Khám Phá Di Tích Tiền Óc Eo và Quá Trình Hình Thành Văn Hóa Óc Eo Ở Miền Tây Nam Bộ

Khám phá di tích tiền Óc Eo tại vùng Tứ Giác Long Xuyên và vai trò của chúng trong quá trình hình thành văn hóa Óc Eo ở miền Tây Nam Bộ.

Chuyên ngành

Khảo Cổ Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

Năm 2023

291
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ, MÔI TRƯỜNG VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN

1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề nguồn gốc VHOE

1.3. Các khái niệm và khung lý thuyết nghiên cứu sử dụng trong luận án

2. CHƯƠNG 2: DI TÍCH, DI VẬT TIỀN ÓC Eo Ở VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN

3. CHƯƠNG 3: ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA VÀ VỊ TRÍ CỦA CÁC DI TÍCH TIỀN ÓC Eo VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN TRONG QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VHOE Ở MIỀN TÂY NAM BỘ

TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài

Văn hóa Óc Eo (VHOE) là một phần quan trọng trong lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Nam Bộ. Nền văn hóa này được coi là cơ sở vật chất của nhà nước cổ đại đầu tiên ở Đông Nam Á, cụ thể là vương quốc Phù Nam. Sau hơn bảy thập niên nghiên cứu, diện mạo của VHOE đã dần được làm rõ, từ không gian phân bố đến các đặc trưng văn hóa và niên đại. Nguồn gốc và chủ nhân của VHOE là một vấn đề nghiên cứu quan trọng, được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Paul Pelliot và George E. Coedes đã chỉ ra rằng văn hóa bản địa hình thành từ thời tiền sử là nền tảng cho sự tiếp nhận và lan tỏa của văn minh Ấn Độ. L. Malleret đã nhận thấy VHOE là sản phẩm của sự kết hợp giữa nhiều yếu tố văn hóa ngoại nhập và truyền thống văn hóa bản địa thông qua thương mại và giao lưu. Những phát hiện khảo cổ học từ nhiều địa bàn khác nhau đã góp phần nhận diện các yếu tố mầm mống cho sự ra đời của VHOE, từ đó làm rõ mối quan hệ giữa giai đoạn đầu của VHOE và các văn hóa tiền sử bản địa.

II. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận án là làm rõ mối quan hệ văn hóa giữa thời kỳ tiền Óc Eo và giai đoạn sớm của VHOE ở Nam Bộ. Cụ thể, luận án sẽ hệ thống hóa toàn bộ tư liệu về tiền Óc Eo và Óc Eo sớm ở vùng Tứ Giác Long Xuyên (TGLX). Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm xác định đặc trưng văn hóa của các di tích tiền Óc Eo, làm rõ quan hệ chuyển tiếp từ thời tiền Óc Eo sang văn hóa Óc Eo, và nhận thức về vai trò của các di tích tiền Óc Eo trong quá trình hình thành VHOE. Đối tượng nghiên cứu là các di tích, di vật tiền Óc Eo và giai đoạn Óc Eo sớm phát hiện ở vùng TGLX, đồng thời so sánh với các di tích, di vật có liên quan ở miền Tây Nam Bộ và khu vực.

III. Đặc điểm địa lý và môi trường vùng Tứ Giác Long Xuyên

Vùng TGLX là một bộ phận cấu thành quan trọng của đồng bằng sông Cửu Long, hình thành từ sự dịch chuyển vỏ trái đất và quá trình bồi tụ. Sự dịch chuyển này đã tạo ra các vùng trũng và khối nâng lớn, góp phần hình thành lòng cho hệ thống sông Cửu Long. Các cụm núi sót ở Nam Bộ cũng hình thành từ quá trình này. Sông Cửu Long đã dịch chuyển xuống phía nam, tạo nên vùng châu thổ rộng lớn. Các bậc thềm biển cổ và lớp phù sa cổ đã định hình vùng đất TGLX, nơi có nhiều di tích khảo cổ học thuộc phạm trù VHOE. Những phát hiện khảo cổ học đã góp phần quan trọng cho nhận thức về nguồn gốc và sự hình thành của VHOE, mặc dù tư liệu hiện nay còn tản mạn và chưa được nghiên cứu đầy đủ.

IV. Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng quan điểm duy vật lịch sử và duy vật biện chứng để nhận diện quá trình phát triển văn hóa từ tiền Óc Eo đến giai đoạn sớm của VHOE. Phương pháp nghiên cứu chuyên ngành khảo cổ học được thực hiện thông qua điền dã, khai quật hiện trường và phân loại loại hình. Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng để làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa các giai đoạn văn hóa. Ngoài ra, phương pháp nghiên cứu liên ngành cũng được áp dụng để xác định niên đại và giải thích các vấn đề văn hóa-cư dân trong quá trình chuyển biến từ tiền Óc Eo sang VHOE.

V. Đóng góp mới về khoa học của luận án

Luận án sẽ hệ thống hóa tư liệu và làm rõ đặc trưng cơ bản của các loại hình di tích-di vật tiền Óc Eo, niên đại và các giai đoạn phát triển từ tiền Óc Eo sang VHOE. Phân tích đặc điểm quá trình phát triển chuyển tiếp từ tiền Óc Eo sang VHOE sẽ làm rõ mối quan hệ giữa giai đoạn tiền Óc Eo và Óc Eo sớm ở Nam Bộ. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm rõ lịch sử hình thành và phát triển của đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, đồng thời xác lập một truyền thống phát triển và nhận thức đầy đủ về một giai đoạn lịch sử quan trọng của vùng đất Nam Bộ.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ, MÔI TRƯỜNG VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN 1. Lịch sử hình thành vùng Tứ Giác Long Xuyên Vùng TGLX là một bộ phận cấu thành quan trọng của đồng bằng sông Cửu Long, được hình thành bắt nguồn từ sự dịch chuyển vỏ trái đất trong thời kỳ Tân Kiến Tạo và quá trình bồi tụ xen lẫn tác động của thủy triều theo xu hướng hạ thấp dần của mực nước biển qua nhiều giai đoạn lâu dài và liên tục (Biểu đồ 1. Vào cuối Kainozoi (Kỷ Neogen), cách nay khoảng 20 triệu năm, thuộc Cánh Tân (Pleistocene) đã diễn ra hàng loạt sự dịch chuyển xô húc lục địa Ấn Độ vào lục địa châu Á tạo nên các rãnh trượt ngang - dọc, góp phần hình thành khối nâng lớn cho dãy Hymalaya và hàng loạt các khối nâng khác bên cạnh những khu vực sụt lún, đứt gãy.

Đường đứt gãy ở phía nam Đông Dương được gọi là đứt gãy sông Hậu theo hướng đông bắc-tây nam. Vỏ Trái Đất ở khu vực Nam Bộ Việt Nam và một phần lãnh thổ Campuchia bị nứt nhiều nơi, gây ra các khối sụt lún không đều. Sự vận động này thúc đẩy hình thành hai khối nâng lớn ở Nam Trung Bộ Việt Nam và Campuchia, mà xen giữa là các khối sụt lún và đường đứt gãy tạo ra những vùng trũng rộng tới vài chục kilomet, kéo dài hàng trăm kilomet theo hướng tây bắc-đông nam đến tận biển Đông, tạo lòng cho hệ thống sông Cửu Long. Các cụm núi sót ở Nam Bộ cũng hình thành từ quá trình này, phân bố kéo dài gần 100km phân bố trên địa bàn hai tỉnh An Giang và Kiên Giang.

Ở phía đông từ xã Phú Hữu (huyện An Phú) qua xã Vĩnh Tế (Châu Đốc), tập trung cao ở huyện Tịnh Biên và Tri Tôn, đến xã Vọng Thê và Vọng Đông rồi dừng lại ở thị trấn Núi Sập (huyện Thoại Sơn) thuộc tỉnh An Giang. Phía tây của vòng cung núi sót này có các nhóm núi Hòn Đất, Ba Hòn, núi Đá Dựng… ở Kiên Giang, một số rải rác trong vịnh Thái Lan. 7 Sau giai đoạn kiến tạo này, sông Cửu Long trước đây chảy qua miền Đông Nam Bộ (dấu tích để lại là những vùng phù sa cổ tuổi Pliocene và Pleistocene) đã dịch chuyển dần xuống phía nam. Do tác động của hệ thống đứt gãy xuyên Đông Dương hướng tây bắc-đông nam, con sông đã chuyển hướng tại Phnompenh để chảy theo cùng hướng này [155, tr.255], bắt đầu tiến trình hình thành vùng châu thổ rộng lớn, theo đó, con sông đã vận chuyển vật liệu trầm tích xuống các vùng trũng, tạo nên nhóm trầm tích đáy lòng sông.

Dưới tác động của các đợt biển tiến Flandrian (18.000 BP) nước biển đã tràn ngập khắp vùng Nam Bộ, góp phần lấp đầy những thung lũng sông và mở rộng trầm tích biển, đến khoảng 11.000BP thì chấm dứt. Sự kết thúc này tương ứng với thời điểm biển thoái và quá trình hoàn tất nhóm trầm tích Pleistocene mà ngày nay gọi là phù sa cổ. Dấu tích của đợt biển tiến này là các bậc thềm biển cổ ở xung quanh khu vực núi Cấm, núi Dài, núi Phú Cường (huyện Tịnh Biên), nhóm đất trầm tích ở vùng Vĩnh Gia, Lạc Quới (huyện Tri Tôn) thuộc tỉnh An Giang và cụm Hòn Đất (huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang). Trên đồng bằng sông Cửu Long, lớp phù sa cổ có tuổi Pleistocene muộn, hình thành kéo dài đến khoảng 8.

Dải đất xám có kết cấu pha cát, xốp tơi, mềm và nhẹ, độ phì thấp phân bố dọc theo rìa phía bắc của vùng đồng bằng châu thổ phù sa mới, gần như chạy dọc theo biên giới Campuchia, từ khu vực Bảy Núi qua bắc Đồng Tháp Mười đến Vàm Cỏ Tây (Hình 1. Từ đây, hình dạng cơ bản của vùng TGLX đã định hình và tiếp tục hoàn thiện ở các giai đoạn sau qua những đợt biển tiến-thoái từ Holocene I đến Holocene IV, góp phần hoàn tất quá trình thành tạo châu thổ.000BC (tuổi tuyệt đối khoảng 6.950BP), đợt biển dâng mới bắt đầu lấn sâu vào đất liền (biển tiến Holocene I), đạt đỉnh điểm +4m, +5m để lại ngấn nước trên vách đá vôi ở Hà Tiên. Nhiều vỏ sò cổ cũng được tìm thấy trên vùng đất châu thổ như khu vực Óc Eo (An Giang), các giồng như Giồng Đá (Kiên Giang), Tân Hội, Nhị Quý, Cai Lậy (Tiền Giang), Chợ Lớn (TPHCM)… được gọi là trầm tích hệ tầng Hậu Giang [57, tr. Các bãi vỏ sò này được tìm thấy không quá sâu trong lớp phù sa mới, phần lớn là loại sò Crassostrea và Thai 8 gradata ưa sống ở vùng cửa sông nhiều phù sa và bùn nước lợ.

Quanh núi Chóc, núi Tượng (Thoại Sơn, An Giang) có nhiều vỏ hàu Crassistrea gigantissma (Hình 1.445], là bằng chứng cho thấy nơi đây từng có môi trường cửa sông và chịu tác động rất mạnh từ thủy triều. Sông Cửu Long lúc này đổ ra biển qua ba cửa ở Châu Đốc, bắc Hà Tiên và Vàm Cỏ [178, tr. Mực nước biển tiếp tục hạ thấp xuống theo các xung nhịp dao động của các đợt biển tiến-thoái Holocene tạo nên những bậc thềm biển có xu hướng hạ thấp dần. Đồng bằng sông Cửu Long dần lộ rõ ở các mức +3m (khoảng 4.

Quá trình dao động này tiếp tục ở mức +3m (2.350BC) và +1,25m [146, tr.76], hình thái châu thổ xuất hiện ngày một rõ nét. Cần nói thêm, thời điểm khoảng 3.600BP, mực nước biển hạ thấp khiến vùng TGLX dần lộ diện bên trên lớp bùn xanh có chứa sinh vật biển. Diễn biến này gắn với quá trình mở rộng cung bờ biển hướng về phía tây-tây nam và phía nam, đồng thời hình thành các giồng đất thấp như Giồng Đá có tuổi 14C là 3. Tác động đào khoét sâu của thủy triều đã tạo nên các nhánh sông kiểu lạch triều có cửa sông lớn và thông ra vịnh Thái Lan, dòng chảy ngắn tỏa nhánh vào nội địa và kết thúc mà không nối với sông Hậu, ngày nay có sông Giang Thành, Vĩnh Điều (Hà Tiên), Cái Bé, Cái Lớn hay Vĩnh Thanh (Kiên Giang và Hậu Giang).

Dấu tích các cửa sông này là trầm tích biển đầm lầy, các lớp vỏ hàu ở quanh núi Chóc, Ba Thê (An Giang), Giồng Đá (Kiên Giang)…, cùng với những giồng thấp được hình thành do gió và dòng chảy tích tụ nên.800BP, mực nước biển dao động dâng lên (biển tiến Holocene II) đạt đỉnh +3m vào khoảng 2.400 BP, mực nước dừng ở +2m đến +1,5m và có dao động hạ thấp dần (biển thoái Holocene II) khiến bồn trũng Cửu Long lộ ra trên bề mặt và được bồi lấp, lan rộng dần về phía nam và phía tây, đồng bằng châu thổ được mở rộng nhanh chóng. Các đường bờ biển của giai đoạn này là các giồng cát phân bố ở các tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre [57, tr. Theo đó, vùng đất này vẫn nằm trong vịnh Rạch Giá, khu vực từ Óc Eo là một cửa sông lớn ở phía tây của vùng tứ giác mà dấu tích là các mẫu vỏ sò ở 9 vịnh này (Rạch Giá) có tuổi vào khoảng 2. Tương tự, vùng Đồng Tháp Mười hình thành từ sự chuyển biến của một vịnh biển ăn sâu về phía Tây Ninh.

Vịnh này nối với một đầm lầy rộng lớn là nơi thoát nước của sông Cửu Long mà ngày nay được cho chính là lưu vực của hai nhánh sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây. Dấu tích cửa sông ở vùng này là lớp vỏ hàu Crassostrea, tiêu biểu là các mẫu được tìm thấy ở khu vực Gò Tháp với tuổi tuyệt đối khoảng 3. Về sau, phù sa dần lấp đầy đã biến vịnh và đầm lầy thành vùng trũng khép kín Đồng Tháp Mười cho đến như hiện nay [59, tr. Về hình thế, vùng đất châu thổ được bao bọc bởi thềm cao phù sa cổ ở phía bắc-đông bắc và phía đông; phía tây là vùng vịnh Thái Lan; phía nam và đông nam là tuyến đê tự nhiên tạo bởi các giồng các ven biển.

Sự hạ thấp dần của biển làm đồng bằng châu thổ dần nổi lên trong khoảng 2. Ngoại trừ các thềm đất cao phù sa cổ, thì hầu hết các khu vực còn lại chịu ảnh hưởng rất lớn từ thủy triều khiến cho gần như toàn bộ châu thổ bị ngập mặn [155, tr. Sau hải thoái Holocene II, tốc độ bồi lắng theo dòng chảy sông Cửu Long diễn ra nhanh chóng làm cho đồng bằng sông Cửu Long cơ bản hoàn thiện. Bề mặt đồng bằng phù sa mới đã nổi cao song vẫn chịu tác động mạnh từ thủy triều nên có tính chất của vùng thường ngập với hệ thực vật vùng cửa sông phát triển mạnh.

Các mũi khoan ở Đá Nổi (Kiên Giang), Nhơn Thành (Cần Thơ), Gò Tháp (Đồng Tháp) cho thấy có sự chuyển đổi từ môi trường ngập mặn sang đầm lầy khi sự bồi tụ đẩy dần các cửa sông lùi về phía tây và phía nam, tương ứng với dao động hạ thấp mực nước biển từ khoảng 3.000 BP sang nửa đầu Công nguyên [77, tr. Giai đoạn hải xâm Holocene III (2.000BP), nước biển dâng đạt mức cao nhất +0,4m so với hiện nay, cánh đồng Óc Eo vẫn là một cửa biển cho đến thời điểm khoảng 2. Đến cuối giai đoạn này, (hải thoái Holocene III) mực nước biển hạ -0,5m (đầu Công nguyên đến 200-350AD), sông Mê Kông đến Châu Đốc bắt đầu phân nhánh (sông Tiền và sông Hậu) dưới tác động mạnh của thủy triều tạo nên kiểu đồng bằng châu thổ mang đặc trưng đồng bằng triều thống trị (Hình 1. 10 Các pha dao động hạ thấp mực nước biển trong Holocene II và III (bảng 1.1) đã mở ra không gian rộng lớn của miền châu thổ trù phú, tạo nên sức hút mạnh mẽ con người đến chinh phục và định cư.

Đặc điểm hình thành và phân bố của các di tích tiền Óc Eo ở Nam Bộ phản ánh xu hướng lan phát triển từ thềm đất cao xuống các các gò-giồng đất thấp của đồng bằng châu thổ mới hình thành trên các cửa sông. Lớp văn hóa này hình thành trên nền sét biển, kết cấu sét pha cát hạt mịn màu xám đen có nhiều hạt cây, quả dừa nước, vỏ sò nước lợ [138, tr. Phân tích các mẫu vỏ hàu, mẫu bào tử phấn hoa và thành phần khoáng học thu thập được quanh khu vực núi Chóc, núi Tượng và trên cánh đồng Óc Eo cho thấy từ khoảng 3.500BP đến đầu Công nguyên, nơi đây có điều kiện đặc trưng của môi trường ngập mặn-cửa sông [77, tr. Ở di tích Giồng Cu cũng có lớp vỏ hàu crassistrea.

Ở Cạnh Đền (Kiên Giang) cũng có một lớp tích tụ của loài này phủ trên lớp văn hóa Óc Eo (Hình 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Khám Phá Di Tích Tiền Óc Eo và Quá Trình Hình Thành Văn Hóa Óc Eo Ở Miền Tây Nam Bộ" mang đến cái nhìn sâu sắc về di tích Tiền Óc Eo, một trong những biểu tượng văn hóa quan trọng của miền Tây Nam Bộ. Tác giả phân tích quá trình hình thành và phát triển của văn hóa Óc Eo, từ những dấu tích khảo cổ học cho đến ảnh hưởng của nó đối với đời sống văn hóa hiện đại. Bài viết không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về giá trị lịch sử và văn hóa của khu vực này mà còn mở ra những cơ hội nghiên cứu sâu hơn về các di tích văn hóa khác trong nước.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các bài viết liên quan như Nghệ Thuật Cải Lương Tại Thành Phố Hồ Chí Minh Trong Bối Cảnh Hội Nhập, nơi khám phá sự giao thoa văn hóa trong nghệ thuật cải lương, hay Luận án tiến sĩ về xây dựng đời sống văn hóa tại nông thôn Nghệ An, nghiên cứu về việc phát triển văn hóa nông thôn, và Luận văn thạc sĩ về dự báo dòng chảy lũ sông Lô và vận hành hồ chứa Tuyên Quang, một nghiên cứu liên quan đến quản lý tài nguyên nước và ảnh hưởng của nó đến văn hóa địa phương. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn đa chiều hơn về các vấn đề văn hóa và lịch sử tại Việt Nam.