chương 1, ngoài sự phân tích những đặc điểm tâm - sinh lý của sinh viên, sự tác động của bối cảnh hiện nay đối với nhân cách của sinh viên, các tác giả đã đi sâu phân tích về cơ sở hình thành và nội dung của giá trị văn hoá truyền thống dân tộc. Chương 2, các tác giả đi khảo sát thực trạng và phân tích các vấn đề đặt ra trong quá trình phát huy giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc trong việc xây dựng nhân cách sinh viên hiện nay. Từ các vấn đề đặt ra của chương 2, các tác giả đã đề cập những phương hướng và đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy giá trị văn hoá truyền thống trong việc xây dựng nhân cách sinh viên hiện nay. Cuốn sách là tài liệu tham khảo có ý nghĩa với tác giả luận án, song, những vấn đề đặt ra của cuốn sách là các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc đối với việc hình thành nhân cách của sinh viên, nên có sự khác biệt cơ bản trong quá trình tiếp cận của đối tượng luận án.
Trong bài viết “Công nghiệp hóa - hiện đại hóa và vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc” của Nguyễn Văn Huyên (1999) trên tạp chí Triết học (được trích dẫn trên website: http://www.com), tác giả khẳng định: “… mỗi nền văn hoá bao giờ cũng tàng chứa những tố chất đặc sắc, tạo nên nét riêng của mình đó là bản sắc. Cái bản sắc đó được kết tinh từ tâm hồn, khí phách hàng 14 (LUAN.nay TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nay ngàn đời của dân tộc, tạo nên nhân lõi, cốt cách, bản lĩnh và sức sống của một dân tộc, nó là căn cước để nhận dạng nó trong trăm ngàn nền văn hoá, là bộ gen để di truyền bản sắc truyền thống của mình cho các thế hệ mai sau”. Mặc dù, với khuôn khổ là một bài báo, bài viết chưa chỉ ra những giải pháp thực hiện tốt trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đối với vấn đề giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc nhưng đây là một sự khẳng định quan trọng về sức mạnh nội sinh, nền tảng cơ bản cần phải giữ vững, không để nó bị pha trộn, hoà tan với những nền văn hoá khác trên thế giới trong quá trình xây dựng đất nước hiện nay. Qua các công trình đã đề cập ở trên, nhiều tác giả đi sâu bàn về khái niệm “văn hóa”, “bản sắc văn hóa dân tộc”, giá trị văn hóa nói chung và giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam; những nội dung cơ bản của nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Khi đề cập đến vấn đề nghiên cứu về giá trị văn hóa đó, có nhiều học giả nghiên cứu với ý nghĩa của bản sắc văn hóa, nhiều học giả đi tìm hiểu về giá trị văn hóa, giá trị văn hóa truyền thống. được đề cập trên các lĩnh vực. Tuy nhiên, khi bàn về khái niệm “văn hóa” và khái niệm “bản sắc văn hóa dân tộc” cũng còn những ý kiến khác nhau. Sự khác nhau này do các tác giả nghiên cứu về văn hóa từ những góc độ và cách tiếp cận khác nhau.
Các công trình của các tác giả ở trên đã phân tích sâu sắc các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, chỉ rõ các thời cơ và thách thức của nó trong bối cảnh toàn cầu hóa hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay. Các công trình nghiên cứu của các tác giả đều nhấn mạnh đến vai trò của văn hoá truyền thống trong bối cảnh có nhiều yếu tố tác động, trong đó có những yếu tố tác động tích cực và không ít các yếu tố tác động tiêu cực. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu đã đề cập ở trên cứu về sự tác động của các yếu tố hiện nay đến nền văn hoá, giá trị văn hoá, giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc, mà chưa phải nghiên cứu tác động đến văn hoá một tộc người cụ thể ở nước ta.nay TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các công trình nghiên cứu về phương hướng, giải pháp giữ gìn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống trong bối cảnh hiện nay Thành Duy trong cuốn “Văn hóa Việt Nam trước xu thế toàn cầu hóa - thời cơ và thách thức” (2007) cho rằng: “Bản sắc văn hóa dân tộc là sự tổng hòa các khuynh hướng cơ bản trong sáng tạo văn hóa truyền thống của một dân tộc; nó gắn với mỗi nền văn hóa ấy như bản chất tự nhiên của nền văn hóa ấy trong mối liên hệ thường xuyên với điều kiện kinh tế, môi trường tự nhiên, các thể chế văn hóa, và các hệ tư tưởng.
trong quá trình vận động không ngừng của dân tộc đó” [24, tr. Bản sắc văn hóa dân tộc được hình thành trong văn hóa truyền thống của dân tộc. Theo tác giả cuốn sách “. với nền văn hóa Việt Nam, bản sắc văn hóa dân tộc luôn gắn với sứ mệnh độc lập dân tộc và hiện nay theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nó lấy bao dung, hòa đồng và tính nhân bản để tự điều chỉnh nền văn hóa truyền thống cho phù hợp với khuynh hướng chung trong các nền văn hóa khác nhau của khu vực và nhân loại. Điều đó có nghĩa là trong bản sắc văn hóa dân tộc vốn có tính bền vững, có giá trị truyền thống, nhưng trong điều kiện và hoàn cảnh mới, trước xu thế toàn cầu hóa nó vẫn có cơ hội phát triển, hình thành một chất lượng mới của bản sắc văn hóa dân tộc, tương ứng với tiên tiến theo quan niệm của chúng ta” [24, tr. Cuốn sách là sự khẳng định về vai trò của bản sắc văn hóa trong quá trình đổi mới cũng nên cần có sự bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với tình hình thực tại, nhưng cũng cần phải giữ vững những giá trị cốt yếu của chính nền văn hóa đó. Đây là tư liệu có ý nghĩa trong quá trình nghiên cứu luận án của tác giả.
Nguyễn Duy Quý trong cuốn “Nhận thức văn hóa Việt Nam”(2008). Cuốn sách là cái nhìn toàn diện và sâu sắc, nhưng thể hiện rất rõ được cái đa dạng trong thống nhất của các nội dung trong văn hoá. Trong Phần thứ nhất: Một số gương mặt trong lịch sử văn hoá Việt Nam; bao gồm hàng loạt các bài viết có tính điểm xuyết về một số nhân vật lịch sử văn hoá thế kỷ X cho đến 16 (LUAN.nay TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nay nay trên tất cả các lĩnh vực, như: Đinh Quốc Công Nguyễn Bặc, Lý Nhật Quang, Chu Văn An, Nguyễn Xí, Lê Thánh Tông, Phan Kính, Nguyễn Huy Tự, Phan Đình Phùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tôn Đức Thắng, Trần Phú, Hà Huy Tập, Lê Duẩn, Trường Chinh, Nguyễn Sĩ Sách, Nguyễn Văn Linh, Tố Hữu, Hoàng Ngọc Phách, Hoàng Xuân Hãn, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Khánh Toàn, Cao Xuân Huy, Đặng Thai Mai, Đinh Gia Khánh, Vũ Ngọc Phan, Lê Khả Kế, Nguyễn Đổng Chi. Phần thứ hai: Sức mạnh của cội nguồn văn hoá; tác giả đã phân tích và lý giải về cội nguồn văn hoá dân tộc, văn hoá và phát triển, khẳng định: văn hoá không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực phát triển kinh tế - xã hội và khoa học được coi là một thành tố của văn hoá.
Phần thứ ba: Văn hoá Việt Nam - một góc nhìn; tác giả trình bày khái quát từ truyền thống văn hoá Việt Nam đến những quan điểm cơ bản của Đảng ta trong quá trình xây dựng và phát triển văn hoá Việt Nam; đồng thời, tác giả đề cập đến vai trò và nhiệm vụ của khoa học xã hội và nhân văn trong việc thực hiện đường lối của Đảng, góp phần quan trọng vào việc xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Cuốn sách đã cung cấp cho người đọc một cách nhìn toàn diện về các nội dung của văn hoá, thông qua sự khảo lược các nhân vật lịch sử, các quan điểm của Đảng về văn hoá qua các thời kỳ, đồng thời, tác giả cuốn sách nhấn mạnh về việc khi nước ta mở cửa, hội nhập sẽ có những chướng ngại và thách thức để trở thành nếp sống, nếp suy nghĩ, nếp hành động trong xã hội Việt Nam. Do đó, tác giả khẳng định “Vấn đề hợp tác và giao lưu văn hoá trở thành một nhu cầu” [87, tr.474] và nghiên cứu, thực hiện nghiêm túc. Tuy nhiên, cho đến nay, trên thế giới đã có nhiều thay đổi về quá trình hội nhập, mở cửa và toàn cầu hoá, đặc biệt cuộc khủng hoảng về tài chính trên thế giới cho đến nay về cơ bản vẫn chưa phục hồi hoàn toàn, và nó đã xuất hiện nhiều nhân tố mới song cuốn sách ít nhiều có ý nghĩa đối với chúng tôi trong quá 17 (LUAN.nay TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nay trình phân tích những cơ hội và thách thức đối với các giá trị văn hoá truyền thống hiện nay.
Đặc biệt là cuốn sách “Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong thời kỳ đổi mới hội nhập” (2010) của Ngô Đức Thịnh, đã chỉ rõ: “Giá trị của văn hóa là yếu tố cốt lõi của văn hóa, nó được sáng tạo và kết tinh trong quá trình lịch sử của mỗi cộng đồng, tương ứng với môi trường tự nhiên và xã hội nhất định. Giá trị văn hóa hướng đến những nhu cầu và khát vọng của cộng đồng về những điều tốt đẹp (chân, thiện, mỹ), từ đó bồi đắp và nâng cao bản chất Người. Giá trị văn hóa luôn ẩn tàng trong bản sắc văn hóa, di sản văn hóa, biểu tượng, chuẩn mực văn hóa. Chính vì vậy mà văn hóa thông qua hệ giá trị của nó góp phần điều tiết sự phát triển xã hội” [96, tr.
Theo ông, giá trị văn hóa của mỗi cộng đồng người bao giờ cũng tạo nên một hệ thống, với ý nghĩa là các giá trị ấy nảy sinh, tồn tại trong liên hệ, tác động hữu cơ với nhau. Khi đề cập đến hệ giá trị, hay bảng giá trị hay thang giá trị của mỗi cộng đồng đều thể hiện ở cả hai ý nghĩa, đó là: các giá trị riêng lẻ tạo nên một hệ thống hữu cơ các giá trị và có sự sắp đặt trước sau, độ nhấn về tầm quan trọng của từng nhân tố giá trị trong từng bảng giá trị. Thêm nữa, tác giả cho rằng, giá trị của văn hóa được thông qua sự phân chia theo hai hệ giá trị, đó là: hệ giá trị tổng quát và hệ giá trị bộ phận. Hệ giá trị văn hóa tổng quát bao gồm 5 yếu tố: 1/yêu nước, 2/ đoàn kết, 3/cần cù, 4/anh hùng, 5/yêu gia đình và làng xóm [96, tr.