch cảnh quan tiếp thu kinh nghiệm chọn đất, xử lý môi trường vi khí hậu của tiền nhân.
  • Định hướng văn hóa: Giúp phân biệt rõ giữa giá trị tri thức khoa học môi trường cổ truyền với các yếu tố mê tín dị đoan trong hoạt động phong thủy dân gian.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Phạm vi khảo sát tư liệu: Luận án tập trung chủ yếu vào khối văn bản lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Mặc dù có tham chiếu tài liệu tại Thư viện Quốc gia, luận án chưa thể bao quát hết toàn bộ nguồn tư liệu Kham dư còn tản mát trong các dòng họ, đền chùa hoặc các tủ sách gia đình ngoài dân gian.
  • Tính chất phân tán của truyền bản: Nhiều văn bản Hán Nôm về Kham dư là bản chép tay qua nhiều đời, khuyết danh hoặc khuyết niên đại biên soạn gốc, gây khó khăn cho việc xác định tuyệt đối thời điểm ra đời của nguyên tác.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  1. Mở rộng sưu tầm, kiểm kê các văn bản Kham dư Hán Nôm còn lưu giữ trong các thư viện quốc tế và nguồn tư liệu điền dã trong dân gian.
  2. Phiên dịch và chú giải toàn bộ các tác phẩm Kham dư Hán Nôm tiêu biểu của Việt Nam để xuất bản phục vụ nghiên cứu liên ngành.
  3. Nghiên cứu so sánh sâu hơn về sự khác biệt trong hệ thống thuật ngữ và phương pháp phân kim điểm huyệt giữa Kham dư Việt Nam và Kham dư Trung Hoa.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng học thuật và ứng dụng sau:

  • Nghiên cứu sinh, giảng viên chuyên ngành Hán Nôm và Văn bản học: Sử dụng phương pháp giám định văn bản, cách xử lý dị bản và hệ thống thư mục 46 tác phẩm Kham dư tại VNCHN làm mẫu hình nghiên cứu thư tịch chuyên ngành.
  • Nhà nghiên cứu Lịch sử tư tưởng, Văn hóa học và Tôn giáo học: Tham khảo Chương 3 và Chương 4 để khai thác tư liệu về sự dung hợp Tam giáo, đạo hiếu Nho gia, tín ngưỡng thờ thần thủ huyệt và mối quan hệ giữa phong thủy với truyền thống khoa cử Việt Nam.
  • Kiến trúc sư và nhà nghiên cứu Cảnh quan môi trường: Tham khảo các nguyên lý quy hoạch Dương trạch cổ truyền, cách chọn hướng nhà, bố cục không gian vi khí hậu nhằm ứng dụng có chọn lọc vào thiết kế kiến trúc hiện đại.
  • Cán bộ quản lý di sản và thư viện: Sử dụng các đính chính biên mục của luận án để hoàn thiện hệ thống thông tin thư mục và quản lý tư liệu Hán Nôm.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án đã khảo sát bao nhiêu tác phẩm và văn bản Kham dư Hán Nôm tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm?

Luận án đã thống kê và khảo sát toàn diện 46 tác phẩm tương ứng với 60 văn bản (ký hiệu thư viện). Trong đó, có 47 bản chép tay (chiếm 78,3%) và 13 bản in khắc gỗ (chiếm 21,7%).

2. Luận án đã đính chính những thông tin sai lệch nào trong bộ "Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu"?

Luận án chỉ ra và đính chính 04 trường hợp ghi sai hoặc chua thêm tên không chính xác trong Thư mục đề yếu:

  • Bản ký hiệu VHb.76 có tên đúng là Địa lý gia truyền (TMĐY chua thêm Tả Ao địa lý).
  • Bản ký hiệu VHv.596 có tên đúng là Địa lý tâm ấn bí chỉ thiên (TMĐY nhầm lẫn ghi thêm Lĩnh Nam Nguyễn thị tâm ấn bí chỉ thiên).
  • Bản ký hiệu A.1511 có tên đúng là Địa lý đồ chí (TMĐY ghi thêm Địa lý cảo và Địa lý Hoàng Phúc cảo).
  • Bản ký hiệu VHv.482 có tiêu đề chính xác ở trang đầu là An Nam cửu long ca (TMĐY ghi thành An Nam cửu long kinh).

3. Tác phẩm Kham dư Hán Nôm nào có niên đại biên soạn sớm nhất được ghi nhận trong luận án?

Tác phẩm có niên đại biên soạn sớm nhất được xác định là Thanh trì Quang Liệt Chu氏 di thư (ký hiệu A.843, VHv.2711, VHv.2712) do danh nho Chu Văn An biên soạn vào năm Khai Hựu thứ 12 (1340) đời nhà Trần, và được Lê Xuân Cát chép lại vào năm Tự Đức thứ 3 (1850).

4. Bốn tác gia Kham dư Hán Nôm tiêu biểu được luận án nghiên cứu chuyên sâu trong Chương 3 là những ai?

Bốn tác gia được nghiên cứu chuyên sâu về thân thế, sự nghiệp và trước tác gồm:

  1. Chu Văn An (thời Trần) với tác phẩm Thanh trì Quang Liệt Chu thị di thư.
  2. Nguyễn Đức Huyên với các tác phẩm địa lý gia truyền.
  3. Lê Hoàng (hiệu Hòa Chính Tử, xưng "Phong thủy chân nhân" thời Mạc) với Hòa Chính địa lý và Lưu Xá Hòa Chính bí truyền địa pháp.
  4. Trịnh Tùng (Bình An Vương thời Lê Trung hưng) với văn bản Trịnh Tùng vấn phong thủy sách văn.

5. Văn bản chữ Hán nào được tác giả lựa chọn để tuyển dịch hoàn chỉnh đính kèm luận án?

Tác giả luận án đã tuyển chọn và dịch trọn vẹn tác phẩm An Nam phong thủy (ký hiệu thư viện A.693), gồm 5 quyển chép tay vào năm Gia Khánh thứ 23 (Mậu Dần - 1818) theo bản in Thanh Hoa.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Nghiên cứu văn bản kham dư Hán Nôm Việt Nam tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm" là công trình nghiên cứu văn bản học chuyên sâu, hệ thống hóa toàn diện 46 tác phẩm (60 văn bản) Kham dư Hán Nôm đang lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Luận án đã giám định chính xác các đặc điểm hình thức, niên đại, tác gia, đính chính các sai sót trong thư mục đề yếu trước đây, đồng thời xác lập hệ thống thiện bản tin cậy. Thông qua việc phân tích trước tác của các danh nhân lịch sử và làm rõ các giá trị tư tưởng Nho - Phật - Đạo, đạo hiếu gia đình cùng tri thức sinh thái môi trường bản địa, công trình đã khẳng định vị trí của mảng thư tịch Kham dư trong kho tàng di sản văn hóa dân tộc.