Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý văn hoá (mã số 9319042) của tác giả Nguyễn Văn Tú, với đề tài "Bảo tồn và phát huy giá trị di tích Nho học Việt Nam (Trường hợp Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội và Văn miếu Mao Điền, Hải Dương)", được bảo vệ tại Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam năm 2020 dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Phạm Hồng Toàn và PGS.TS Phạm Thị Thu Hương.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Nho giáo và nền giáo dục khoa cử Nho học du nhập vào Việt Nam từ đầu Công nguyên, xác lập vị trí vững chắc từ thời Lý với sự kiện xây dựng Văn Miếu (1070) và Quốc Tử Giám (1076). Suốt hơn tám thế kỷ, hệ thống này đã đào tạo tầng lớp trí thức, quan lại, đồng thời để lại hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đa dạng: kho tàng thư tịch Hán Nôm; mạng lưới Văn miếu, Văn từ, Văn chỉ; các trường thi, trường học, bia đá, bảng vàng và nhà thờ danh nhân khoa bảng.

Tuy nhiên, do chiến tranh và biến thiên lịch sử, hệ thống di tích Nho học (DTNH) bị hư hại và xuống cấp nghiêm trọng. Trong bối cảnh đổi mới và hội nhập, công tác bảo tồn và phát huy (BTPH) giá trị DTNH bộc lộ nhiều bất cập:

  • Ngoại trừ các điểm đến có lợi thế du lịch đặc biệt như Văn Miếu – Quốc Tử Giám (VMQTG), phần lớn các DTNH khác chỉ hoạt động cầm chừng vào dịp Tết cổ truyền hoặc đầu năm học mới.
  • Ngay tại di tích tiêu biểu như VMQTG, việc tổ chức các hoạt động vẫn mang tính tự phát, giải pháp tình thế, thiếu cơ sở lý luận khoa học đồng bộ và chưa có đánh giá tổng kết hiệu quả toàn diện.
  • Công tác tu bổ, tôn tạo ở các cấp tỉnh, huyện gặp khó khăn về nguồn lực đầu tư, đồng thời đối mặt với sự lúng túng về mặt nhận thức lý luận: xác định vai trò của DTNH đối với văn hóa - giáo dục đương đại, định hướng bảo tồn và tính chất đặc thù của loại hình di tích này so với các di tích lịch sử - văn hóa khác.

Khoảng trống nghiên cứu mà tác giả xác định là: Cho đến thời điểm thực hiện đề tài, chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ nền tảng lý luận và tổng kết thực tiễn quá trình BTPH giá trị của hệ thống DTNH Việt Nam nhằm đưa ra định hướng và giải pháp mang tính hệ thống, bền vững.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng hoạt động BTPH giá trị DTNH ở Việt Nam qua trường hợp VMQTG (Hà Nội) và Văn miếu Mao Điền (VMMĐ, Hải Dương); chỉ ra các ưu điểm và bất cập, từ đó xác lập định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả BTPH giá trị DTNH một cách khoa học và bền vững.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận, các quan điểm về BTPH giá trị di tích và xây dựng khung lý thuyết áp dụng cho luận án.
    2. Nghiên cứu giá trị tiêu biểu, đặc thù của hệ thống DTNH Việt Nam nói chung và của VMQTG, VMMĐ nói riêng.
    3. Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động BTPH giá trị tại hai di tích nghiên cứu điểm, làm rõ các mặt tích cực và hạn chế.
    4. Đề xuất hệ thống định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả BTPH giá trị DTNH trong giai đoạn hiện nay.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

  • Câu hỏi nghiên cứu:
    1. Di tích Nho học nói chung, di tích VMQTG và VMMĐ nói riêng có giá trị và vai trò gì trong việc bảo tồn và phát triển nền văn hóa, giáo dục Việt Nam?
    2. Hoạt động BTPH giá trị của DTNH tại VMQTG và VMMĐ đã thực sự hiệu quả, phát huy hết giá trị của di tích trong bối cảnh hiện nay chưa?
    3. Định hướng và những giải pháp nào để khắc phục hạn chế và nâng cao hiệu quả hoạt động BTPH giá trị DTNH nói chung, di tích VMQTG và VMMĐ nói riêng?
  • Giả thuyết nghiên cứu: DTNH nói chung, VMQTG và VMMĐ nói riêng giữ vai trò quan trọng và giá trị đặc biệt đối với sự nghiệp bảo tồn, phát triển văn hóa, giáo dục và phát triển kinh tế du lịch hiện nay nếu được quản lý, bảo tồn đúng hướng theo quan điểm quản lý di sản văn hóa hiện đại. Việc xây dựng DTNH thành trung tâm văn hóa, khoa học, giáo dục truyền thống cấp quốc gia, vùng hoặc tỉnh thông qua các giải pháp thích hợp sẽ đưa di tích vào đời sống cộng đồng hiệu quả.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động BTPH giá trị di tích tại VMQTG và VMMĐ (có liên hệ, so sánh với một số DTNH khác).
  • Phạm vi không gian: Tập trung vào khu di tích VMQTG (Hà Nội) và VMMĐ (Hải Dương).
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát từ năm 1986 đến thời điểm nghiên cứu (2020), trọng tâm là giai đoạn từ năm 2015 trở đi.
  • Phạm vi nội dung: Toàn bộ các hoạt động bảo vệ về mặt pháp lý, khoa học; bảo vệ về mặt vật chất, kỹ thuật và các hình thức khai thác, phát huy giá trị di tích phục vụ đời sống xã hội.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu liên quan theo các nhóm nội dung chính:

Nhóm nghiên cứu quốc tế và trong nước về lý luận bảo tồn, quản lý di sản

  • Nghiên cứu quốc tế: John Carman & Marie Louise Stig Sorensen (2009) với Heritage Studies: Methods and Approaches; P.M. Messenger & G.S. Smith (2010) với Cultural Heritage Management; G. Aplin (2002) với Heritage Identification, Conservation and Management; Peter Howard (2002) với Heritage: Management, Interpretation, Identity; cùng các nghiên cứu về mối quan hệ giữa di sản và du lịch của D.T. Herbert (1995), W. Nuryanti (1997), Brian Garrod & Alan Fyall (2000), B. McKercher, H. Cross & R.B. McKercher (2002), D. Timothy (2011). Các công trình này cung cấp các nguyên tắc quản lý di sản, cách tiếp cận cân bằng giữa bảo tồn và khai thác kinh tế - du lịch bền vững.
  • Nghiên cứu trong nước: Các bài viết và công trình của Đặng Văn Bài (2002) về quản lý nhà nước đối với di sản; Lưu Trần Tiêu (2011) về ba mặt hoạt động tu bổ, phục hồi di tích; Phan Hồng Giang & Bùi Hoài Sơn (2012) về quản lý văn hóa trong đổi mới và hội nhập; Hà Văn Tấn (2005) về bảo vệ di tích trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Nguyễn Thế Hùng (chủ nhiệm đề tài Cục Di sản văn hóa); Phạm Thị Thu Hương (2013) về bảo tồn di sản vùng đồng bằng sông Hồng; Nguyễn Chí Bền (2006, 2010) về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Thăng Long – Hà Nội; cùng các giáo trình quản lý di sản của Lê Hồng Lý, Hoàng Sơn Cường, Nguyễn Thị Kim Loan & Nguyễn Trường Tân, Trịnh Minh Đức & Phạm Thu Hương.

Nhóm nghiên cứu về hệ thống di tích Nho học Việt Nam

  • Khảo sát hiện trạng và giá trị địa phương: Lê Viết Nga (2012) về truyền thống hiếu học tỉnh Bắc Ninh; Nguyễn Hữu Mùi (2011) về hệ thống Văn miếu, Văn từ, Văn chỉ ở Vĩnh Phúc; Trần Thị Xuyến (2012) về làng khoa bảng Quan Tử; Bảo tàng tỉnh Hưng Yên (2013) về di tích Nho học và khoa bảng Hưng Yên.
  • Nghiên cứu bảo tồn và quản lý: Đề tài khoa học Cơ sở và giải pháp nghiên cứu bảo tồn DTNH Việt Nam (1998) của Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường phối hợp Sở Văn hóa Thông tin Hà Nội; kỷ yếu các hội thảo khoa học do Trung tâm hoạt động VHKH VMQTG tổ chức năm 2008, 2010 với tham luận của Nguyễn Hữu Mạo, Nguyễn Xuân Khang, Đào Mạnh Huân; công trình của Dương Văn Sáu (2014) về hệ thống DTNH và các Văn miếu tiêu biểu ở Bắc Bộ; các bài viết của Nguyễn Quốc Hùng (2009, 2017) về quản lý di sản văn hóa Nho học thời kỳ hội nhập.

Nhóm nghiên cứu chuyên sâu về VMQTG và VMMĐ

  • Về VMQTG: Đề tài khoa học VMQTG – Trung tâm văn hóa giáo dục Nho giáo Việt Nam (1992); sách của Nguyễn Quang Lộc & Phạm Thị Thúy Hằng (2009); các công trình nghiên cứu văn bia của Ngô Đức Thọ (biên dịch 82 văn bia tiến sĩ), Đỗ Văn Ninh (1993); ấn phẩm Văn khắc Hán Nôm của Trung tâm hoạt động VHKH VMQTG; sưu tập thơ văn của Phan Văn Các & Trần Ngọc Vương; nghiên cứu kiến trúc của Đào Thị Thúy Anh (2007); các luận án, luận văn của Đặng Kim Ngọc, Lê Thu Hương, Nguyễn Liên Hương (2014), Nguyễn Thị Mai (2017), Đỗ Thị Tám (2013), Đỗ Hương Thảo (2000), Đoàn Thị Thanh Thủy (2019).
  • Về VMMĐ: Công trình của Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Hải Dương (1999); các công trình nghiên cứu, luận án của Dương Văn Sáu (2008, 2009, 2014); tham luận hội thảo của Tăng Bá Hoành (2009), An Văn Mậu (2009); sách chuyên khảo của Ban quản lý di tích huyện Cẩm Giàng (2019).

Khoảng trống luận án giải quyết

Phần lớn các nghiên cứu trước tập trung khảo cứu lịch sử, kiến trúc, văn bia hoặc giải quyết các vấn đề kỹ thuật tu bổ mang tính tình thế, khai thác du lịch đơn lẻ. Chưa có công trình nào vận dụng lý thuyết quản lý di sản hiện đại (đặc biệt là quan điểm Bảo tồn phát triển) để xây dựng một khung phân tích hoàn chỉnh, đánh giá thực trạng bảo vệ pháp lý, kỹ thuật và phát huy giá trị của DTNH, từ đó đề xuất mô hình quản lý và mạng lưới liên kết di tích chuyên biệt.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khái niệm và thuật ngữ công cụ

  • Di sản văn hóa, Di sản văn hóa vật thể, Di tích lịch sử - văn hóa: Tiếp cận theo định nghĩa của Luật Di sản văn hóa Việt Nam (2001, sửa đổi bổ sung năm 2009) và Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 10382:2014.
  • Di tích Nho học (DTNH): Luận án định nghĩa là "di tích lịch sử văn hóa về, và liên quan đến Nho giáo và nền giáo dục Nho học Việt Nam". Đây là loại hình di tích lịch sử - văn hóa đặc thù, gắn liền với truyền thống giáo dục khoa cử, đào tạo nhân tài và các thiết chế văn hóa Nho giáo.
  • Bảo tồn, Bảo quản, Tu bổ, Tôn tạo, Phục hồi và Phát huy giá trị di tích: Luận án phân định rõ các cấp độ can thiệp vật chất và hoạt động khai thác lan tỏa giá trị phục vụ xã hội đương đại.

Quan điểm lý thuyết áp dụng

Luận án kế thừa tổng kết của Bùi Hoài Sơn (2008) dựa trên mô hình lý thuyết của G.J. Ashworth (1997), phân biệt ba quan điểm quản lý di sản:

  1. Bảo tồn nguyên vẹn (Preservation): Chú trọng giữ nguyên trạng yếu tố gốc vật chất của quá khứ.
  2. Bảo tồn trên cơ sở kế thừa (Conservation): Lựa chọn các yếu tố phù hợp để kế thừa.
  3. Bảo tồn phát triển (Heritage Management - Quản lý di sản): Quan điểm chủ đạo của luận án. Quan điểm này đặt trọng tâm vào việc làm cho di sản "sống" và phát huy tác dụng trong đời sống đương đại, tích hợp di sản vào các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Luận án kết hợp với tinh thần Văn kiện Nara về tính xác thực (1994) để nhìn nhận tính nguyên gốc một cách linh hoạt, gắn với chức năng và giá trị phi vật thể (truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo, tôn vinh nhân tài).
Khung phân tích hoạt động BTPH giá trị Di tích Nho học:

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp liên ngành: Kết hợp tri thức chuyên ngành Quản lý văn hóa, Văn hóa học, Sử học và Xã hội học nhằm đánh giá toàn diện di tích từ nguồn gốc lịch sử đến thực trạng quản lý.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu giữa các quan điểm lý luận bảo tồn; so sánh các mô hình quản lý, kết quả hoạt động giữa di tích cấp trung ương (VMQTG) và cấp địa phương (VMMĐ).
  • Phương pháp điền dã, khảo sát thực địa: Quan sát trực tiếp, ghi chép, chụp ảnh hiện trạng kiến trúc, cảnh quan; phỏng vấn cán bộ quản lý và người tham quan; tham dự các sự kiện, lễ hội tổ chức tại di tích.
  • Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật, hồ sơ di tích, số liệu thống kê du khách, doanh thu và các tài liệu Hán Nôm, văn bia lưu trữ.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo tồn và phát huy giá trị di tích Nho học và tổng quan về di tích Nho học

Chương này tập trung xác lập hệ thống lý luận quản lý di sản, xây dựng khung phân tích ba trụ cột và khảo lược tiến trình hình thành, hiện trạng của hệ thống DTNH Việt Nam:

  • Tiến trình lịch sử:
    • Thời Bắc thuộc và đầu thời kỳ độc lập (Đinh, Tiền Lê): Nho giáo du nhập mang tính áp đặt, dấu tích vật chất còn lại rất ít (tiêu biểu là đền thờ Sĩ Nhiếp tại Bắc Ninh).
    • Thời Lý – Trần: Đánh dấu sự ra đời của Văn Miếu (1070) và Quốc Tử Giám (1076) tại Thăng Long; xuất hiện các trường tư thục nổi tiếng như trường Huỳnh Cung của Chu Văn An.
    • Thời Hậu Lê – Tây Sơn: Giai đoạn hưng thịnh của Nho học; hệ thống trường học, trường thi, Văn miếu, Văn từ, Văn chỉ mở rộng khắp các địa phương; khởi dựng hệ thống bia tiến sĩ tại VMQTG từ năm 1484.
    • Thời Nguyễn (1802–1919): Tiếp tục củng cố hệ thống Văn miếu tỉnh/vùng (Văn Miếu Huế, Mao Điền, Xích Đằng, Trấn Biên, Vĩnh Long...).

Thống kê tư liệu văn bia tại các Văn từ, Văn chỉ qua các giai đoạn lịch sử được luận án tổng hợp như sau:

Thời kỳ lịch sử Số lượng bia ghi nhận (tấm) Tỷ lệ phần trăm (%)
Thế kỷ XVI 2 0,32%
Thế kỷ XVII 131 21,10%
Thế kỷ XVIII 202 32,60%
Thế kỷ XIX 215 34,60%
Thế kỷ XX (đến thập niên 1930) 50 8,10%
Tổng cộng khảo sát 600+ 100%
  • Phân loại hiện trạng kiến trúc DTNH hiện nay: Luận án chia thành ba nhóm:
    1. Di tích còn khá nguyên vẹn, được quan tâm bảo tồn: VMQTG Thăng Long, VMMĐ (Hải Dương), Văn miếu Bắc Ninh, Văn miếu Xích Đằng (Hưng Yên), Khổng Tử miếu Hội An, Văn miếu Diên Khánh, cùng một số Văn chỉ và từ đường dòng họ khoa bảng.
    2. Di tích bị hủy hoại phần lớn, được phục dựng/trùng tu: Văn miếu Trấn Biên, Văn miếu Vĩnh Phúc, Văn miếu Hà Tĩnh, Văn miếu Sơn Tây, Văn Miếu Huế (còn hệ thống bia và nền móng).
    3. Di tích bị hủy hoại hoàn toàn: Chỉ còn ghi chép trong thư tịch, bia ký hoặc địa danh dân gian.

Chương 2: Thực trạng hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám và Văn miếu Mao Điền

Chương 2 phân tích chuyên sâu thực trạng tại hai trường hợp nghiên cứu đại diện cho hai cấp độ quản lý:

  • Giá trị đặc trưng:

    • VMQTG: Di tích quốc gia đặc biệt, giữ vai trò biểu tượng giáo dục và văn hóa quốc gia; sở hữu cụm kiến trúc cổ kính (Khuê Văn Các, Đại Thành, Thái Học) và 82 bia tiến sĩ được công nhận là Di sản tư liệu thế giới.
    • VMMĐ: Di tích quốc gia đặc biệt thuộc huyện Cẩm Giàng, Hải Dương; là trung tâm văn hóa giáo dục của trấn Hải Dương/xứ Đông xưa; phối thờ Khổng Tử cùng 8 danh nhân Nho học tiêu biểu của dân tộc và địa phương (Chu Văn An, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Tuệ Tĩnh...).
  • Thực trạng hoạt động theo 3 nội dung:

    • Bảo vệ pháp lý và khoa học: Cả hai di tích đều được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt; VMQTG do Trung tâm Hoạt động VHKH VMQTG (trực thuộc Sở VHTT Hà Nội) quản lý với cơ cấu tổ chức chuyên trách; VMMĐ do Ban Quản lý di tích huyện Cẩm Giàng quản lý.
    • Bảo vệ vật chất và kỹ thuật: Hoàn thành nhiều dự án tu bổ lớn (phục dựng khu Thái Học tại VMQTG năm 2000; đại trùng tu tôn tạo VMMĐ giai đoạn 2002–2004). Công tác bảo quản định kỳ cấu kiện gỗ, mái ngói và hệ thống bia đá được duy trì.
    • Hoạt động phát huy giá trị: Tổ chức đón tiếp hàng triệu lượt khách tham quan trong nước và quốc tế; phục vụ các đoàn thuyết minh; tổ chức lễ hội truyền thống, lễ vinh danh thủ khoa, trao thưởng khuyến học, hội chữ Xuân, triển lãm chuyên đề và các hoạt động giáo dục di sản cho học sinh.
  • Đánh giá tổng hợp:

    • Ưu điểm: Khẳng định được vị thế trung tâm giáo dục truyền thống; tạo nguồn thu lớn từ vé tham quan tại VMQTG để tái đầu tư; bước đầu đưa di tích gắn với phát triển du lịch.
    • Hạn chế và bất cập: Sự chênh lệch lớn về hiệu quả khai thác giữa trung ương và địa phương (VMMĐ nguồn thu thấp, lượng khách chủ yếu tập trung mùa lễ hội); nguy cơ quá tải và ô nhiễm môi trường tại VMQTG; thiếu tính liên kết mạng lưới giữa các DTNH; đội ngũ nhân lực quản lý cấp huyện còn kiêm nhiệm, thiếu chuyên môn sâu về bảo tồn di sản Nho học.

Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả việc bảo tồn phát huy giá trị di tích Nho học Việt Nam hiện nay

Chương 3 đề xuất định hướng chiến lược và hệ thống giải pháp tổng thể:

  • Định hướng và nguyên tắc: Quán triệt quan điểm Bảo tồn phát triển; kết hợp bảo tồn yếu tố vật thể với việc tôn vinh, truyền bá các giá trị phi vật thể (đạo hiếu học, trọng hiền tài, tôn sư trọng đạo); đảm bảo phát triển bền vững và hài hòa lợi ích giữa cộng đồng, nhà nước và du khách.
  • Mô hình mạng lưới liên kết di tích Nho học: Đề xuất thiết lập cơ chế phối hợp hoạt động giữa VMQTG (hạt nhân trung tâm) với hệ thống Văn miếu các tỉnh phía Bắc (Mao Điền, Bắc Ninh, Xích Đằng) và cả nước nhằm chia sẻ thông tin, nghiên cứu khoa học, tổ chức trưng bày lưu động và hình thành các tour du lịch văn hóa chuyên đề.
  • Giải pháp cụ thể cho VMQTG:
    • Hoàn thiện mô hình cơ cấu tổ chức của Trung tâm Hoạt động VHKH VMQTG theo hướng chuyên nghiệp hóa.
    • Tăng cường ứng dụng công nghệ trong bảo tồn vi khí hậu nhà bia tiến sĩ, số hóa tư liệu di tích.
    • Nâng cấp các sản phẩm trải nghiệm đêm, chương trình giáo dục di sản theo chủ đề cho học sinh, sinh viên.
  • Giải pháp cụ thể cho VMMĐ:
    • Nâng cao năng lực bộ máy quản lý di tích huyện Cẩm Giàng; tăng cường cán bộ có chuyên môn về bảo tàng và di sản.
    • Quy hoạch mở rộng không gian cảnh quan vùng đệm, bảo vệ môi trường sinh thái di tích.
    • Xây dựng chương trình liên kết tour du lịch văn hóa tâm linh xứ Đông (kết nối Mao Điền với di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc, đền Gốm, đền Xưa...); đa dạng hóa các hoạt động hội thi tìm hiểu lịch sử, khuyến học khuyến tài.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  • Bổ sung cơ sở lý luận cho chuyên ngành Quản lý văn hóa về việc tiếp cận, quản lý loại hình di tích lịch sử - văn hóa đặc thù là di tích Nho học.
  • Xây dựng hoàn chỉnh khung phân tích ba nội dung (pháp lý - khoa học, vật chất - kỹ thuật, phát huy giá trị) dựa trên quan điểm lý thuyết Bảo tồn phát triển, khắc phục tư duy bảo tồn nguyên trạng thụ động.
  • Luận giải sâu sắc bản chất giá trị đặc thù của DTNH: sự kết hợp hữu cơ giữa cấu kiện vật thể (kiến trúc, văn bia) và giá trị văn hóa phi vật thể (tinh thần hiếu học, đạo lý tôn sư trọng đạo, triết lý trọng dụng nhân tài).

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Khảo sát, đánh giá toàn diện thực trạng quản lý và BTPH giá trị tại hai di tích đại diện cho hai cấp độ quản trị di sản ở Việt Nam (VMQTG cấp trung ương và VMMĐ cấp địa phương).
  • Đề xuất mô hình mạng lưới liên kết các DTNH Việt Nam nhằm giải quyết tình trạng hoạt động manh mún, cục bộ giữa các địa phương.
  • Cung cấp hệ thống giải pháp cụ thể, có tính khả thi cao về kiện toàn tổ chức bộ máy, bảo tồn kỹ thuật và phát triển sản phẩm văn hóa - du lịch, làm tài liệu tham khảo trực tiếp cho các nhà quản lý di tích.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung phân tích sâu vào hai trường hợp nghiên cứu điểm tại vùng đồng bằng Bắc Bộ (VMQTG tại Hà Nội và VMMĐ tại Hải Dương) trong khung thời gian từ 1986 đến 2020. Do giới hạn về phạm vi và tư liệu, công trình chưa thể khảo sát thực địa toàn bộ hệ thống Văn từ, Văn chỉ cấp xã/thôn cũng như các DTNH ở khu vực miền Trung và miền Nam (như Văn Miếu Huế, Văn miếu Trấn Biên, Văn miếu Vĩnh Long).
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng khảo sát và xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa toàn diện về hệ thống DTNH trên phạm vi toàn quốc.
    • Đi sâu nghiên cứu chuyên biệt về bảo tồn cảnh quan môi trường sinh thái và tác động của biến đổi khí hậu, đô thị hóa đối với hệ thống văn bia đá tại các DTNH.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo khoa học có giá trị đối với nhiều đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và ban quản lý di tích: Giúp Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh/thành phố, các Trung tâm bảo tồn di tích định hình khung quản lý, xây dựng quy hoạch tu bổ và thiết kế chương trình hoạt động phát huy giá trị phù hợp.
  • Giảng viên, học viên và nghiên cứu sinh: Cung cấp tài liệu tham khảo có hệ thống về lý thuyết quản lý di sản, phương pháp tiếp cận di tích đặc thù trong các ngành Quản lý văn hóa, Di sản học, Văn hóa học.
  • Các đơn vị lữ hành và phát triển du lịch: Gợi ý định hướng xây dựng các tuyến điểm du lịch chuyên đề văn hóa - giáo dục, kết nối các di tích khoa bảng vùng đồng bằng sông Hồng.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa di tích Nho học là gì và vì sao xác định đây là di tích có tính chất đặc thù?

Luận án định nghĩa: "Di tích Nho học là di tích lịch sử văn hóa về, và liên quan đến Nho giáo và nền giáo dục Nho học Việt Nam". Tính đặc thù của loại hình này thể hiện ở chỗ: đây không thuần túy là công trình tôn giáo tín ngưỡng mà là thiết chế gắn liền với nền giáo dục khoa cử truyền thống, lưu giữ ký ức tôn vinh hiền tài, đạo học và là biểu tượng của truyền thống hiếu học của dân tộc.

2. Quan điểm lý thuyết "Bảo tồn phát triển" được luận án áp dụng như thế nào?

Dựa trên lý thuyết của G.J. Ashworth và tổng kết của Bùi Hoài Sơn, luận án tiếp cận theo hướng không coi di sản là vật thể bất biến của quá khứ cần đóng kín bảo quản, mà đặt trọng tâm vào việc làm cho di sản "sống", phục vụ nhu cầu giáo dục, văn hóa và kinh tế du lịch của xã hội đương đại, lấy chức năng và giá trị phi vật thể làm nền tảng định hướng bảo tồn.

3. Dữ liệu văn bia khảo sát trong luận án phản ánh điều gì về tiến trình phát triển của các cơ sở Nho học ở địa phương?

Khảo sát trên 600 tấm bia Văn từ, Văn chỉ cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của phong trào lập cơ sở thờ tự Nho học ở địa phương: thế kỷ XIX chiếm tỷ lệ cao nhất (34,6%), tiếp đến là thế kỷ XVIII (32,6%) và thế kỷ XVII (21,1%), trong khi thế kỷ XVI chỉ ghi nhận 0,32% và kéo dài đến những năm 1930 của thế kỷ XX (8,1%).

4. Vì sao tác giả lựa chọn VMQTG và VMMĐ làm hai trường hợp nghiên cứu điển hình?

Hai di tích này đại diện cho hai cấp độ quản lý và tầm ảnh hưởng khác nhau: VMQTG là di tích cấp quốc gia do triều đình khởi lập, đại diện cho trung tâm Nho học cả nước; VMMĐ là di tích cấp tỉnh/vùng do địa phương lập và quản lý, đại diện cho xứ Đông. Đồng thời, đây là hai di tích được bảo tồn tương đối nguyên vẹn và tổ chức phát huy giá trị nổi bật nhất trong hệ thống DTNH hiện nay.

5. Khung phân tích hoạt động BTPH giá trị di tích Nho học của luận án gồm những nội dung nào?

Khung phân tích gồm ba trụ cột chính: (1) Bảo vệ về mặt pháp lý và khoa học (xếp hạng, lập hồ sơ, cơ chế quản lý); (2) Bảo vệ về mặt vật chất và kỹ thuật (bảo quản, tu bổ, tôn tạo kiến trúc và hiện vật); (3) Hoạt động phát huy giá trị (thông tin quảng bá, tổ chức hoạt động văn hóa - khoa học - giáo dục truyền thống, phát triển dịch vụ và du lịch).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Tú là công trình nghiên cứu hệ thống về bảo tồn và phát huy giá trị di tích Nho học tại Việt Nam dưới góc độ chuyên ngành Quản lý văn hóa. Bằng việc vận dụng quan điểm lý thuyết Bảo tồn phát triển và xây dựng khung phân tích ba nội dung, tác giả đã làm rõ thực trạng quản lý tại hai trường hợp tiêu biểu là Văn Miếu – Quốc Tử Giám và Văn miếu Mao Điền. Các kết quả nghiên cứu, mô hình mạng lưới liên kết và hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án có giá trị khoa học và thực tiễn, đóng góp thiết thực cho công tác bảo tồn di sản văn hóa gắn với phát triển văn hóa, giáo dục và kinh tế trong giai đoạn hiện nay.