Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ triết học với đề tài "Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tộc người Tày ở Thái Nguyên hiện nay" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Nội thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (bảo vệ năm 2017), thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử (mã số: 62 22 03 02), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Đặng Thị Lan.

Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Trong tiến trình đổi mới đất nước, các yếu tố như công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã tạo cơ hội tiếp thu những giá trị tiến bộ của nhân loại, đồng thời đặt ra nguy cơ mai một, lai căng và làm biến đổi những giá trị văn hóa truyền thống cốt lõi.

Thái Nguyên là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục của khu vực trung du và miền núi phía Bắc, giữ vị trí cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô Hà Nội. Tỉnh được tiếp cận công nghiệp hóa từ những năm 1960 và thu hút nhiều tập đoàn đầu tư quốc tế lớn (như Samsung, Shinwon), đồng thời là nơi diễn ra sự hỗn dung văn hóa sâu sắc giữa cư dân bản địa và người dân từ nhiều địa phương chuyển đến học tập, lao động. Cộng đồng người Tày tại Thái Nguyên có dân số khoảng 123.197 người (chiếm khoảng 15% tổng số người Tày tại Việt Nam), đứng thứ hai trong cơ cấu dân tộc của tỉnh (sau người Kinh). Mặc dù đời sống vật chất và tinh thần được nâng lên, nhiều nét văn hóa truyền thống đặc trưng của người Tày tại đây đang đứng trước nguy cơ bị xói mòn và biến mất.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Trước đây đã có các công trình nghiên cứu về lịch sử, văn hóa, dân tộc học về người Tày tại các tỉnh vùng Đông Bắc hoặc một số địa bàn hẹp thuộc Thái Nguyên, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống dưới góc độ triết học (CNDVBC và CNDVLS) về thực trạng và các giải pháp giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tộc người Tày ở Thái Nguyên trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và kinh tế thị trường.

Tiêu chí Nội dung xác định trong luận án
Tên đề tài Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tộc người Tày ở Thái Nguyên hiện nay
Tác giả Nguyễn Thị Nội
Người hướng dẫn PGS. Đặng Thị Lan
Cơ sở đào tạo Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử (Mã số: 62 22 03 02)
Năm bảo vệ 2017
Đối tượng nghiên cứu Vấn đề giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tộc người Tày ở Thái Nguyên
Phạm vi không gian Tỉnh Thái Nguyên (tập trung tại các địa bàn như Định Hóa, Phú Lương, Võ Nhai)
Phạm vi thời gian Từ thời kỳ đổi mới (năm 1986) đến nay

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ một số vấn đề lý luận về giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tộc người Tày ở Thái Nguyên; đánh giá thực trạng của quá trình này trong giai đoạn từ năm 1986 đến nay, chỉ ra thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra; từ đó đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tộc người Tày tại địa phương trong giai đoạn hiện nay.

Để thực hiện mục đích trên, luận án giải quyết ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Trình bày một số vấn đề lý luận chung về giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tộc người Tày ở Thái Nguyên.
  2. Phân tích, làm rõ thực trạng giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tộc người Tày ở Thái Nguyên hiện nay cùng những vấn đề thực tiễn đang đặt ra.
  3. Nêu một số quan điểm và đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tộc người Tày ở Thái Nguyên hiện nay.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tiến hành hệ thống hóa và điểm luận các công trình nghiên cứu liên quan theo bốn nhóm nội dung chính:

Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu về giá trị, giá trị văn hóa và giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam.

  • Trần Văn Giàu (1980) trong cuốn Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam phân tích 7 đức tính tốt đẹp: yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa; trong đó yêu nước là giá trị cốt lõi, là thước đo tiêu chuẩn cao nhất.
  • Đề tài cấp Nhà nước KHXH 01-10 do Phan Huy Lê làm chủ nhiệm (2002) về Chủ nghĩa yêu nước truyền thống và hiện đại nêu 5 nội dung cơ bản: yêu xóm làng quê hương; yêu thương gia đình giống nòi; tinh thần cố kết cộng đồng lấy dân làm gốc; ý thức về lịch sử văn hóa chung; ý thức sâu sắc về toàn vẹn lãnh thổ, độc lập tự chủ và tự tôn dân tộc.
  • Nông Quốc Chấn và Huỳnh Khái Vinh (đồng chủ biên, 2002) trong công trình Văn hoá các dân tộc Việt Nam thống nhất mà đa dạng (đề tài KHXH 04.08) chỉ ra 5 chuẩn giá trị: kiên nhẫn, cần cù; kiên cường, kiên quyết; dũng cảm, mưu trí; tính tập thể, tính cộng đồng (thương người như thể thương thân và dung hợp Hòa - Thiên - Địa - Nhân).
  • Trần Ngọc Thêm (2010) trong cuốn Giá trị và sự chuyển đổi hệ giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam và Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam: Cái nhìn hệ thống - loại hình chỉ ra các đặc trưng: tính cộng đồng, tính ưa hài hòa, tính trọng âm, tính tổng hợp và tính linh hoạt.
  • Nguyễn Duy Bắc (chủ nhiệm đề tài cấp Bộ, 2005) trong Sự biến đổi các giá trị văn hoá trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã phân tích những tác động hai mặt của kinh tế thị trường đến giá trị nhân cách, chính trị, đạo đức và gia đình.

Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu về giá trị văn hóa truyền thống trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

  • Phan Ngọc (2000) với tác phẩm Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới.
  • Trần Ngọc Thêm (2001) trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam phân tích văn hóa Việt Nam trước thách thức của kinh tế thị trường, chỉ ra tính hai mặt giữa ưu điểm (linh hoạt, mềm dẻo) và hạn chế (tùy tiện, làm ăn nhỏ, gia đình chủ nghĩa, đố kỵ).
  • Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức, Hồ Sĩ Quý (đồng chủ biên) với cuốn Tìm hiểu giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
  • Phạm Duy Đức (2006) trong cuốn Những thách thức của văn hoá Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
  • Lương Gia Ban và Nguyễn Thế Kiệt (2014) trong Giá trị văn hoá truyền thống dân tộc với việc xây dựng nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay.
  • Nguyễn Văn Huyên (1999) với bài viết Công nghiệp hóa - hiện đại hóa và vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trên Tạp chí Triết học.

Nhóm 3: Các công trình nghiên cứu về phương hướng, giải pháp giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống.

  • Thành Duy (2007) trong Văn hóa Việt Nam trước xu thế toàn cầu hóa - thời cơ và thách thức.
  • Nguyễn Duy Quý (2008) với cuốn Nhận thức văn hóa Việt Nam.
  • Ngô Đức Thịnh (2010) trong cuốn Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong thời kỳ đổi mới hội nhập phân chia hệ giá trị tổng quát (yêu nước, đoàn kết, cần cù, anh hùng, yêu gia đình và làng xóm) và hệ giá trị bộ phận, đề xuất 7 kiến nghị định hướng.
  • Phạm Thanh Hà (2011) trong Giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.
  • Đinh Xuân Dũng (2014) với tác phẩm Văn hóa trong chiến lược phát triển của Việt Nam.
  • Lương Đình Hải (2015) nêu bảng giá trị Việt Nam gồm 10 thành tố: tinh thần yêu nước; tinh thần nhân ái; anh hùng, dũng cảm; biết chấp nhận (nhẫn), tiếp thu; hiếu học; sáng tạo; cần cù; lạc quan; trọng đạo lý; ưa ổn định.
  • Hoàng Xuân Lương (2000) với luận án tiến sĩ Bản sắc văn hóa dân tộc H’Mông và giải pháp giữ gìn, phát huy giá trị của nó ở Việt Nam hiện nay.

Nhóm 4: Các công trình nghiên cứu về giá trị văn hóa truyền thống tộc người Tày.

  • Các ấn phẩm nghiên cứu tổng quan và chuyên sâu: Viện Dân tộc học (1992) với Các dân tộc Tày Nùng ở Việt Nam; Hoàng Ngọc La (chủ biên, 2002) với Văn hóa dân gian Tày; Nguyễn Huy Hồng (2003) với Nghệ thuật múa rối Tày - Nùng; Ma Ngọc Dung với các công trình Nhà sàn của người Tày ở vùng Đông Bắc Việt Nam (2004), Sự biến đổi tập quán ăn uống của người Tày (2006) và Văn hóa ẩm thực của người Tày ở Việt Nam (2007); Ma Đình Thu (2009) với Lượn Lùng tùng; Nguyễn Thị Yên (2009) với Tín ngưỡng dân gian Tày - Nùng và Đời sống tín ngưỡng của người Tày ven biên giới Hạ Lang, Cao Bằng (2010); Vương Xuân Tình và Trần Hồng Hạnh (đồng chủ biên, 2012) với Phát triển bền vững văn hoá tộc người trong quá trình hội nhập ở vùng Đông Bắc (đưa ra 5 chỉ báo phát triển bền vững văn hóa tộc người).
  • Các công trình theo địa bàn và chuyên đề: Dương Thị Lê (2010) nghiên cứu Lễ hội Lồng tồng của người Tày huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên (truyền thống và biến đổi); Trần Hồng Hạnh, Vương Xuân Tình, Lê Thị Mùi (2008) nghiên cứu văn hóa phi vật thể người Tày ở Cao Lộc, Lạng Sơn; Lương Thị Hạnh (2013) nghiên cứu Tang ma của người Tày ở tỉnh Bắc Kạn; Bế Văn Hậu và Mai Văn Huyên (2013) nghiên cứu biến đổi văn hóa người Tày ở Lạng Sơn; Hà Đình Thành (2011) nghiên cứu bảo tồn văn hóa phi vật thể dân tộc Tày tỉnh Bắc Kạn.

Vị trí của luận án: Qua tổng quan, tác giả nhận thấy hầu hết các công trình nghiên cứu trước đây tiếp cận văn hóa tộc người Tày từ góc độ văn hóa dân gian, dân tộc học, sử học hoặc xã hội học ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống nghiên cứu dưới góc độ triết học (CNDVBC và CNDVLS), xem xét văn hóa người Tày tại Thái Nguyên như một bộ phận của ý thức xã hội trong mối quan hệ biện chứng với sự biến đổi của tồn tại xã hội tại một địa bàn công nghiệp hóa, đô thị hóa phát triển nhanh. Luận án cũng phân định rõ hai khái niệm "bản sắc văn hóa dân tộc" (yếu tố cốt lõi, bền vững) và "giá trị văn hóa truyền thống" (phạm trù có tính lịch sử - cụ thể, có sự tiếp biến và kế thừa chọn lọc).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án được triển khai dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về đời sống tinh thần của xã hội, ý thức xã hội và văn hóa. Tác giả vận dụng các nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật, đặc biệt là quy luật phủ định của phủ định và mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội (sự phát triển kinh tế - xã hội làm biến đổi đời sống văn hóa, đồng thời văn hóa có tính độc lập tương đối và tác động trở lại kinh tế). Luận án cũng dựa trên các nghị quyết, quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về văn hóa từ năm 1986 đến nay (tiêu biểu như Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII năm 1998 về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc).

Về mặt khái niệm, luận án làm rõ các thuật ngữ công cụ:

  • Giá trị: Bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp (axios), tiếng Anh gồm value và worth. Trong triết học và văn hóa học, giá trị là những cái tích cực, gắn với cái đúng, cái tốt, cái đẹp (chân, thiện, mỹ), định hướng hành vi con người.
  • Văn hóa và văn hóa tộc người: Văn hóa là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo; văn hóa tộc người là tổng thể các yếu tố vật thể và phi vật thể mang tính đặc trưng, tạo nên ý thức tự giác và chức năng cố kết tộc người.
  • Giá trị văn hóa truyền thống: Những yếu tố tích cực được chắt lọc qua lịch sử, truyền từ đời này sang đời khác, có tính ổn định tương đối và đóng vai trò nền tảng.
  • Giữ gìn và phát huy: Luận án phân biệt "giữ gìn" (vừa kế thừa mặt tích cực, vừa loại bỏ lạc hậu và tiếp thu cái mới) với "bảo tồn" (làm cho không mất đi) và "bảo vệ" (giữ nguyên trạng). "Phát huy" là làm cho các giá trị truyền thống lan tỏa, thích ứng và phục vụ cho sự phát triển của đời sống hiện tại.

Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận triết học kết hợp với tiếp cận liên ngành (văn hóa học, dân tộc học, xã hội học). Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được kết hợp sử dụng gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp
  • Phương pháp lịch sử và lôgíc
  • Phương pháp so sánh
  • Phương pháp quy nạp và diễn dịch
  • Phương pháp trừu tượng hóa và khái quát hóa

Nguồn tư liệu và dữ liệu của luận án bao gồm: các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước; các báo cáo tổng kết, số liệu thống kê từ Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Thái Nguyên, Ban Dân tộc, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyên; tài liệu lưu trữ của UBND các huyện Định Hóa, Phú Lương, Võ Nhai; các công trình khoa học đã công bố và nguồn tư liệu khảo sát thực tế tại cộng đồng người Tày ở địa phương.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 1 tiến hành phân tích, tổng thuật có hệ thống các công trình nghiên cứu đã công bố theo bốn nhóm nội dung chính: (1) Nghiên cứu về giá trị, giá trị văn hóa và văn hóa truyền thống Việt Nam; (2) Nghiên cứu về văn hóa truyền thống trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và kinh tế thị trường; (3) Nghiên cứu về phương hướng, giải pháp bảo tồn, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc; (4) Nghiên cứu chuyên biệt về văn hóa truyền thống tộc người Tày.

Chương này rút ra các kết luận học thuật:

  • Các học giả đi trước đã làm rõ nội hàm khái niệm văn hóa, giá trị văn hóa và vai trò của văn hóa truyền thống đối với sự phát triển xã hội.
  • Có sự phân hóa giữa hướng tiếp cận "bản sắc văn hóa" và "giá trị văn hóa truyền thống". Tác giả luận án khẳng định bản sắc là cái cốt lõi làm nên chất của nền văn hóa, trong khi giá trị văn hóa truyền thống vận động linh hoạt hơn trong quá trình giao lưu, tiếp biến.
  • Các nghiên cứu về người Tày trước đây chủ yếu tập trung vào các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Tuyên Quang hoặc nghiên cứu chuyên khảo về một số khía cạnh riêng lẻ (ẩm thực, nhà sàn, tang ma, lễ hội Lồng tồng, tiếng nói).
  • Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện dưới góc độ triết học về việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng người Tày tại tỉnh Thái Nguyên trong bối cảnh đổi mới và hội nhập.

Chương 2: Một số vấn đề lý luận về giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tộc người Tày ở Thái Nguyên

Chương 2 xây dựng khung lý thuyết và xác định các nội dung, nhân tố chi phối quá trình giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tộc người Tày tại Thái Nguyên:

  • Xác lập hệ thống khái niệm: Phân tích cơ sở lý luận của khái niệm giá trị, giá trị văn hóa, văn hóa tộc người, truyền thống, giá trị văn hóa truyền thống; làm rõ ranh giới giữa giữ gìn, bảo tồn, bảo vệ và phát huy.
  • Hệ thống giá trị văn hóa truyền thống người Tày cần giữ gìn và phát huy:
    • Giá trị văn hóa vật thể: Cấu trúc làng bản truyền thống; kiến trúc nhà sàn gỗ truyền thống thích ứng với môi trường tự nhiên; trang phục truyền thống bằng vải nhuộm chàm với hoa văn đặc trưng; văn hóa ẩm thực với các món ăn, đồ uống dân gian gắn liền với sản vật địa phương; các công cụ lao động sản xuất thủ công.
    • Giá trị văn hóa phi vật thể: Ngôn ngữ tiếng Tày và chữ viết Nôm Tày; kho tàng văn học dân gian (thành ngữ, tục ngữ, ca dao, câu đố, truyện cổ); nghệ thuật biểu diễn dân gian (hát Then kết hợp đàn Tính, lượn Cọi, lượn Slương, lượn Lùng tùng, nghệ thuật múa rối Tày - Nùng); lễ hội truyền thống (tiêu biểu là Lễ hội Lồng tồng - hội xuống đồng cầu mùa); tín ngưỡng dân gian và các nghi lễ vòng đời (thực hành Then, Mo, Tào, Pụt; các nghi thức tang ma, lễ cấp sắc, mừng thọ, đầy tháng, chữa bệnh).
  • Các nhân tố tác động:
    • Nhân tố khách quan: Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa sớm tại Thái Nguyên; sự phát triển của cơ chế thị trường; quá trình đô thị hóa và giao lưu văn hóa quốc tế; các chủ trương, chính sách dân tộc - văn hóa của Đảng và Nhà nước; điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đặc thù của tỉnh.
    • Nhân tố chủ quan: Nhận thức và ý thức tự giác tộc người của đồng bào Tày; vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương; năng lực và sự tâm huyết của đội ngũ cán bộ văn hóa cơ sở; sự tham gia gìn giữ của các nghệ nhân dân gian, già làng, trưởng bản và trí thức người Tày.

Chương 3: Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tộc người Tày ở Thái Nguyên hiện nay – Thực trạng

Chương 3 đi sâu phân tích thực trạng sinh tồn và biến đổi văn hóa của người Tày tại Thái Nguyên giai đoạn 1986–2017:

  • Đặc điểm địa bàn và cư dân: Người Tày tại Thái Nguyên có dân số 123.197 người (chiếm 15% tổng số người Tày cả nước), sinh sống tập trung chủ yếu ở các huyện Định Hóa, Phú Lương, Võ Nhai. Do sống xen kẽ với người Kinh và các dân tộc khác tại một trung tâm công nghiệp - đào tạo lớn, người Tày Thái Nguyên sớm tiếp cận với lối sống hiện đại và có sự giao thoa văn hóa sâu rộng.
  • Những thành tựu đạt được:
    • Công tác chỉ đạo, ban hành văn bản chính sách của tỉnh được thực hiện kịp thời, bám sát các nghị quyết của Trung ương về văn hóa.
    • Phục dựng và duy trì nền nếp các lễ hội truyền thống, tiêu biểu là Lễ hội Lồng tồng ATK Định Hóa vào dịp đầu xuân mới.
    • Khôi phục và phát triển nghệ thuật hát Then, đàn Tính thông qua việc thành lập các câu lạc bộ văn nghệ dân gian tại thôn bản.
    • Hoạt động sưu tầm, bảo tồn tri thức dân gian, văn học dân gian và chữ Nôm Tày được các cơ quan văn hóa và nhà nghiên cứu địa phương chú trọng.
  • Nguyên nhân thành tựu: Sự quan tâm lãnh đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, sự phối hợp của Ban Dân tộc và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; sự hỗ trợ từ các đề án bảo tồn văn hóa dân tộc; tinh thần tự hào và trách nhiệm của cộng đồng người Tày địa phương.
  • Một số hạn chế:
    • Tiếng Tày và chữ Nôm Tày có xu hướng mai một nhanh chóng trong thế hệ trẻ; tỷ lệ thanh thiếu niên biết nói và sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ giảm dần.
    • Kiến trúc nhà sàn truyền thống suy giảm mạnh, bị thay thế bằng nhà xây gạch, bê tông hóa hoặc cải tạo không đúng quy cách.
    • Trang phục truyền thống (áo chàm) ít được mặc trong sinh hoạt thường nhật, chủ yếu chỉ xuất hiện trong các dịp lễ hội hoặc biểu diễn.
    • Một số nghi lễ truyền thống bị giản lược quá mức hoặc bị thương mại hóa; phần "Hội" trong các lễ hội dân gian xuất hiện nhiều trò chơi hiện đại mang tính thương mại, lấn át các trò chơi dân gian truyền thống.
  • Nguyên nhân hạn chế: Mặt trái của kinh tế thị trường thúc đẩy lối sống thực dụng; áp lực của quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa làm biến đổi môi trường sinh cảnh cư trú truyền thống; tâm lý tự ti của một bộ phận giới trẻ đối với vốn cổ dân tộc; kinh phí dành cho công tác bảo tồn còn hạn hẹp; chính sách đãi ngộ cho nghệ nhân dân gian chưa thỏa đáng.
  • Những vấn đề đặt ra: Xử lý mối quan hệ giữa bảo tồn di sản cốt lõi và nhu cầu hiện đại hóa tiện nghi sinh hoạt; giải quyết xung đột giữa khai thác du lịch văn hóa và nguy cơ thương mại hóa, biến dạng di sản; giải quyết tình trạng đứt gãy trong chuyển giao văn hóa giữa các thế hệ.

Chương 4: Quan điểm và giải pháp cơ bản về giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tộc người Tày ở Thái Nguyên hiện nay

Chương 4 xác định các định hướng quan điểm và đề xuất hệ thống giải pháp thực tiễn:

  • Ba quan điểm cơ bản:
    1. Nâng cao nhận thức về tính tất yếu khách quan của việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong bối cảnh hiện nay.
    2. Đảm bảo sự thống nhất biện chứng giữa truyền thống với hiện đại, giữa kế thừa với đổi mới; kiên quyết loại bỏ hủ tục lạc hậu, giữ gìn cái cốt lõi và tiếp thu tinh hoa văn hóa mới.
    3. Xác định việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tộc người Tày là sự nghiệp chung của Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành tỉnh Thái Nguyên và của toàn thể đồng bào Tày, trong đó đồng bào Tày vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là chủ thể thụ hưởng.
  • Năm nhóm giải pháp cơ bản:
    1. Đa dạng hóa phương thức tuyên truyền, giáo dục các giá trị văn hóa truyền thống của tộc người Tày ở Thái Nguyên (đưa dân ca Then, tiếng Tày vào hoạt động ngoại khóa trường học; đẩy mạnh truyền thông đa phương tiện).
    2. Coi giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tộc người Tày ở Thái Nguyên là công việc của chính họ trong bối cảnh hiện nay (tôn vinh nghệ nhân, khơi dậy niềm tự hào và tính tự giác của cộng đồng).
    3. Đảm bảo sự linh hoạt trong quá trình thực hiện chính sách văn hóa của Đảng, Nhà nước và Tỉnh ủy Thái Nguyên (điều chỉnh chính sách phù hợp với đặc thù từng địa bàn vùng sâu, vùng xa và vùng giáp ranh đô thị).
    4. Ngăn chặn sự biến đổi hoàn toàn các giá trị văn hóa truyền thống tộc người Tày trong quá trình phát triển hiện nay (tư liệu hóa di sản, xây dựng quy chuẩn bảo tồn nhà sàn và trang phục truyền thống).
    5. Đảm bảo sự gắn kết giữa phát triển kinh tế với chú trọng phát triển văn hóa trên cơ sở giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tộc người Tày (gắn kết bảo tồn văn hóa với phát triển du lịch lịch sử - sinh thái - cộng đồng tại vùng ATK Định Hóa, Võ Nhai).
Chương Tên chương trong luận án Luận điểm và nội dung trọng tâm
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Tổng kết 4 nhóm công trình; chỉ ra khoảng trống nghiên cứu triết học về văn hóa người Tày tại Thái Nguyên.
Chương 2 Một số vấn đề lý luận về giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tộc người Tày ở Thái Nguyên Xác lập hệ thống khái niệm; phân loại giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể; xác định các nhân tố khách quan, chủ quan.
Chương 3 Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tộc người Tày ở Thái Nguyên hiện nay – Thực trạng Đánh giá thực trạng giai đoạn 1986–2017: chỉ rõ thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và các vấn đề mâu thuẫn thực tiễn.
Chương 4 Quan điểm và giải pháp cơ bản về giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tộc người Tày ở Thái Nguyên hiện nay Đề xuất 3 quan điểm chỉ đạo và 5 nhóm giải pháp thực tiễn gắn kết giữa bảo tồn văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn:

  • Về mặt lý luận:
    • Luận án làm rõ các khái niệm giá trị văn hóa truyền thống tộc người Tày, giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tộc người Tày ở Thái Nguyên dưới góc độ triết học chuyên ngành CNDVBC và CNDVLS.
    • Phân tích nội dung cơ bản cấu thành giá trị văn hóa truyền thống (vật thể và phi vật thể) và chỉ ra các nhân tố khách quan, chủ quan tác động đến quá trình này trong bối cảnh đổi mới, công nghiệp hóa, kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
    • Làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa bảo tồn bản sắc và kế thừa, phát triển giá trị văn hóa truyền thống của một tộc người thiểu số cụ thể tại vùng trung du miền núi.
  • Về mặt thực tiễn:
    • Đánh giá khách quan, toàn diện thực trạng giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tộc người Tày ở Thái Nguyên từ năm 1986 đến năm 2017; đúc kết các thành tựu, chỉ rõ các mặt hạn chế, phân tích nguyên nhân và nhận diện những vấn đề cấp bách đang đặt ra.
    • Đề xuất hệ thống quan điểm có tính định hướng và 5 nhóm giải pháp đồng bộ, có tính khả thi, phục vụ trực tiếp cho việc hoạch định và thực thi chính sách văn hóa - dân tộc tại tỉnh Thái Nguyên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế: Luận án tiếp cận vấn đề chủ yếu dưới góc độ triết học xã hội (sử dụng phương pháp luận của CNDVBC và CNDVLS, kết hợp tư liệu liên ngành và báo cáo hành chính), do đó chưa thực hiện các cuộc điều tra xã hội học định lượng diện rộng hoặc xử lý mô hình thống kê chuyên sâu về mức độ biến đổi hành vi văn hóa của từng nhóm nhân khẩu học người Tày. Phạm vi nghiên cứu giới hạn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên từ năm 1986 đến thời điểm bảo vệ (năm 2017).

Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở từ phạm vi đề tài:

  • Mở rộng nghiên cứu so sánh quy luật biến đổi giá trị văn hóa của người Tày ở Thái Nguyên với cộng đồng người Tày ở các tỉnh vùng Đông Bắc khác (như Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Hà Giang) để làm rõ tính đặc thù của từng vùng sinh thái văn hóa.
  • Nghiên cứu sâu hơn về tác động dài hạn của các tổ hợp công nghiệp công nghệ cao và dòng dịch chuyển lao động nông thôn - đô thị đối với sự chuyển giao ngôn ngữ mẹ đẻ và tập quán sinh hoạt của thế hệ trẻ người Tày trong giai đoạn cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Triết học, Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, Văn hóa học, Dân tộc học và Xã hội học: Sử dụng làm tài liệu tham khảo về phương pháp luận tiếp cận triết học đối với các hiện tượng văn hóa tộc người và cấu trúc hệ giá trị truyền thống.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu: Tham khảo khung lý thuyết và nguồn tài liệu tổng quan lịch sử nghiên cứu phong phú (Chương 1 và Chương 2) phục vụ giảng dạy các chuyên đề về văn hóa tộc người thiểu số Việt Nam và triết học văn hóa.
  • Cán bộ quản lý và cơ quan hoạch định chính sách: Ban Dân tộc, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyên, UBND các huyện Định Hóa, Phú Lương, Võ Nhai và các địa phương miền núi phía Bắc có thể tham khảo 5 nhóm giải pháp (Chương 4) để xây dựng đề án bảo tồn văn hóa gắn với phát triển du lịch bền vững.

Câu hỏi thường gặp

1. Quy mô dân số và đặc điểm phân bố của tộc người Tày tại Thái Nguyên được ghi nhận như thế nào trong luận án?
Theo số liệu trong luận án, người Tày tại Thái Nguyên có khoảng 123.197 người, chiếm khoảng 15,0% tổng số người Tày tại Việt Nam. Đây là tộc người có dân số đông thứ hai tại tỉnh Thái Nguyên (đứng sau người Kinh), cư trú tập trung chủ yếu ở các huyện Định Hóa, Phú Lương và Võ Nhai.

2. Luận án phân biệt khái niệm "giữ gìn" khác với "bảo tồn" và "bảo vệ" như thế nào?
Luận án phân tích: "Bảo vệ" là giữ nguyên toàn bộ những gì văn hóa vốn có mà không làm thay đổi chi tiết nào. "Bảo tồn" là giữ không để cho mất đi và bổ sung làm giàu thêm nhưng không nhấn mạnh việc sàng lọc. Trong khi đó, "giữ gìn" là khái niệm toàn diện hơn, vừa kế thừa những yếu tố tích cực của giai đoạn trước, vừa thay thế, loại bỏ các hủ tục lạc hậu và tiếp thu các yếu tố mới tiến bộ dựa trên nền tảng cốt lõi của văn hóa dân tộc.

3. Điểm khác biệt căn bản trong cách tiếp cận của luận án so với các công trình trước đây là gì?
Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận văn hóa người Tày dưới góc độ lịch sử, dân tộc học, văn hóa dân gian hoặc xã hội học tại các tỉnh vùng Đông Bắc. Luận án này tiếp cận dưới góc độ triết học (CNDVBC và CNDVLS), nghiên cứu sự biến đổi của văn hóa người Tày như một hình thái ý thức xã hội trong mối quan hệ biện chứng với sự biến đổi nhanh chóng của tồn tại xã hội (công nghiệp hóa, đô thị hóa, kinh tế thị trường) tại địa bàn đặc thù như tỉnh Thái Nguyên.

4. Những biểu hiện cụ thể của sự mai một văn hóa truyền thống người Tày ở Thái Nguyên được chỉ ra trong luận án là gì?
Các biểu hiện mai một gồm: tiếng Tày và chữ Nôm Tày ít được sử dụng trong thế hệ trẻ; kiến trúc nhà sàn truyền thống giảm nhanh và bị thay bằng nhà xây gạch bê tông; trang phục truyền thống (áo chàm) ít được mặc trong đời sống hàng ngày; một số nghi lễ dân gian bị giản lược hoặc thương mại hóa; phần Hội trong lễ hội dân gian du nhập nhiều trò chơi hiện đại, lấn át trò chơi truyền thống.

5. Luận án đề xuất mấy nhóm giải pháp cơ bản nhằm giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống người Tày ở Thái Nguyên?
Luận án đề xuất 5 nhóm giải pháp cơ bản: (1) Đa dạng hóa phương thức tuyên truyền, giáo dục; (2) Phát huy vai trò chủ thể của chính đồng bào Tày; (3) Thực hiện linh hoạt các chính sách văn hóa phù hợp với từng địa bàn; (4) Ngăn chặn sự biến đổi hoàn toàn các giá trị cốt lõi; (5) Đảm bảo sự gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa (phát triển du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái - lịch sử).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Nội là công trình nghiên cứu chuyên khảo dưới góc độ triết học (CNDVBC và CNDVLS) về vấn đề giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tộc người Tày tại tỉnh Thái Nguyên. Luận án đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận, xác định nội dung hệ giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của người Tày, đồng thời phân tích các nhân tố khách quan và chủ quan chi phối quá trình biến đổi văn hóa. Trên cơ sở đánh giá thực trạng giai đoạn 1986–2017 với những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân cụ thể, công trình đã đề xuất 3 quan điểm chỉ đạo và 5 nhóm giải pháp đồng bộ nhằm bảo tồn bản sắc và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống phục vụ sự phát triển bền vững của địa phương.