Chương 1: Khái quát chung về thế chấp quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu Chương 2: Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thế chấp quyên sở hữu công nghiệp đối nhãn hiệu và thực tiễn áp dụng. Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thé chấp quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu. CHUONG I: KHÁI QUÁT CHUNG VE THE CHAP QUYEN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP DOI VOI NHAN HIỆU 1.1 Khái quát chung về thế chấp 1.1 Khai niệm thế chấp Từ góc độ ngôn ngữ học, thế chấp là một từ được bắt nguồn từ tiếng Hán. Các từ điển Hán Việt chỉ ghi nghĩa chữ “thế” (#Ä) là “bỏ đi”, “thay thế”.
Còn chấp (#W) Hán tự chỉ có nghĩa là “cẦm giữ trong tay” không có nghĩa của từ “cầm” - “trao của cho người khác làm tin để vay tiền” theo nghĩa thuần Việt. Có thé nói “thế chấp” gồm một từ thuần Việt “thế” có nghĩa “cầm cổ” và một từ Hán Việt “chấp” để thành từ ghép “thế chấp”. Theo Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý Thế chap là “giao tài sản làm tin dé được vay tiền, thưởng tiền”. Từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Lân giải thích thế chấp (thé là thay cho, chấp là cầm giữ) là đưa thứ gì dé thay.
Từ điển Tiếng Việt của nha xuất ban Từ điển bách khoa Hà Nội năm 2007 có cách giải nghĩa rõ ràng nhất: “Thế chấp [tài sản] là dùng làm vật bảo đảm, thay thế cho số tiền vay nếu không có khả năng trả đúng kì hạn”. Thông qua những cách giải nghĩa này, hiểu từ góc độ ngôn ngữ học, thế chấp là một biện pháp mà bên đi vay và bên cho vay sử dụng dé dam bảo cho việc trả nợ của bên vay; giá trị của tài sản này có thé được dùng dé thay thế cho nghĩa vụ trả khoản nợ và khoản lãi phát sinh trong giao dịch vay mượn tai sản. Từ góc độ khoa học pháp lý, thế chấp là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đã xuất hiện từ thời La Mã cổ đại. Luật La Mã và các luật gia trong hệ thống các nước theo họ pháp luật La Mã - Đức đã hình thành, phát triển lý thuyết về vật quyền bảo đảm bao gồm ba vật quyền ba vật quyền bảo đảm phổ biến là Fiducia (bán dg) — hình thức này hiện nay không còn được quy định trong văn bản pháp luật của các quốc gia theo họ pháp luật La Mã - Duc vi tinh rủi ro cao, pignus (cầm có) và hypotheca (thế chap) [27].
10 Do ảnh hưởng bởi các học thuyết pháp lý của Luật La Mã, một số quốc gia trong hệ thống pháp luật Civil Law (Cộng hoà Pháp, Nhật Bản) đều nhìn nhận thế chấp có hai đặc điểm cơ bản: Một là, đối tượng của thế chấp là bất động sản; Hai là, không có sự chuyển giao quyền chiếm hữu tai sản thé chấp từ bên thé chấp sang cho bên nhận thé chap. Đối với hệ thống pháp luật Common Law: Khác với pháp luật của một số quốc gia thuộc hệ thống pháp luật Civil Law, pháp luật của một số quốc gia tiêu biểu của hệ thống pháp luật Common Law xây dựng các quy định về thế chấp tài sản dựa trên hai học thuyết cơ bản: Thuyết quyền sở hữu và thuyết giữ tài sản thế chấp [31], qua đó nhìn nhận thế chấp là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Tại những quốc gia theo học thuyết quyền sở hữu, quyền sở hữu đối với tài sản bảo đảm thuộc về bên nhận thế chấp trong suốt thời gian thế chấp nhưng chỉ có tính tạm thời. Nếu bên thế chấp thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đã cam kết cho bên nhận thế chấp thì sẽ được nhận lại tài sản thế chấp.
Trong trường hợp bên thế chấp không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên nhận thế chấp có quyền sở hữu tuyệt đối. Ưu điểm của thuyết quyền sở hữu là tiết kiệm thời gian và chi phí cho bên nhận thế chấp nhờ bỏ qua một vải thủ tục tư pháp để tịch biên tài sản. Tại những quốc gia theo thuyết giữ tài sản thế chấp, điển hình là Australia và một số bang cua Mỹ như Floria, New York, pháp luật ghi nhận bên thé chấp không được quyền sở hữu đối với tài sản thế chấp, thay vào đó là quyền được tiến hành tịch biên để thực hiện việc bán tài sản thế chấp trong trường hợp bên thế chấp không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình. Bên thế chấp vẫn có quyền sở hữu đối với tài sản thé chấp kê cả trong trường hợp hợp đồng thế chấp không có các điều khoản quy định.
Tại New York, Florida (Mỹ), học thuyết về quyền chiếm giữ vật thế chấp là học thuyết nền tảng cho các lý luận về thê châp tài sản chi phôi quyên và nghĩa vụ của các bên trong 11 giao dich này. Day là xu hướng phát triển chiếm ưu thé hiện nay trong pháp luật của các nước theo theo hệ thống pháp luật Common Law [63]. Như vậy, thế chấp tài sản tại hai hệ thống pháp luật lớn trên thế giới là Civil Law và Common Law mang những đặc điểm tương đồng bao gồm: (i) đối tượng của thế chấp là tài sản thuộc sở hữu của bên thế chấp (một số quốc gia theo hệ thống Civil Law chỉ cho phép sử dung bat động sản làm tài sản thé chap, trong khi đó một số quốc gia theo hệ thông Common Law thì cho phép sử dụng cả động san và bất động sản làm tài sản thé chấp; (ii) không có sự chuyền giao tài sản từ bên thế chấp sang cho bên nhận thế chấp. Trên cơ sở phân tích các khía cạnh khác nhau về khái niệm thế chấp, có thé đưa ra khái niệm thé chấp như sau: “Thé chấp là việc bên có nghĩa vụ (bên thé chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu cia mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ mà không giao tài sản cho bên có quyền (bên nhận thé chap)”.2 Đặc điểm của thé chấp Khoa học pháp lý tiếp cận từ nhiều góc gộ khác nhau khi nghiên cứu về bản chat của thé chap tài sản nói chung và thé chấp quyền SHCN đối với nhãn hiệu nói riêng.
Một là, tiếp cận theo góc độ là một vật quyền (Vật quyền bảo đảm); Hai là, tiếp cận theo góc độ là một quan hệ trái quyền (quan hệ hợp đồng). Thứ nhất, tiếp cận theo quan hệ vật quyền. Thế chấp là một vật quyền vì vậy nó mang các đặc trưng của một vật quyên. Vật quyền là quyền của chủ thê gan liền với tài sản, có tai sản mới có quyền [29].
Thé chap là một vật quyền bảo đảm vì vậy nó thể hiện rất rõ các đặc trưng của một vật quyền bảo đảm, cụ thé Một là, thế chấp phải được luật định. 12 Từ góc độ kỹ thuật lập pháp thì vật quyền bảo đảm phải được luật định. Vật quyền nói chung và vật quyền bảo đảm nói riêng mang tính tuyệt đối. Vật quyền bảo đảm luôn chống lại các quyền của chủ thê khác, trong đó bao gồm cả quyền của chủ sở hữu tài sản nên để bảo vệ quyền sở hữu và hạn chế sự “tuỳ tiện” trong thoả thuận áp dụng vật quyền bảo đảm của các bên tham gia thì các loại quyền nào được xác định là một vật quyền bảo đảm phải được quy định cụ thé, rõ ràng trong các văn bản pháp luật.
Điều 175 BLDS Nhật Bản quy định: “Không có vật quyên nào có thé được tạo lập khác hơn các vật quyên được quy định tại Bộ Luật này hoặc các luật khác ”. Quy định này khang định các loại vật quyền và nội dung của vật quyền phải được quy định trong luật. Khi các bên thoả thuận kí kết một hợp đồng bảo đảm nhằm hình thành một vật quyền bảo đảm nhưng biện pháp bảo đảm đó chưa được ghi nhận như là một loại vật quyên thì vật quyền đó cũng không được hình thành [32]. Thế chấp tai sản hạn chế quyền sở hữu của chủ sở hữu tài sản.
Khi thé chấp, thay cho việc chuyển giao tai sản cho bên có quyền thì chủ sở hữu vẫn tiếp tục được chiếm hữu, sử dụng, khai thác tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, khi thế chấp, quyền định đoạt sẽ được người nhận thế chấp tạm thời kiểm soát. Hai là, thé chấp cho pháp bên nhận thé chấp có quyên theo đuổi tai sản: Cũng như bất kỳ vật quyền nào, quyền đối với giá trị kinh tế của tài sản được thực hiện trực tiếp trên tài sản. Việc thực hiện quyền phải được tất cả mọi người tôn trọng, kế cả chủ sở hữu tai sản.
VỀ mặt lý thuyết, bên nhận thế chấp tài sản không cần bận tâm đến việc tài sản thuộc về ai và đang được ai nam giữ. Một khi nghĩa vu không được thực hiện dung hạn, thì bên nhận thế chấp có quyên tổ chức kê biên và xử lý tài sản thé chấp theo trình tự, thủ tục luật định dé thu tiền trừ nợ mà không chủ thé nào được phép cản trở. 13 Với quyền đeo đuổi, bên nhận thé chấp tài sản không phải lo lắng về việc tài sản có còn thuộc về bên thế chấp hay không trong thời gian nghĩa vụ bảo đảm chưa được thực hiện. Chỉ cần tài sản thế chấp còn tôn tại và còn được cụ thé hoá nhờ các tiêu chí nhận dạng khách quan, cho phép xác định được tai sản đó, thì bên nhận thế chấp có thể yên tâm thực hiện quyền của mình trong trường hợp cần thiết.
Tại Việt Nam, bên nhận thế chấp chỉ cần xuất trình bản án có hiệu lực pháp luật hoặc một chứng thư công chứng xác lập thế chấp tài sản cùng với các tải liệu chứng minh nghĩa vụ không được thực hiện đúng hạn, là có thé tiến hành việc phong toa, kê biên tài sản bảo đảm dé xử lý với sự hỗ trợ của các cơ quan có thâm quyền. Ba là, thé chap cho phép bên nhận thé chấp có quyén ưu tiên: Bên nhận thế chấp có quyền thu hồi nợ băng cách lấy số tiền bán tài sản trước các chủ nợ không có bảo đảm: các chủ nợ này chỉ có thể phân chia phần còn lại, sau khi bên nhận thế chấp đã lay đủ số tiền cần thiết mà van còn thừa. Quyên ưu tiên đã tạo ra ban sắc cho BPBD nói chung và thé chấp tai sản nói riêng. Người có quyền sở hữu cũng có quyền ưu tiên; tuy nhiên, quyền này thường bị che lấp bởi các quyền năng khác mạnh hơn, như quyền đeo đuôi và nhất là quyền đòi lại tài sản trong tay người khác.