CHƯƠNG 1 Tại Chương | tác gia đã phân tích làm rõ khái niệm, ý nghĩa cũng như đưa ra góc nhìn lich sử về quyền tùy nghi truy tố. Có thé thấy, đây là quyền lực của công tô viên được hình thành từ lâu đời trong hệ thống pháp luật Anh - Mỹ, và được phát triển một cách rực rỡ tại Mỹ. Khi có quyền lực này, công tố viên có toàn quyền trong việc quyết định truy tố hay không truy tố một người ra trước tòa án. Điều này không những giúp đảm bảo tính hiệu quả của hoạt động xét xử, bởi khi đưa ra quyết định truy tố, công tô viên đã phải cân nhắc rất kỹ các yêu tô liên quan đến cấu thành tội phạm cũng như cân nhắc lợi ích công, tập trung truy tố những tội phạm nghiêm trọng, nhờ đó, cũng tiết kiệm được một nguồn lực tư pháp lớn khi tránh được các chi phí cho hoạt động xét xử.
Đối với người phạm tội, việc áp dụng quyền tùy nghỉ truy tố thông qua thỏa thuận nhận tội sẽ khuyến khích họ nhận tội. Và hơn hết, khi áp dụng quyền tùy nghỉ truy tố, các vụ án sẽ được giải quyết nhanh chóng, qua đó, công lý được thực thi sớm đối với nạn nhân. “Công lý chậm trễ thì không còn là công lý”, bởi vậy, việc giải quyết các vụ án mà không phải theo đuôi tố tụng đài ngày sẽ giúp nạn nhân nhanh chóng 6n định tâm lý và cuộc sống. 18 CHUONG 2: QUYEN TÙY NGHỊ TRUY TO TRONG PHÁP LUẬT HOA KỲ VÀ MỘT SO QUOC GIA KHAC 2.
Quyền tùy nghỉ truy tố trong pháp luật Hoa Ky 2. Tổng quan về tổ tụng hình sự tại Hoa Kỳ Hệ thống pháp luật Mỹ được chia thành 2 cấp độ: Liên bang và Tiểu bang. Hai hệ thống này gần như độc lập tách rời nhau trong đó có sự phân định lĩnh vực nào thuộc thấm quyền của Bang và thuộc thẩm quyền Liên bang. Cả chính quyên liên bang và chính quyền các tiểu bang đều có quyền truy tố tội phạm, đều có hệ thống pháp luật, hệ thong toà an, công tố, cảnh sát riêng [15, tr.
Cơ quan có thâm quyền thực hành quyền công tố ở Mỹ rất khác nhau ở từng bang. Trong giai đoạn đầu của nền tư pháp Mỹ, quyền quyết định truy tô tội phạm ra tòa thuộc vé các Ủy viên Hội đồng tại các thành phó, đại bồi thẩm đoàn và các công dân. Vai trò của công dân được đặc biệt nhấn mạnh với thâm quyền được tư tố trong những năm đầu lập quốc của quốc gia này. Hiện nay, các cơ quan công tô của Mỹ được phân chia theo cấp bang và liên bang.
Ở cấp bang, do pháp luật mỗi bang khác nhau nên nhiệm vụ và quyền hạn của công tố viên ở từng bang cũng khác nhau. Điểm chung nhất của cơ quan công tố bất ky cấp nào cũng là truy t6 tội phạm ra trước Tòa án. Các quy định của luật pháp và thực tiễn áp dụng cho thấy, các tội phạm do cơ quan liên bang truy tố thường là các tội phạm buôn bán, vận chuyên ma tuý, tội phạm có tô chức, tội phạm về tài chính và gian lận mức độ lớn, những tội phạm xâm hại đến các quyền lợi liên bang như chống lại công chức liên bang, lừa đảo, gian lận. nhăm vào liên bang.
Thêm nữa, có một số loại chỉ chính quyền liên bang mới có quyền truy tố, bao gồm các tội phạm trong lĩnh vực hải quan, thuế liên bang, tội gián điệp, phản quốc [38]. 19 Chính quyền các bang truy tố hầu hết các loại tội phạm nhằm vào cá nhân, như giết người và cố ý gây thương tích, các tội xâm phạm sở hữu như cướp, trộm cắp. Nhìn chung, số vụ án các bang xử lý lớn hơn rất nhiều so với con số của liên bang [23, tr56]. Mặc dù các bang có thâm quyên lớn trong VIỆC truy tố hầu hết các loại tội phạm nêu trên, nhưng họ chỉ có thể điều tra và truy tố các tội phạm xảy ra trên dia bàn lãnh thé của bang.
Thâm quyền của liên bang thì mở rộng trên phạm vi toàn liên bang. Do vậy, liên bang có kha năng tốt hơn khi điều tra và truy tố các tội phạm phức tạp, xảy ra trên bình diện rộng. Văn phòng các vấn đề quốc tế (OIA), bộ phận hình sự, Bộ Tư pháp Hoa Kỳ chịu trách nhiệm xử lý tất cả các trường hợp dẫn độ tội phạm với nước ngoài. Khi các chính phủ nước ngoài yêu cầu dẫn độ, họ phải cung cấp chứng cứ cho phía Bộ Tư pháp Hoa Kỳ để Bộ Tư pháp trình bày tại toà khi Quyết định dẫn độ bị kiện, hay bi xem xét tại toa án [38].
Mặc dù có sự khác nhau trong tố tụng hình sự giữa các bang với nhau, giữa các bang và chính quyền liên bang, nhưng một số nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự được áp dụng thong nhất cho các hoạt động điều tra và truy tố của các bang và liên bang. Thứ nhất, một nguyên tắc thống nhất là việc điều tra và truy tố thuộc trách nhiệm của nhánh quyền lực hành pháp. Công tố viên, nhân viên điều tra và cảnh sát là các thành viên nhánh hành pháp, không nam trong nhánh quyền lực tư pháp. Hoa Kỳ không có thâm phán điều tra - vốn tồn tại ở hệ thống pháp luật lục địa, dân sự.
Tuy nhiên, một số hoạt động điều tra chỉ có thé được tiễn hành sau khi có được sự chấp thuận, cho phép của thầm phán. Chỉ thầm phán mới có quyền ra lệnh khám xét và thu giữ chứng cứ về tội phạm, mới có quyền ra lệnh ghi âm các cuộc nói chuyện điện thoại, hay ra lệnh triệu tập nhân chứng hay một người nao đó dé cung cấp thông tin, tài liệu và nếu từ 20 chối sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự và trong trường hợp đặc biệt, chỉ thầm phán mới có thé ra lệnh bắt người [19]. Bất cứ khi nào, một công tổ viên (hay một nhân viên cảnh sát, trong trường hợp khẩn cấp) khi thấy cần thiết phải có một quyết định, hay lệnh của toà án để phục vụ hoạt động điều tra, phải làm một yêu cầu chính thức gửi toà án và trình bày rõ các tình tiết và chứng cứ minh chứng cho tính cần thiết của yêu cầu đó. Một thâm phán sẽ chỉ ra lệnh hay quyết định nếu đã xác định rằng, các căn cứ nêu ra có cơ sở cho việc ra lệnh.
Chăng hạn, để ra lệnh khám xét, thẩm phán phải xác định rằng các chứng cứ nêu ra cho thấy có căn cứ về một tội phạm đã xảy ra và chứng cứ về tội phạm có thé tìm thấy ở nơi cần khám xét [38]. Thứ hai, một sô thủ tục, nguyên tac tố tụng hình sự được quy định trong Hiến pháp Hoa Kỳ [15, tr.361] và được áp dụng cho tố tụng hình sự của cả các bang và liên bang. Cơ quan tiễn hành fruy tổ Như đã nêu, trách nhiệm điều tra, truy tố tội phạm ở Hoa Kỳ thuộc nhánh quyền lực hành pháp. Tất cả các công tố viên của Hoa Kỳ đều thuộc Bộ Tư pháp [15, tr.
Thêm vào đó, tất cả các nhân viên của Cục điều tra liên bang (FBI), của lực lượng phòng chống ma tuý (DEA), của lực lượng cảnh sát liên bang (U. Marshals) và các điều tra viên của lực lượng phòng chống rượu, thuốc lá, vũ khí và chất nỗ (BATFE) đều trực thuộc Bộ Tu pháp và toàn bộ các lực lượng này đều thuộc quyền tổng chỉ huy của Bộ trưởng Bộ Tư pháp (ATTORNEY GENERAL) [19]. Việc truy tố các tội phạm liên bang ở mỗi toà án của quận nào thuộc trách nhiệm của Chưởng lý liên bang tại mỗi quận đó (US Attorney for that district). Chưởng lý liên bang tại mỗi quận do Tổng thống bổ nhiệm và thông báo tới Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Các thông tin về chứng cứ đã được Điều tra 21 viên thu thập sẽ được trình lên Bộ Tư pháp hoặc Chưởng lý liên bang. Sau đó, công tố viên liên bang sẽ quyết định có truy tố vụ việc ra Toà hay không. Ở cấp bang, các công tô viên tiến hành truy tô các tội phạm xâm phạm pháp luật của bang, quyền hạn và trách nhiệm của các công tố viên địa phương được phân chia theo cấp quận, mỗi bang đều có một Tổng chưởng lý và viên chức này có toàn quyền truy tố tat cả các tội phạm theo pháp luật bang quy định. Có 94 toà án quận ở Hoa Kỳ [23] và có 93 Chưởng lý liên bang.
Số lượng các Chưởng lý và công tố viên liên bang ở mỗi quận phụ thuộc vào số lượng các vụ việc ở mỗi quận (cả lĩnh vực hình sự và dân sự). Chăng hạn, Văn phòng Chưởng lý liên bang quận Nam NewYork (Manhattan) có đội ngũ nhân viên nhiều hơn Văn phòng tư pháp thuộc quận Connecticut. Các nhân viên thuộc Vụ hình sự thuộc Bộ Tư pháp liên bang ở thủ đô có quyên truy tố moi tội phạm xảy ra trên tất cả các quận toàn nước Hoa Kỳ, nhưng đứng đầu đội ngũ công tổ viên là 93 giám đốc Chưởng lý liên bang và các chưởng lý dưới quyền, trợ lý chưởng lý liên bang [38]. Thủ tục truy t6 Khi một trong các cơ quan điều tra liên bang tin rằng, đã có đủ chứng cứ về một tội phạm liên bang đã xảy ra, nhân viên điều tra sẽ trình bày mọi phát hiện của họ tới Văn phòng Chưởng lý liên bang tại quận đó.
Một trong những trợ lý của Chưởng lý liên bang sẽ xem xét mọi tình tiết và hỏi lại cơ quan điều tra dé xem đã đủ dé kết luận một tội phạm đã xảy ra hay không. Quyết định việc truy tố dựa trên 3 yếu tố : e Thứ nhất, truy tô khi có đủ chứng cứ pháp lý (đủ các yếu tổ tối thiểu để phát động truy tố hình sự), theo đó, một văn phòng công tố có thê tiếp nhận nhiều vụ án đề truy tố nhưng xử lý phan lớn các vụ án đó thông qua thủ tục mặc cả thú tội. Những căn cứ để xem xét truy tổ bao gồm: Có đủ chứng cứ liên quan đến việc người bị tình nghi đã phạm tội; Tính nghiêm trọng của 22 tội phạm; sỐ lượng án tại Tòa án; Sự cần thiết phải duy trì các nguồn lực công tố dé giải quyết những vụ án nghiêm trọng hơn; Tính sẵn sàng (thực tế) của những lựa chọn đối với hình thức truy tố; Sự có lỗi của bị can (đáng khiển trách về mặt dao đức); Hồ sơ hình sự của bị can (tiền án tiền sự); Sự mong muốn của bị can trong việc hợp tác tại giai đoạn điều tra hoặc truy tố những người khác.