CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ, MÔI TRƯỜNG VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN 1. Lịch sử hình thành vùng Tứ Giác Long Xuyên Vùng TGLX là một bộ phận cấu thành quan trọng của đồng bằng sông Cửu Long, được hình thành bắt nguồn từ sự dịch chuyển vỏ trái đất trong thời kỳ Tân Kiến Tạo và quá trình bồi tụ xen lẫn tác động của thủy triều theo xu hướng hạ thấp dần của mực nước biển qua nhiều giai đoạn lâu dài và liên tục (Biểu đồ 1. Vào cuối Kainozoi (Kỷ Neogen), cách nay khoảng 20 triệu năm, thuộc Cánh Tân (Pleistocene) đã diễn ra hàng loạt sự dịch chuyển xô húc lục địa Ấn Độ vào lục địa châu Á tạo nên các rãnh trượt ngang - dọc, góp phần hình thành khối nâng lớn cho dãy Hymalaya và hàng loạt các khối nâng khác bên cạnh những khu vực sụt lún, đứt gãy.
Đường đứt gãy ở phía nam Đông Dương được gọi là đứt gãy sông Hậu theo hướng đông bắc-tây nam. Vỏ Trái Đất ở khu vực Nam Bộ Việt Nam và một phần lãnh thổ Campuchia bị nứt nhiều nơi, gây ra các khối sụt lún không đều. Sự vận động này thúc đẩy hình thành hai khối nâng lớn ở Nam Trung Bộ Việt Nam và Campuchia, mà xen giữa là các khối sụt lún và đường đứt gãy tạo ra những vùng trũng rộng tới vài chục kilomet, kéo dài hàng trăm kilomet theo hướng tây bắc-đông nam đến tận biển Đông, tạo lòng cho hệ thống sông Cửu Long. Các cụm núi sót ở Nam Bộ cũng hình thành từ quá trình này, phân bố kéo dài gần 100km phân bố trên địa bàn hai tỉnh An Giang và Kiên Giang.
Ở phía đông từ xã Phú Hữu (huyện An Phú) qua xã Vĩnh Tế (Châu Đốc), tập trung cao ở huyện Tịnh Biên và Tri Tôn, đến xã Vọng Thê và Vọng Đông rồi dừng lại ở thị trấn Núi Sập (huyện Thoại Sơn) thuộc tỉnh An Giang. Phía tây của vòng cung núi sót này có các nhóm núi Hòn Đất, Ba Hòn, núi Đá Dựng… ở Kiên Giang, một số rải rác trong vịnh Thái Lan. 7 Sau giai đoạn kiến tạo này, sông Cửu Long trước đây chảy qua miền Đông Nam Bộ (dấu tích để lại là những vùng phù sa cổ tuổi Pliocene và Pleistocene) đã dịch chuyển dần xuống phía nam. Do tác động của hệ thống đứt gãy xuyên Đông Dương hướng tây bắc-đông nam, con sông đã chuyển hướng tại Phnompenh để chảy theo cùng hướng này [155, tr.255], bắt đầu tiến trình hình thành vùng châu thổ rộng lớn, theo đó, con sông đã vận chuyển vật liệu trầm tích xuống các vùng trũng, tạo nên nhóm trầm tích đáy lòng sông.
Dưới tác động của các đợt biển tiến Flandrian (18.000 BP) nước biển đã tràn ngập khắp vùng Nam Bộ, góp phần lấp đầy những thung lũng sông và mở rộng trầm tích biển, đến khoảng 11.000BP thì chấm dứt. Sự kết thúc này tương ứng với thời điểm biển thoái và quá trình hoàn tất nhóm trầm tích Pleistocene mà ngày nay gọi là phù sa cổ. Dấu tích của đợt biển tiến này là các bậc thềm biển cổ ở xung quanh khu vực núi Cấm, núi Dài, núi Phú Cường (huyện Tịnh Biên), nhóm đất trầm tích ở vùng Vĩnh Gia, Lạc Quới (huyện Tri Tôn) thuộc tỉnh An Giang và cụm Hòn Đất (huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang). Trên đồng bằng sông Cửu Long, lớp phù sa cổ có tuổi Pleistocene muộn, hình thành kéo dài đến khoảng 8.
Dải đất xám có kết cấu pha cát, xốp tơi, mềm và nhẹ, độ phì thấp phân bố dọc theo rìa phía bắc của vùng đồng bằng châu thổ phù sa mới, gần như chạy dọc theo biên giới Campuchia, từ khu vực Bảy Núi qua bắc Đồng Tháp Mười đến Vàm Cỏ Tây (Hình 1. Từ đây, hình dạng cơ bản của vùng TGLX đã định hình và tiếp tục hoàn thiện ở các giai đoạn sau qua những đợt biển tiến-thoái từ Holocene I đến Holocene IV, góp phần hoàn tất quá trình thành tạo châu thổ.000BC (tuổi tuyệt đối khoảng 6.950BP), đợt biển dâng mới bắt đầu lấn sâu vào đất liền (biển tiến Holocene I), đạt đỉnh điểm +4m, +5m để lại ngấn nước trên vách đá vôi ở Hà Tiên. Nhiều vỏ sò cổ cũng được tìm thấy trên vùng đất châu thổ như khu vực Óc Eo (An Giang), các giồng như Giồng Đá (Kiên Giang), Tân Hội, Nhị Quý, Cai Lậy (Tiền Giang), Chợ Lớn (TPHCM)… được gọi là trầm tích hệ tầng Hậu Giang [57, tr. Các bãi vỏ sò này được tìm thấy không quá sâu trong lớp phù sa mới, phần lớn là loại sò Crassostrea và Thai 8 gradata ưa sống ở vùng cửa sông nhiều phù sa và bùn nước lợ.
Quanh núi Chóc, núi Tượng (Thoại Sơn, An Giang) có nhiều vỏ hàu Crassistrea gigantissma (Hình 1.445], là bằng chứng cho thấy nơi đây từng có môi trường cửa sông và chịu tác động rất mạnh từ thủy triều. Sông Cửu Long lúc này đổ ra biển qua ba cửa ở Châu Đốc, bắc Hà Tiên và Vàm Cỏ [178, tr. Mực nước biển tiếp tục hạ thấp xuống theo các xung nhịp dao động của các đợt biển tiến-thoái Holocene tạo nên những bậc thềm biển có xu hướng hạ thấp dần. Đồng bằng sông Cửu Long dần lộ rõ ở các mức +3m (khoảng 4.
Quá trình dao động này tiếp tục ở mức +3m (2.350BC) và +1,25m [146, tr.76], hình thái châu thổ xuất hiện ngày một rõ nét. Cần nói thêm, thời điểm khoảng 3.600BP, mực nước biển hạ thấp khiến vùng TGLX dần lộ diện bên trên lớp bùn xanh có chứa sinh vật biển. Diễn biến này gắn với quá trình mở rộng cung bờ biển hướng về phía tây-tây nam và phía nam, đồng thời hình thành các giồng đất thấp như Giồng Đá có tuổi 14C là 3. Tác động đào khoét sâu của thủy triều đã tạo nên các nhánh sông kiểu lạch triều có cửa sông lớn và thông ra vịnh Thái Lan, dòng chảy ngắn tỏa nhánh vào nội địa và kết thúc mà không nối với sông Hậu, ngày nay có sông Giang Thành, Vĩnh Điều (Hà Tiên), Cái Bé, Cái Lớn hay Vĩnh Thanh (Kiên Giang và Hậu Giang).
Dấu tích các cửa sông này là trầm tích biển đầm lầy, các lớp vỏ hàu ở quanh núi Chóc, Ba Thê (An Giang), Giồng Đá (Kiên Giang)…, cùng với những giồng thấp được hình thành do gió và dòng chảy tích tụ nên.800BP, mực nước biển dao động dâng lên (biển tiến Holocene II) đạt đỉnh +3m vào khoảng 2.400 BP, mực nước dừng ở +2m đến +1,5m và có dao động hạ thấp dần (biển thoái Holocene II) khiến bồn trũng Cửu Long lộ ra trên bề mặt và được bồi lấp, lan rộng dần về phía nam và phía tây, đồng bằng châu thổ được mở rộng nhanh chóng. Các đường bờ biển của giai đoạn này là các giồng cát phân bố ở các tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre [57, tr. Theo đó, vùng đất này vẫn nằm trong vịnh Rạch Giá, khu vực từ Óc Eo là một cửa sông lớn ở phía tây của vùng tứ giác mà dấu tích là các mẫu vỏ sò ở 9 vịnh này (Rạch Giá) có tuổi vào khoảng 2. Tương tự, vùng Đồng Tháp Mười hình thành từ sự chuyển biến của một vịnh biển ăn sâu về phía Tây Ninh.
Vịnh này nối với một đầm lầy rộng lớn là nơi thoát nước của sông Cửu Long mà ngày nay được cho chính là lưu vực của hai nhánh sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây. Dấu tích cửa sông ở vùng này là lớp vỏ hàu Crassostrea, tiêu biểu là các mẫu được tìm thấy ở khu vực Gò Tháp với tuổi tuyệt đối khoảng 3. Về sau, phù sa dần lấp đầy đã biến vịnh và đầm lầy thành vùng trũng khép kín Đồng Tháp Mười cho đến như hiện nay [59, tr. Về hình thế, vùng đất châu thổ được bao bọc bởi thềm cao phù sa cổ ở phía bắc-đông bắc và phía đông; phía tây là vùng vịnh Thái Lan; phía nam và đông nam là tuyến đê tự nhiên tạo bởi các giồng các ven biển.
Sự hạ thấp dần của biển làm đồng bằng châu thổ dần nổi lên trong khoảng 2. Ngoại trừ các thềm đất cao phù sa cổ, thì hầu hết các khu vực còn lại chịu ảnh hưởng rất lớn từ thủy triều khiến cho gần như toàn bộ châu thổ bị ngập mặn [155, tr. Sau hải thoái Holocene II, tốc độ bồi lắng theo dòng chảy sông Cửu Long diễn ra nhanh chóng làm cho đồng bằng sông Cửu Long cơ bản hoàn thiện. Bề mặt đồng bằng phù sa mới đã nổi cao song vẫn chịu tác động mạnh từ thủy triều nên có tính chất của vùng thường ngập với hệ thực vật vùng cửa sông phát triển mạnh.
Các mũi khoan ở Đá Nổi (Kiên Giang), Nhơn Thành (Cần Thơ), Gò Tháp (Đồng Tháp) cho thấy có sự chuyển đổi từ môi trường ngập mặn sang đầm lầy khi sự bồi tụ đẩy dần các cửa sông lùi về phía tây và phía nam, tương ứng với dao động hạ thấp mực nước biển từ khoảng 3.000 BP sang nửa đầu Công nguyên [77, tr. Giai đoạn hải xâm Holocene III (2.000BP), nước biển dâng đạt mức cao nhất +0,4m so với hiện nay, cánh đồng Óc Eo vẫn là một cửa biển cho đến thời điểm khoảng 2. Đến cuối giai đoạn này, (hải thoái Holocene III) mực nước biển hạ -0,5m (đầu Công nguyên đến 200-350AD), sông Mê Kông đến Châu Đốc bắt đầu phân nhánh (sông Tiền và sông Hậu) dưới tác động mạnh của thủy triều tạo nên kiểu đồng bằng châu thổ mang đặc trưng đồng bằng triều thống trị (Hình 1. 10 Các pha dao động hạ thấp mực nước biển trong Holocene II và III (bảng 1.1) đã mở ra không gian rộng lớn của miền châu thổ trù phú, tạo nên sức hút mạnh mẽ con người đến chinh phục và định cư.
Đặc điểm hình thành và phân bố của các di tích tiền Óc Eo ở Nam Bộ phản ánh xu hướng lan phát triển từ thềm đất cao xuống các các gò-giồng đất thấp của đồng bằng châu thổ mới hình thành trên các cửa sông. Lớp văn hóa này hình thành trên nền sét biển, kết cấu sét pha cát hạt mịn màu xám đen có nhiều hạt cây, quả dừa nước, vỏ sò nước lợ [138, tr. Phân tích các mẫu vỏ hàu, mẫu bào tử phấn hoa và thành phần khoáng học thu thập được quanh khu vực núi Chóc, núi Tượng và trên cánh đồng Óc Eo cho thấy từ khoảng 3.500BP đến đầu Công nguyên, nơi đây có điều kiện đặc trưng của môi trường ngập mặn-cửa sông [77, tr. Ở di tích Giồng Cu cũng có lớp vỏ hàu crassistrea.
Ở Cạnh Đền (Kiên Giang) cũng có một lớp tích tụ của loài này phủ trên lớp văn hóa Óc Eo (Hình 1.