Tổng quan luận án
Văn hóa Óc Eo được xác định là một bộ phận cấu thành trong lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Nam Bộ, đồng thời là cơ sở vật chất của nhà nước cổ đại Phù Nam xuất hiện sớm nhất tại khu vực Đông Nam Á. Sau hơn bảy thập niên kể từ khi được phát hiện và nghiên cứu, diện mạo của nền văn hóa này đã dần được làm rõ trên nhiều phương diện. Tuy nhiên, nguồn tư liệu khảo cổ học về thời kỳ tiền Óc Eo và vấn đề nguồn gốc văn hóa Óc Eo tại vùng Tứ Giác Long Xuyên vẫn còn tản mạn, chưa được tập hợp và nghiên cứu toàn diện. Mối liên hệ chuyển tiếp cụ thể gắn với diễn trình địa tầng giữa giai đoạn tiền Óc Eo và giai đoạn Óc Eo sớm vẫn tồn tại nhiều khoảng trống. Do đó, luận án tiến sĩ Khoa học lịch sử, chuyên ngành Khảo cổ học với đề tài "Các di tích tiền Óc Eo vùng Tứ Giác Long Xuyên trong quá trình hình thành văn hóa Óc Eo ở miền Tây Nam Bộ" được thực hiện nhằm giải quyết yêu cầu hệ thống hóa tư liệu và làm rõ tính kế thừa trong tiến trình văn hóa này.
Mục đích nghiên cứu của luận án được xác định gồm:
- Mục đích chung: Làm rõ mối quan hệ văn hóa giữa thời kỳ tiền Óc Eo và giai đoạn sớm của văn hóa Óc Eo ở Nam Bộ, cùng quá trình hình thành của nền văn hóa này.
- Mục đích cụ thể:
- Hệ thống hóa toàn bộ tư liệu khảo cổ học thời kỳ tiền Óc Eo và Óc Eo sớm tại vùng Tứ Giác Long Xuyên.
- Xác định đặc trưng văn hóa, đặc điểm quan hệ văn hóa, niên đại và phân kỳ các giai đoạn phát triển từ tiền Óc Eo sang giai đoạn đầu của văn hóa Óc Eo ở vùng Tứ Giác Long Xuyên.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án bao gồm bốn nội dung:
- Làm rõ nội hàm của khái niệm "tiền Óc Eo".
- Xác định đặc trưng văn hóa của các di tích tiền Óc Eo tại vùng Tứ Giác Long Xuyên.
- Làm rõ quan hệ chuyển tiếp từ thời tiền Óc Eo sang văn hóa Óc Eo, cụ thể là từ giai đoạn tiền Óc Eo sang giai đoạn sớm của văn hóa Óc Eo ở vùng Tứ Giác Long Xuyên.
- Nhận thức về truyền thống, đặc điểm phát triển và vai trò của các di tích tiền Óc Eo ở vùng Tứ Giác Long Xuyên trong quá trình hình thành văn hóa Óc Eo ở miền Tây Nam Bộ.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Trực tiếp là các di tích, di vật tiền Óc Eo và giai đoạn Óc Eo sớm được phát hiện tại vùng Tứ Giác Long Xuyên; nghiên cứu so sánh với các di tích, di vật liên quan ở miền Tây Nam Bộ và khu vực Đông Nam Á.
- Phạm vi không gian: Không gian nghiên cứu trực tiếp là vùng Tứ Giác Long Xuyên (diện tích gần 4.900 km² trên địa bàn tỉnh An Giang, Kiên Giang và một phần phía bắc thành phố Cần Thơ); không gian mở rộng so sánh gồm đồng bằng Nam Bộ và khu vực Đông Nam Á.
- Phạm vi thời gian: Khung niên đại nằm trong khoảng từ thiên niên kỷ I trước Công nguyên (TCN) sang đầu Công nguyên (CN).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Lịch sử nghiên cứu nguồn gốc văn hóa Óc Eo được tác giả tổng thuật qua hai giai đoạn lớn:
Giai đoạn trước năm 1975:
- Khởi đầu từ các ghi nhận dấu vết văn hóa cổ tại núi Ba Thê của A. Corre (1879), các nghiên cứu sử liệu và minh văn cổ của E. Aymonier, Paul Pelliot (1903), George E. Coedès (1944, 1947) xác định cương vực Phù Nam ở hạ lưu sông Mê Kông. G. Coedès cho rằng văn hóa bản địa thời tiền sử là nền tảng tiếp nhận văn minh Ấn Độ.
- Louis Malleret khai quật cánh đồng Óc Eo (1944), xác định Óc Eo là đô thị cảng biển của Phù Nam chịu ảnh hưởng văn minh Ấn Độ. Đồng thời, L. Malleret so sánh đồ đá, đồ gốm miền tây sông Hậu với các văn hóa Sa Huỳnh, Đông Sơn, Samrong Sen, Mlu Prei, Trấn Ninh và nhận định Óc Eo hình thành từ cuối thời đại đồng - đá.
- E. Varcin phân tích nhân chủng học 06 tiêu bản sọ người cổ tại di tích Óc Eo và Trăm Phố (Cạnh Đền), xác định thuộc loại hình Proto-Malais.
- E. Fontaine và Hoàng Thị Thân phát hiện các khu mộ chum Dầu Giây, Hàng Gòn, Phú Hòa tại vùng đồi đất đỏ Xuân Lộc - Long Khánh (Đồng Nai) cuối thập niên 60 - đầu thập niên 70 thế kỷ XX, chỉ ra ảnh hưởng từ văn hóa thời đại Sắt duyên hải miền Trung.
Giai đoạn từ sau năm 1975 đến nay:
- Hà Văn Tấn (1985, 1997) phân tích yếu tố nội sinh và ngoại sinh, khẳng định văn hóa Óc Eo tiếp nối văn hóa bản địa từ thời đại Kim khí qua mô hình phát triển đa tuyến.
- Lê Xuân Diệm (1995) nhấn mạnh vai trò của chủ nhân văn hóa Đồng Nai trong việc tạo dựng văn hóa Óc Eo.
- Phạm Đức Mạnh và Bùi Chí Hoàng xác định thời đại đồ Sắt lưu vực sông Đồng Nai (di tích Dốc Chùa, Suối Chồn, Phú Hòa) là bước chuyển sang sơ sử, mở rộng quan hệ với Sa Huỳnh, Đông Sơn và Đông Nam Á. Phạm Đức Mạnh (2004) xác định nội hàm khái niệm "tiền Óc Eo" bao gồm toàn bộ các phức hệ văn hóa tiền sử - sơ sử Nam Bộ.
- Võ Sĩ Khải (1985, 2008) phân tích cơ tầng văn hóa bản địa qua các phát hiện ở Óc Eo, Nền Chùa, Gò Tháp; xác định thời kỳ tiền Óc Eo thuộc thời đại Kim khí gắn với kinh tế nông nghiệp lúa nước và trao đổi hàng hải.
- Các công trình chuyên sâu về giai đoạn hậu kỳ Đồng - sơ kỳ Sắt: Đặng Văn Thắng (1992, 2009) xác định ba con đường phát triển lên Óc Eo (con đường Gò Cao Su - Gò Ô Chùa, con đường Gò Cây Tung, con đường Giồng Cá Vồ - Giồng Phệt); Bùi Chí Hoàng (1994); Nguyễn Thị Hậu (1997, 2008) nghiên cứu mộ chum Cần Giờ và mô hình cảng thị sơ khai; Vũ Quốc Hiền và Trương Đắc Chiến nghiên cứu tuyến phát triển Giồng Cá Vồ - Giồng Phệt - Giồng Lớn.
- Nghiên cứu tại miền Tây Nam Bộ: Trần Anh Dũng (1994) khai quật Gò Cao Su, xác định tính chất chuyển tiếp liên tục lên văn hóa Óc Eo; Tống Trung Tín (1994, 1995) khai quật Gò Cây Tung, xác định sự phát triển gốm liên tục và đề xuất bốn con đường phát triển lên Óc Eo; Bùi Phát Diệm (2002) nghiên cứu di tích văn hóa Óc Eo ở Long An; Đào Linh Côn (2002) nghiên cứu di chỉ cư trú Óc Eo - Ba Thê và khai quật Giồng Xoài (2001).
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù giả thuyết phát triển đa tuyến đã được định hình, các chứng cứ khảo cổ học trực tiếp phản ánh mối liên kết giữa tầng văn hóa tiền Óc Eo và Óc Eo sớm trên cùng cột địa tầng tại vùng Tứ Giác Long Xuyên vẫn chưa được làm rõ. Luận án tập trung hệ thống hóa tư liệu địa tầng, phân loại di vật tại Tứ Giác Long Xuyên để chứng minh quá trình chuyển tiếp liên tục từ tiền Óc Eo sang giai đoạn sớm của văn hóa Óc Eo.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khái niệm và khung lý thuyết
Khái niệm công cụ:
- Văn hóa Óc Eo: Nền văn hóa đô thị hình thành và phát triển trên đồng bằng châu thổ sông Cửu Long trong thiên niên kỷ I AD, gồm 3 giai đoạn: Óc Eo sớm (thế kỷ I-III AD), Óc Eo phát triển (thế kỷ IV-VII AD), Óc Eo muộn (thế kỷ VIII-X AD) và giai đoạn hậu Óc Eo (thế kỷ XI-XIII AD).
- Thời kỳ tiền Óc Eo (Before-Oc Eo): Toàn bộ thời kỳ văn hóa trước khi văn hóa Óc Eo hình thành, có niên đại trước đầu Công nguyên, cấu thành cơ tầng bản địa.
- Giai đoạn tiền Óc Eo (Pre-Oc Eo): Giai đoạn chuyển tiếp từ thời tiền sử sang văn hóa Óc Eo, tương đương hậu kỳ Đồng - sơ kỳ Sắt, niên đại khoảng 2.500 BP đến đầu Công nguyên.
Khung lý thuyết vận dụng:
- Lý thuyết phân vùng văn hóa: Vận dụng quan điểm của Ngô Đức Thịnh về vùng văn hóa và phân vùng 6 tiểu vùng văn hóa Óc Eo của Trần Quốc Vượng. Luận án chia không gian Nam Bộ thành 8 tiểu vùng (Tứ Giác Long Xuyên, Ô Môn - Phụng Hiệp, U Minh - Cạnh Đền, vùng giữa hai sông Tiền và Hậu, Vàm Cỏ - Đồng Tháp Mười, giồng cát duyên hải Tây Nam Bộ, duyên hải Đông Nam Bộ, vùng cao Đông Nam Bộ) nhằm xác định vị trí của tiểu vùng Tứ Giác Long Xuyên.
- Lý thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa (Acculturation): Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa thành tố nội sinh (truyền thống bản địa) và ngoại sinh (văn hóa Ấn Độ, Đông Nam Á, Trung Hoa) trong quá trình hình thành văn hóa Óc Eo.
- Lý thuyết về di cư: Vận dụng luận điểm của Amos Hawley và Everett S. Lee về áp lực kinh tế, tìm kiếm đất nông nghiệp và mở rộng thương mại thúc đẩy cư dân chuyển cư từ thềm phù sa cổ xuống đồng bằng châu thổ mới bồi đắp.
- Lý thuyết về sự hình thành đô thị cổ: Vận dụng quan điểm của Nguyễn Sĩ Quế và cộng sự về sự tập trung dân cư do chuyên môn hóa thủ công nghiệp, trao đổi thương mại, dịch vụ và trung tâm tôn giáo.
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận:
- Vận dụng quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để nhận diện quy luật vận động nội tại và tính kế thừa văn hóa.
- Phương pháp luận sử học: Tập hợp, giám định nguồn sử liệu khảo cổ học để khôi phục diễn trình phát triển văn hóa theo các mốc niên đại.
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Phương pháp chuyên ngành khảo cổ học: Điền dã, thám sát, khai quật hiện trường, đo vẽ địa tầng; phân loại loại hình học (typology); thống kê định lượng kết hợp mô tả chi tiết di vật.
- Phương pháp so sánh: Đối sánh loại hình di tích, tổ hợp gốm thô - gốm mịn giữa các di tích tiền Óc Eo và Óc Eo sớm ở Tứ Giác Long Xuyên với các vùng lân cận.
- Phương pháp lịch sử và logic: Khôi phục tiến trình phát triển văn hóa gắn liền với địa tầng khảo cổ học và giải thích quy luật chuyển biến xã hội.
- Phương pháp liên ngành: Ứng dụng khoa học địa chất, cổ môi trường, nhân chủng học, định tuổi phóng xạ C14 để xác định niên đại và bối cảnh tự nhiên.
Nguồn tư liệu:
- Tư liệu khảo sát, thám sát và khai quật tại các di tích thuộc vùng Tứ Giác Long Xuyên (Gò Cây Tung, Gò Cây Sung, Gò Cây Trôm, Gò Me - Gò Sành, Phum Quao, Gò Đam Pô, Gò Châu Thi, Giồng Cu, K9, Xoa Ảo, phức hợp Óc Eo - Ba Thê gồm Giồng Xoài, Gò Óc Eo, Gò Cây Thị, Gò Da, Linh Sơn Nam).
- Hệ thống dữ liệu phụ lục gồm 44 bảng thống kê, 11 biểu đồ và 93 mục hình minh họa.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương 1 tập trung phân tích đặc điểm địa lý, lịch sử hình thành môi trường tự nhiên của vùng Tứ Giác Long Xuyên và tổng quan học thuật.
Lịch sử địa chất và môi trường cổ:
- Vùng Tứ Giác Long Xuyên hình thành do sự dịch chuyển Tân Kiến Tạo cuối Kainozoi (kỷ Neogen, thế Cánh Tân - Pleistocene) với đứt gãy sông Hậu theo hướng đông bắc - tây nam, tạo các khối sụt lún và dải núi sót kéo dài gần 100 km từ An Giang sang Kiên Giang.
- Quá trình biển tiến - biển thoái Holocene:
- Biển tiến Flandrian (18.000 BP - 11.000 BP) tạo lớp phù sa cổ tuổi Pleistocene muộn (kéo dài đến 8.000 BP).
- Biển tiến Holocene I (6.000 BC / 6.950 BP) đạt đỉnh +4m đến +5m, để lại ngấn nước tại Hà Tiên và các vỉa sò biển (Crassostrea, Thais gradata, Crassostrea gigantissima).
- Biển thoái Holocene II (khoảng 3.600 BP đến 2.400 BP) hạ mực nước xuống +2m và +1,5m, làm lộ diện bề mặt trũng và hình thành các giồng thấp (như Giồng Đá có tuổi C14 khoảng 3.800 BP).
- Biển tiến Holocene III (2.000 BP) dâng +0,4m; sau đó biển thoái Holocene III (khoảng 50 - 350 AD) mực nước hạ xuống -0,5m, hoàn thiện mạng lưới phân nhánh sông Tiền - sông Hậu và mở rộng đồng bằng triều.
- Kênh Lung Lớn dài 17 km nối Óc Eo với tiền cảng Nền Chùa; kết quả định tuổi C14 mẫu trầm tích (02OE.GCA1) đạt thế kỷ II-III AD.
| Giai đoạn hải văn |
Niên đại tương đối / tuyệt đối |
Dao động mực nước biển |
Dấu tích trầm tích / Địa chất tiêu biểu |
| Biển tiến Flandrian |
18.000 BP – 11.000 BP |
Nước ngập khắp Nam Bộ |
Lấp đầy thung lũng sông, mở rộng trầm tích biển |
| Biển thoái Pleistocene |
11.000 BP – 8.000 BP |
Biển rút |
Hoàn tất phù sa cổ (thềm cao +2m đến +6m) |
| Biển tiến Holocene I |
6.000 BC (6.950 BP) |
Đạt đỉnh +4m đến +5m |
Ngấn nước đá vôi Hà Tiên; vỉa sò Crassostrea |
| Biển thoái Holocene II |
3.600 BP – 2.400 BP |
Hạ xuống +2m đến +1,5m |
Lộ bồn trũng; giồng cát Giồng Đá (C14: 3.800 BP) |
| Biển tiến Holocene III |
2.000 BP (đầu CN) |
Dâng +0,4m |
Cánh đồng Óc Eo còn tính chất cửa biển/vịnh |
| Biển thoái Holocene III |
50 AD – 350 AD |
Hạ xuống -0,5m |
Phân nhánh sông Tiền - Hậu; bồi lấp đồng bằng triều |
Phân vùng địa lý và cảnh quan Tứ Giác Long Xuyên:
- Diện tích gần 4.900 km², gồm 3 phân bậc địa hình: Bậc 1 (thềm cao phù sa cổ), Bậc 2 (địa hình gò - giồng thấp chuyển tiếp), Bậc 3 (đồng bằng trũng phù sa mới).
- Chia thành 3 khu vực địa lý:
- Khu vực Núi Sam - Bảy Núi: Cảnh quan bán sơn địa, thềm phù sa cổ chân núi sót; tập trung các di chỉ cư trú tiền Óc Eo (Gò Cây Tung, Phum Quao, Gò Me - Gò Sành, An Phú, Gò Cây Sung...). Dấu tích Óc Eo sớm mờ nhạt, xuất hiện kiến trúc tôn giáo Óc Eo muộn.
- Khu vực Thoại Sơn - Núi Sập: Vùng chuyển tiếp bán sơn địa xuống đồng bằng trũng; tập trung dày đặc các di tích quy mô lớn (phức hợp Óc Eo - Ba Thê, Mốp Văn, Nóp Lê, Định Mỹ).
- Khu vực Hà Tiên - Rạch Giá: Đồng bằng trũng ven biển phía tây, cửa sông thông vịnh Thái Lan; gồm các di tích tiền Óc Eo trên gò thấp (Giồng Cu, K9, Xoa Ảo) và trung tâm cảng thị Óc Eo phát triển (Nền Chùa, Đá Nổi).
Chương 2: Di tích, di vật tiền Óc Eo ở vùng Tứ Giác Long Xuyên
Chương 2 trình bày chi tiết kết quả thám sát, khai quật và thống kê chỉnh lý hiện vật tại các di tích tiền Óc Eo và Óc Eo sớm:
Khu vực Núi Sam - Bảy Núi:
- Gò Cây Sung (Xuân Tô, Tịnh Biên): Rộng 11.000 m², cao >+5m; thám sát năm 2008 (2,5 m²), tầng văn hóa dày 0,6m trong cát pha xám sậm; hiện vật có rìu đá hình thang mài nhẵn toàn thân vát bán nguyệt, 02 chén gốm mịn hình bán cầu, nồi, vò gốm thô, bát bồng, cà ràng mũi hẹp xiên lỗ.
- Gò Cây Trôm (Nhơn Hưng, Tịnh Biên): Rộng 11.000 m², cao +10m đến +11m; thám sát năm 2008 (1,5 m²), tầng văn hóa dày 0,5m; thu thập 294 mảnh gốm thô sét pha cát và bã thực vật, 01 rìu đá có vai tiết diện chữ nhật.
- Gò Me - Gò Sành (Ba Chúc, Tri Tôn): Rộng 3 ha, cao +10m; tầng văn hóa dày 1,2m; hiện vật gồm 03 công cụ đá, 11 bàn mài sa thạch, 02 bi gốm, 135 mảnh gốm thô và gốm mịn (nồi, vò miệng đắp dày, bát bồng chân choãi, nắp đĩa vành móc, cà ràng mũi uốn cong và mũi đắp bẹt). Niên đại nửa sau thiên niên kỷ I TCN.
- Phum Quao (Tân Lợi, Tri Tôn): Rộng 3 ha, cao +6m đến +8m; tầng văn hóa dày 0,8m đến 1,4m; thu thập 246 mảnh gốm, 03 mảnh công cụ đá phiến sừng, bàn mài sa thạch, xương động vật (trâu, bò, hươu có vết chặt gọt), gạch cổ xám trắng và đá granite móng kiến trúc muộn.
- Gò Đam Pô (Ninh Hòa, Tri Tôn): Rộng 150 m², cao +5m đến +6m; tầng văn hóa chứa mảnh vỡ vò miệng loe thấp, nồi cầu, cà ràng.
- Gò Châu Thi (Cô Tô, Tri Tôn): Rộng 4 ha, cao +12m; thám sát năm 2014 (8 m²), tầng văn hóa dày đến 4m chứa các lớp đất cháy kết cứng; thu thập 88 mảnh gốm phân tích (gốm thô cát, gốm đen mịn, gốm sét mịn vàng cam làm bát bồng, bình có vòi, ly chân cao). Niên đại nửa sau thiên niên kỷ I TCN.
Khu vực Hà Tiên - Rạch Giá:
- Giồng Cu (Nền Chùa) (Kiên Lương, Kiên Giang): Rộng 3.000 m², cao +0,5m; thu thập gốm thô, gốm bã thực vật, gốm mịn đen, gốm mịn vàng cam, cà ràng, chạc gốm hình trụ tròn và trụ vuông có 4 mấu. Niên đại thế kỷ III TCN - I AD.
- K9 (Bình Giang, Hòn Đất): Thám sát năm 2006 với 07 hố (56 m²), tầng văn hóa dày 0,4 - 0,6m; hố 06K9.TS7 phát hiện sàn đất nung kết cứng dày 10 - 15cm (bếp sinh hoạt/chế tác thủ công); dấu vết cọc gỗ đường kính 9 - 12cm. Thu được 4.627 mảnh gốm (gốm thô chiếm 85,9%, gốm mịn chiếm 14,1%), 19 bàn mài sa thạch, chạc gốm trụ tròn/vuông, 08 hạt chuỗi đá quý (carnelian, agate), 06 hạt chuỗi thủy tinh đơn sắc Indo-Pacific, 02 vòng kim loại chì - thiếc. Niên đại tương đương Giồng Xoài.
- Xoa Ảo (Thuận Yên, Hà Tiên): Rộng 2 ha, cao +1,5m bên bờ vịnh Thái Lan; thu thập 45 mảnh gốm, dấu vết cọc gỗ nhà sàn, mũi thuyền gỗ, công cụ đá, đồ sắt, bàn mài.
Khu vực Thoại Sơn - Núi Sập:
- Di tích Giồng Xoài: Gò cát rộng 4 ha (500m x 70m); khai quật năm 2001 làm xuất lộ phế tích kiến trúc đền thờ Bà La Môn giáo Shivaisme (chứa 100 lá vàng chạm khắc, hạt chuỗi) và lớp cư trú tiền Óc Eo tại hố 01GX.H6 (sâu 0,4 - 0,6m, dày 0,5 - 0,55m). Thu được 2.030 mảnh gốm gồm gốm thô (40,9%) và gốm mịn (59,1%), cùng ngói lợp hình chữ nhật có rãnh kiểu Ấn Độ.
- Nhóm di tích giai đoạn Óc Eo sớm tại Óc Eo - Ba Thê:
- Gò Óc Eo: Rộng hơn 18.000 m²; khai quật năm 1944, 1999, 2001 xác định lớp cư trú sớm chứa cọc gỗ nhà sàn, ngói dẹt đục lỗ, mạt vàng, phế phẩm thủy tinh, gốm thô cát, gốm bã thực vật, gốm mịn đen, gốm mịn vàng cam nằm dưới nền kiến trúc đắp đất giai đoạn phát triển.
- Gò Cây Thị: Rộng 5.000 m²; khai quật năm 2010 phát hiện lớp cư trú sớm dày 0,6 - 1,0m trong bùn xám đen (thế kỷ I-III AD) nằm dưới móng đền đài thế kỷ V-VII AD; chứa hạt chuỗi agate, carnelian, đồ kim loại chì, thiếc, đồng thau, 05 mảnh gốm in ô vuông kiểu Hán, ngói rãnh kiểu Ấn Độ.
- Gò Da: Tầng địa tầng dày >3,0m; lớp dưới cùng bùn đen chứa bếp lửa, than tro, gốm, cọc gỗ, chì lưới, bánh thiếc có niên đại C14 từ 2.000 BP (thế kỷ I-III AD).
- Linh Sơn Nam: Khai quật năm 1998 (198 m²) phát lộ các lớp kiến trúc gạch đá và ngói lợp sớm.
| Di tích khảo cổ |
Vị trí hành chính / Cảnh quan |
Diện tích phân bố |
Độ dày tầng văn hóa |
Hiện vật đặc trưng ghi nhận |
Niên đại xác định |
| Gò Cây Sung |
Tịnh Biên, An Giang (Chân núi Két) |
11.000 m² |
0,6m |
Rìu đá hình thang mài vát bán nguyệt, chén gốm mịn bán cầu, cà ràng |
Nửa sau TNK I TCN |
| Gò Cây Trôm |
Nhơn Hưng, Tịnh Biên, An Giang |
11.000 m² |
0,5m |
294 mảnh gốm thô, 01 rìu đá có vai |
Nửa sau TNK I TCN |
| Gò Me - Gò Sành |
Ba Chúc, Tri Tôn, An Giang |
~3 ha |
1,2m |
135 mảnh gốm, 11 bàn mài sa thạch, 03 công cụ đá, 02 bi gốm |
Nửa sau TNK I TCN |
| Phum Quao |
Tân Lợi, Tri Tôn, An Giang |
~3 ha |
0,8 – 1,4m |
246 mảnh gốm, 03 công cụ đá phiến sừng, bàn mài, xương động vật cắt gọt |
Nửa sau TNK I TCN |
| Gò Châu Thi |
Cô Tô, Tri Tôn, An Giang |
~4 ha |
Đến 4,0m |
88 mảnh gốm phân tích, lớp đất cháy kết cứng, bát bồng, bình có vòi |
Nửa sau TNK I TCN |
| Giồng Cu |
Kiên Lương, Kiên Giang (Gò thấp) |
~3.000 m² |
~0,5m |
Gốm thô, gốm mịn, chạc gốm trụ tròn/vuông có 4 mấu |
Thế kỷ III TCN – I AD |
| Di chỉ K9 |
Hòn Đất, Kiên Giang (Đồng trũng) |
250 x 450m |
0,4 – 0,6m |
4.627 mảnh gốm, sàn đất nung 10-15cm, hạt chuỗi Indo-Pacific, carnelian, vòng chì-thiếc |
Tiền Óc Eo (TNK I TCN - đầu CN) |
| Xoa Ảo |
Hà Tiên, Kiên Giang (Ven vịnh) |
~2 ha |
Xuất lộ mương |
45 mảnh gốm, cọc gỗ nhà sàn, mũi thuyền gỗ, công cụ đá, đồ sắt |
Tiền Óc Eo |
| Giồng Xoài |
Thoại Sơn, An Giang (Rìa Óc Eo) |
~4 ha |
0,5 – 0,55m |
2.030 mảnh gốm (thô 40,9%, mịn 59,1%), ngói rãnh kiểu Ấn Độ, 100 lá vàng |
Tiền Óc Eo sang Óc Eo phát triển |
| Gò Cây Thị |
Thoại Sơn, An Giang (Trung tâm Óc Eo) |
~5.000 m² |
0,6 – 1,0m (lớp sớm) |
Lớp cư trú sớm bùn đen, gốm Hán in ô vuông, ngói Ấn Độ, hạt chuỗi agate/carnelian |
Thế kỷ I – III AD (lớp sớm) |
Chương 3: Đặc trưng văn hóa và vị trí của các di tích tiền Óc Eo vùng Tứ Giác Long Xuyên trong quá trình hình thành văn hóa Óc Eo ở miền Tây Nam Bộ
Chương 3 tổng hợp và luận giải các giá trị học thuật cốt lõi:
- Đặc trưng tổ hợp di vật tiền Óc Eo: Sự phân tách rõ nét giữa dòng gốm thô phục vụ đun nấu sinh hoạt (nồi, vò miệng đắp dày, cà ràng các loại mũi uốn cong hoặc đắp bẹt) và dòng gốm mịn cao cấp (bát bồng chân choãi, bình có vòi, ly chân cao, nắp đĩa có vành móc) mang đồ án khắc vạch hình học kết hợp khuôn nhạc. Sự xuất hiện của chạc gốm 4 mấu, bàn mài sa thạch và xưởng chế tác khẳng định tính chuyên môn hóa nghề thủ công bản địa.
- Mối quan hệ chuyển tiếp và tính kế thừa: Diễn trình địa tầng tại Giồng Xoài, Gò Óc Eo, Gò Cây Thị, Gò Da chứng minh tầng cư trú tiền Óc Eo và Óc Eo sớm phân bố liên tục bên dưới các tầng kiến trúc gạch đá thời kỳ Óc Eo phát triển. Đồ gốm Óc Eo sớm kế thừa trực tiếp chất liệu và kiểu dáng của gốm tiền Óc Eo Núi Sam - Bảy Núi và Hà Tiên - Rạch Giá, đồng thời tiếp thu kỹ thuật ngói lợp và đồ trang sức ngoại nhập.
- Vị trí và vai trò của vùng Tứ Giác Long Xuyên: Là trung tâm hội tụ của tuyến phát triển sông Hậu (tiểu vùng Gò Cây Tung) kết nối với mạng lưới duyên hải vịnh Thái Lan. Sự thoái triều Holocene III mở rộng châu thổ đã thúc đẩy làn sóng di cư từ thềm phù sa cổ xuống khai phá đồng bằng trũng, kết hợp mạng lưới hàng hải quốc tế sớm để hình thành đô thị sơ khai Óc Eo - Ba Thê ngay đầu Công nguyên.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học:
- Hệ thống hóa toàn diện tư liệu khảo cổ học thời kỳ tiền Óc Eo và giai đoạn sớm của văn hóa Óc Eo tại vùng Tứ Giác Long Xuyên.
- Xác lập đặc trưng loại hình di tích (di chỉ cư trú trên thềm phù sa cổ, di chỉ cư trú gò - giồng thấp, di chỉ xưởng thủ công) và tổ hợp di vật (gốm thô cát, gốm mịn xương đen/vàng cam, chạc gốm, đồ trang sức đá quý, thủy tinh Indo-Pacific, kim loại chì - thiếc).
- Xác định niên đại và làm rõ các mắt xích chuyển tiếp liên tục trên cột địa tầng từ tiền Óc Eo (nửa sau thiên niên kỷ I TCN) sang giai đoạn Óc Eo sớm (thế kỷ I-III AD).
- Định vị vai trò trung tâm của tuyến phát triển Tứ Giác Long Xuyên trong mối quan hệ đa tuyến của vùng đất Nam Bộ đối với sự hình thành nền văn minh đô thị Phù Nam.
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn:
- Cung cấp nguồn sử liệu vật chất đầy đủ góp phần làm rõ lịch sử buổi đầu hình thành và khai phá châu thổ sông Cửu Long.
- Xác lập truyền thống phát triển nội sinh lâu dài, bác bỏ quan điểm xem văn hóa Óc Eo thuần túy là văn hóa ngoại nhập ("Ấn Độ hóa" hay "thực dân").
- Đóng góp luận cứ khoa học cho công tác quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị hệ thống di tích quốc gia đặc biệt Óc Eo - Ba Thê và các di tích liên quan tại Tây Nam Bộ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nhiều điểm di tích tiền Óc Eo ở vùng Tứ Giác Long Xuyên mới dừng lại ở quy mô điều tra thám sát diện tích nhỏ (như Gò Cây Sung 2,5 m², Gò Cây Trôm 1,5 m², Gò Châu Thi 8 m²); một số tư liệu thám sát chưa được công bố toàn diện chi tiết.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục mở rộng diện tích khai quật địa tầng tại các di tích trọng điểm ở thềm phù sa cổ Núi Sam - Bảy Núi và vùng duyên hải Hà Tiên - Rạch Giá; đẩy mạnh phân tích định lượng niên đại C14 và nghiên cứu liên ngành cổ môi trường, trầm tích học để bổ sung các mắt xích chuyển tiếp văn hóa.
Giá trị tham khảo
- Đối với nhà nghiên cứu và nghiên cứu sinh chuyên ngành Khảo cổ học, Lịch sử Việt Nam cổ trung đại: Cung cấp hệ thống bảng biểu phân loại gốm thô - gốm mịn, chỉ số đo đạc di vật, bản vẽ mặt cắt địa tầng và khung phân kỳ niên đại chuẩn xác.
- Đối với giảng viên và cơ sở đào tạo đại học: Là tài liệu tham khảo chuyên khảo trong giảng dạy khảo cổ học tiền - sơ sử Đông Nam Á, lịch sử hình thành vùng đất Nam Bộ và phương pháp tiếp cận địa - văn hóa.
- Đối với cơ quan quản lý văn hóa và bảo tồn di sản: Cung cấp căn cứ khoa học xác định ranh giới khoanh vùng bảo vệ di tích khảo cổ, lập hồ sơ di sản văn hóa và xây dựng chiến lược khai quật khảo cổ học tại An Giang, Kiên Giang.
Câu hỏi thường gặp
-
Khái niệm "tiền Óc Eo" trong luận án được phân kỳ và định vị niên đại như thế nào?
Thời kỳ tiền Óc Eo chỉ toàn bộ giai đoạn văn hóa trước đầu Công nguyên tại Nam Bộ. Giai đoạn tiền Óc Eo là bước phát triển chuyển tiếp tương đương hậu kỳ Đồng - sơ kỳ Sắt, có niên đại trong khoảng từ 2.500 BP (nửa sau thiên niên kỷ I TCN) đến đầu Công nguyên.
-
Di chỉ K9 (Hòn Đất, Kiên Giang) có phát hiện khảo cổ học nào quan trọng về mặt kinh tế - thủ công nghiệp?
Tại hố thám sát 06K9.TS7 phát hiện một sàn đất nung kết cứng dày 10 - 15cm mang dấu vết bếp sinh hoạt và chế tác thủ công. Tổng số thu được 4.627 mảnh gốm (gốm thô 85,9%, gốm mịn 14,1%), 19 bàn mài sa thạch, chạc gốm 4 mấu, hạt chuỗi đá quý carnelian, agate, hạt chuỗi thủy tinh Indo-Pacific và vòng kim loại chì - thiếc.
-
Lớp cư trú sớm tại di tích Gò Cây Thị (khu di tích Óc Eo - Ba Thê) có những đặc điểm địa tầng và hiện vật gì?
Lớp cư trú sớm nằm dưới lớp đất đắp gia cố móng đền thờ Bà La Môn giáo, tích tụ trong lớp bùn xám đen dày 0,6 - 1,0m (niên đại thế kỷ I-III AD). Hiện vật gồm cọc gỗ, xương động vật, đồ trang sức chì, thiếc, đồng thau, hạt chuỗi agate/carnelian, gốm thô bã thực vật, gốm mịn và 05 mảnh gốm in ô vuông kiểu Hán cùng ngói rãnh kiểu Ấn Độ.
-
Dao động mực nước biển Holocene ảnh hưởng thế nào đến sự mở rộng không gian cư trú tại Tứ Giác Long Xuyên?
Đợt biển thoái Holocene II (3.600 - 2.400 BP) và Holocene III (50 - 350 AD hạ xuống -0,5m) làm các cửa sông bồi tích mở rộng về phía tây và nam. Quá trình này tạo điều kiện cho cư dân cổ chuyển cư từ thềm phù sa cổ vùng Núi Sam - Bảy Núi xuống chiếm lĩnh các gò giồng thấp và đồng bằng trũng phù sa mới để lập làng và phát triển thương mại.
Kết luận
Luận án đã hệ thống hóa toàn diện nguồn tư liệu khảo cổ học tại vùng Tứ Giác Long Xuyên, xác lập các đặc trưng loại hình di tích và tổ hợp di vật của thời kỳ tiền Óc Eo trong mối liên hệ với giai đoạn Óc Eo sớm. Kết quả nghiên cứu chứng minh tính liên tục, kế thừa của cơ tầng văn hóa bản địa từ thời đại Kim khí tiến lên giai đoạn đô thị sơ khai trên đồng bằng châu thổ sông Cửu Long. Công trình khẳng định vị trí trung tâm của vùng Tứ Giác Long Xuyên trong tiến trình hình thành nền văn hóa Óc Eo và nhà nước cổ đại Phù Nam.