Chương I: Cơ sở lý luận về việc nâng cao hiểu biết pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp cho giáo viên và sinh viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM Chương II: Thực trạng về hiểu biết pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp của giáo viên, sinh viên trường Đại học sư phạm kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh và giải pháp. 3 Luan van CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC NÂNG CAO HIỂU BIẾT PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP CHO GIÁO VIÊN VÀ SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM KỸ THUẬT TP.1 Khái quát về quyền sở hữu công nghiệp 1.1 Khái niệm sở hữu trí tuệ, tại sao phải bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ 1.1Khái niệm sở hữu trí tuệ Sở hữu trí tuệ là khái niệm pháp lý chỉ sự bảo hộ của nhà nước đối với các thành quả lao động sáng tạo– những kết quả từ hoạt động tư duy, sáng tạo của con người. Đối tượng của loại sở hữu này là các tài sản phi vật chất nhưng có giá trị kinh tế, tinh thần to lớn góp phần quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nền văn minh, khoa học, công nghệ của nhân loại. Đó là các tác phẩm văn học, nghệ thuật, các công trình khoa học kỹ thuật ứng dụng cũng như các tên gọi, hình ảnh được sử dụng trong các hoạt động thương mại.
Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng1.2 Lý do bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Dựa vào các quan điểm triết học, kinh tế về sở hữu trí tuệ, về cơ bản có thể nhóm thành 4 nhóm quan điểm chính sau2: Thứ nhất, theo quan điểm pháp luật tự nhiên (The natural law): “Quan điểm này cho rằng người phát minh sáng tạo có quyền tài sản tự nhiên đối với phát minh sáng tạo của mình. Quyền tài sản này về mặt đạo đức được xã hội và người sử dụng thừa nhận, bảo vệ”. Lập luận này dựa trên lý thuyết của Hegel về tài sản trí tuệ với sự nhấn mạnh tự do chiếm hữu tài sản trí tuệ thì chủ thể sáng tạo đương nhiên có các quyền đối với tài sản trí tuệ do họ bỏ ra và xã hội phải thừa nhận cũng như bảo vệ những quyền này. 1 Khoán 1, Điều 4, Luật sở hữu trí tuệ 2005 2 Xem William W.
Fisher, Theories of Intellectual Property, in S. Munzer (ed), New Essays in the Legal and Political Theory of Property, Cambridge University Press (2000); Lê Nết, (2006), Quyền sở hữu trí tuệ, NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh, Tr.15; Nguyễn Thanh Tú, (2010), pháp luật cạnh tranh chuyển giao công nghệ và Hiệp định TRIPS kinh nghiệm cho Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.47; Lê Đình Nghị, Vũ Thị Hải Yến, (2009), giáo trình Luật sở hữu trí tuệ, NXB Giáo dục, Hà Nội,Tr. 8 4 Luan van Thứ hai, theo quan điểm về bù đắp sức lao động (reward)3. Quan điểm này xuất phát từ học thuyết của Locke về lao động và trí tuệ.
4Khi tác giả sáng tạo ra tác phẩm thì tác phẩm đó mang lại cho xã hội một giá trị nhất định. Để làm được điều này tác giả phải đầu tư nhiều thời gian công sức do đó xã hội phải bù đắp những chi phí cho sự nỗ lực của tác giả. Cách thức hữu hiệu để đảm bảo sự bù đắp xứng đáng là dành cho người đó độc quyền pháp lý trong một thời gian nhất định để cấm người khác khai thác. Thứ ba, theo quan điểm khuyến khích (incentive): Quan điểm này dựa trên giả định rằng để khuyến khích và tạo động lực cho người phát minh sáng tạo đầu tư công sức thời gian và tiền bạc vào việc phát minh sáng tạo, xã hội phải can thiệp để gia tăng kỳ vọng về lợi ích của người phát minh sáng tạo.
Việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ sẽ khuyến khích tác giả sáng tạo ra tác phẩm mới. Thứ tư, theo quan điểm mở thông tin sáng tạo (disclosure): Quan điểm này cho rằng khi chủ thể sáng tạo chấp nhận mở những thông tin về sở hữu trí tuệ thì xã hội được hưởng lợi từ việc sử dụng những đối tượng này. Do đó xã hội phải thừa nhận và bảo vệ quyền cho chủ thể sáng tạo.2 Khái niệm sở hữu công nghiệp và các đặc trƣng cơ bản của sở hữu công nghiệp 1.1Khái niệm sở hữu công nghiệp Theo khoản 4, Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2005 thì “Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanhdo mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.” Các đối tượng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp tại Việt Nam có thể được phân thành hai nhóm dựa vào tính chất riêng của chúng như sau: Nhóm các thành quả sáng tạo khoa học công nghệ: sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công 3 Quan điểm này còn được gọi là quan điểm khen thưởng (reward) 5 Luan van nghiệp, thông tin bí mật, thiết kế bố trí mạch tích hợp và nhóm các dấu hiệu đặc trưng dùng để phân biệt như: nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, - Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên. Cần lưu ý phân biệt khái niệm “sáng chế” và khái niệm “phát minh”.
Sáng chế là giải pháp để giải quyết các vấn đề kỹ thuật. Con người với trí tuệ của mình “sáng tạo” ra các đối tượng vật thể hoặc các quy trình chưa tồn tại trên thế giới này. Nói cách khác, nếu không có sự sáng tạo của con người thì không thể có sản phẩm hoặc quy trình được bảo hộ là sáng chế. Luật sở hữu trí tuệ bảo hộ sáng chế bằng hình thức cấp độc quyền có thời hạn cho chủ sở hữu.
Trái lại, “phát minh” là một sự phát hiện ra những quy luật, hiện tượng, vật thể v.đã tồn tại khách quan trong thế giới vật chất. Con người không “sáng tạo” ra các đối tượng được “phát minh” mà thực tế chỉ “phát hiện” ra chúng mà thôi. Luật sở hữu trí tuệ không bảo hộ phát minh. - Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này.
- Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn (sau đây gọi là thiết kế bố trí) là cấu trúc không gian của các phần tử mạch và mối liên kết các phần tử đó trong mạch tích hợp bán dẫn. Mạch tích hợp bán dẫn là sản phẩm dưới dạng thành phẩm hoặc bán thành phẩm, trong đó các phần tử với ít nhất một phần tử tích cực và một số hoặc tất cả các mối liên kết được gắn liền bên trong hoặc bên trên tấm vật liệu bán dẫn nhằm thực hiện chức năng điện tử. Mạch tích hợp đồng nghĩa với IC, chip và mạch vi điện tử. - Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau.
- Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh. Khu vực kinh doanh quy định tại khoản này là khu vực địa lý nơi chủ thể kinh doanh có bạn hàng, khách hàng hoặc có danh tiếng. - Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể. 6 Luan van - Bí mật kinh doanhlà thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh.2 Đặc điểm của quyền sở hữu công nghiệp Quyền sở hữu công nghiệp là một loại quyền tài sản nên nó có đặc điểm của một tài sản là chủ sở hữu có toàn quyền với tài sản của mình, tuy nhiên với tính chất là một loại tài sản trí tuệ - là tài sản vô hình nên nó có những đặc điểm khác biệt với các tài sản hữu hình và khác cả với quyền tác giả Thứ nhất, quyền sở hữu công nghiệp không hoàn toàn có đầy đủ 3 quyền năng: quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt như các tài sản thông thường Bởi lẽ khác với các loại tài sản khác, quyền sở hữu công nghiệp là tài sản vô hình có hai đặc tính cơ bản là trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao lưu dân sự.
Rõ ràng, con người không thể nhìn thấy, không thể chạm vào loại tài sản này, Giá trị của nó không phải nhờ vào các “thuộc tính vật chất” mà nhờ vào “nội dung trí tuệ”. Chủ sở hữu quyền không thể chiếm hữu (cầm, nắm) tài sản được mà việc khai thác giá trị quyền được thực hiện thông qua hành vi sử dụng đối tượng. Thứ hai, quyền sở hữu công nghiệp cũng khác hẳn với quyền tác giả ở những điểm sau: Một là, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp là bảo hộ về nội dung, khác với quyền tác giả là bảo hộ về mặt hình thức. Nếu như Quyền tác giả bảo hộ tác phẩm là bảo hộ hình thức thể hiện của ý tưởng không phải bảo hộ nội dung ý tưởng nghĩa là chỉ cần tác phẩm được sáng tạo và được ghi nhận dưới một hình thức vật chất nhất định như trên giấy, băng, đĩa thì xem như tác phẩm đã hình thành và lúc đó quyền tác giả cũng được bảo hộ.
Chẳng hạn một người có ý tưởng về việc sử dụng điệu dân ca Bắc Bộ làm chất liệu đưa vào ca khúc mới của mình thì ý tưởng này không được bảo hộ.Chỉ khi nào ý tưởng này được thể hiện bằng những ký tự âm nhạc cụ thể trên khuôn nhạc, trên lời nhạc thì tác phẩm đó mới được bảo hộ. Còn ngược lại bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp là bảo hộ nội dung nghĩa là nội dung của đối tượng được bảo hộ phải được xem xét về các yếu tố, tiêu chí cụ thể như tính mới, tính sáng tạo hay tính phân biệt… thì mới được bảo hộ.