Chương 1 NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE GIAO DỊCH DAN SỰ VÔ HIỆU DO DE DOA 1. Khái niệm va đặc điểm giao dich dân sự vô hiệu 1. Khai niệm giao dịch dân sự * Khái niệm về giao dịch dân sự Dé hoàn thiện hệ thống pháp lý thì việc tiến hành nghiên cứu các giao dịch dân sự nói chung trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Các cá nhân, pháp nhân cần thiết xác lập các quan hệ dân sự dé trao đổi các lợi ích với nhau dé cùng tồn tại và phát triển.
Trên cơ sở đó thì các quan hệ dân sự này tồn tại và phát triển dựa trên ý chí của các chủ thể trong các quan hệ dân sự trên thực tế. Đề đảm bảo quyền và lợi ích của các cá nhân, pháp nhân thì nhà nước đã ban hành các quy định dé điều chỉnh quan hệ này trong thực tế. Từ đó, góp phan tạo điều kiện để các chủ thể xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ nói chung. Tại Điều 116 BLDS 2015 đã ban hành các quy định cụ thé về khái niệm giao dịch dân sự.
Trước đây, theo quy định tại Điều 388 BLDS năm 2005, khái niệm hợp đồng được hiểu như sau: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc cham dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Mặt khác, quan hệ dân sự hiểu theo nghĩa rộng hơn bao gồm đầu tư, lao động, kinh doanh, thương mại, bảo hiểm. Như vậy, nếu trong khái niệm hợp đồng, từ “dan sự” đứng sau hai từ “hợp đồng” và đứng sau hai từ “nghĩa vụ”, trong thực tiễn áp dụng có nghĩa là các quy định áp dụng của BLDS không chỉ áp dụng cho hợp đồng dân sự. Vì vậy, phạm vi áp dụng các quy định của BLDS chỉ giới han trong tat cả các loại hợp đồng, bao gồm hợp đồng dân sự, hợp đồng lao động, hợp đồng thương mại hay hợp đồng dân sự.
Vì vậy, trong Bộ luật Dân sự năm 2015, nhà làm luật đã tiến hành sửa đổi thuật ngữ “hợp đồng” nhằm khắc phục bat cập nêu trên. Hiện nay, Điều 385 BLDS năm 2015 quy định rõ về hợp đồng nói chung. Trên cơ sở đó thì theo quy định hiện hành thì BLDS năm 2015 đã bỏ cụm từ “dân sự” sau hai từ “hợp đồng”. Những quy định của BLDS 2015 là những điểm quan trọng dé tăng cường tính điều chỉnh nhằm hoàn thiện pháp luật nhằm tăng tính khả thi, minh bạch trong thực tiễn áp dụng [24, tr.
- Giao dịch dân sự là hành vi pháp ly đơn phương: Giao dich dan sự, theo định nghĩa, là hành vi mà các cá nhân hoặc tô chức thực hiện để tạo ra, thay đồi, chuyển nhượng, hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý. Tuy nhiên, quan điểm về việc giao dịch dân sự có phải là hành vi đơn phương hay không đã khiến cho nhiều luận điểm tranh cãi và tìm hiểu sâu hơn về bản chất của hành vi này. Một số cho rằng giao dịch dân sự không nhất thiết phải là hành vi đơn phương. Thay vào đó, ho thể hiện rằng sự đối thoại và thỏa thuận có thé thúc day quá trình giao dịch, đảm bảo sự minh bạch và công bang.
Theo quan điểm này, giao dịch dân sự không chỉ là việc một bên quyết định thực hiện hành vi mình muốn mà còn là sự tương tác, thương lượng, và hiểu biết chung giữa các bên liên quan. giao dịch dân sự thường dựa trên sự đồng ý và tình nguyện của các bên tham gia. Một bên quyết định thực hiện giao dịch dân sự dựa trên mong muốn và quyên lợi cá nhân mà không cần phải nhất thiết thỏa thuận với bat kỳ ai khác. Điều này đôi khi có thé dẫn đến sự bat cân xứng trong quan hệ giao dịch, nơi một bên có thé có lợi thé hon và áp đặt điều kiện lên bên kia.
* Đặc điểm về giao dich dân sự Giao dịch dân sự, trong trường hợp là một hành vi pháp lý hợp pháp, thé hiện sự ý chí của một hoặc nhiều cá nhân, nhằm mục đích tạo ra, thay đôi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự. Giao dịch dân sự có những đặc điêm chung như sau: Thứ nhất: Giao dịch dân sự trước hết cần phải thể hiện ý chí của các bên tham gia giao dịch. Các giao dịch pháp luật dân sự đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống của bất kỳ doanh nghiệp nào. Chúng được tổ chức hàng ngày, hàng giờ để đáp ứng các nhu cầu khác nhau của người dân.
Khi tham gia giao dich, các chủ thé đều theo đuổi những mục tiêu cu thé nham đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh hay đời sống, tiêu dùng. Đề đạt được mục đích này, các công ty phải thé hiện ý chí, “sự thé hiện ý chí là hành vi nhằm đạt được một kết quả cụ thể và là một phần bắt buộc của hành vi pháp lý” [2, tr. Thứ hai: Trong các giao thức dân sự, các bên tham gia phải tự ý và tự nguyện tham gia. Điều này thể hiện sự thống nhất ý chí giữa các bên và đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra một sàn giao thương.
Nếu trong trường hợp giao thức dân sự không có yếu tổ tự nguyện, thi giao thức đó không thé coi là hiệu lực. Điều này bởi vì giao thức dân sự là sự trao đổi giữa các chủ thể có cùng tư cách pháp nhân. Khi các bên tham gia vào giao thức, mỗi bên đều có mục tiêu cụ thé dựa trên nhu cầu vật chất hoặc tinh thần của bản thân. Dé đạt được mục tiêu này, những người tham gia phải có khả năng thực hiện hành động dân sự để rõ ràng thể hiện ý chí và tình nguyện của mình.
Người có hành vi bị hạn chế hoặc khuyết tật chỉ được tham gia vào một số giao thức nhất định. Thứ ba: Chế tài giao dịch là bắt buộc, nhưng cũng rất linh hoạt. Day là nguyên tắc cơ bản của luật dân sự nói chung và luật dân sự về giao thông nói riêng. Hiện nay, có hai khuynh hướng khác nhau trong câu hỏi nay.
Xu hướng thứ nhất là sự đơn giản hóa các quy tắc, giảm số lượng và độ phức tạp của các quy tắc, được khái quát hóa và cấu trúc theo hướng đơn giản nhưng mạch lạc và dễ hiệu. Xu hướng thứ hai là phải ban hành nhiều quy định rõ ràng, chỉ tiết, làm phong phú luật. Trên thực tế, mặc dù án lệ được công nhận là nguồn luật giao dịch nhưng việc áp dụng án lệ trong hệ thống pháp luật nước ta là rất khó khăn. Nghị quyết số 49-NK/TV của Bộ Chính trị Trung ương ngay 02/6/2005 quy định rõ: “Nhiệm vụ của Tòa án nhân dân tối cao là tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển thực tiễn xét xử, xử phúc thâm, giám đốc thâm”.
Tuy nhiên, chúng ta không dé dang đạt được sự thống nhất về khái niệm, bản chất và việc áp dụng án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Hệ thống pháp luật nước ta mang đặc điểm của hệ thong dân luật, án lệ có không được thừa nhận là nguồn luật chính thức trong một thời gian dài. Thứ tr: Nội dung của giao dịch không được mâu thuẫn với pháp luật và nghi thức xã hội. Trong giao dịch của BLDS, mọi chủ thê tham gia giao dịch đều cố gang đạt được một mục tiêu cu thé và chờ đợi mục tiêu này được hiện thực hóa.
Tuy nhiên, nếu nội dung, mục đích của thỏa thuận trái pháp luật, trái đạo đức xã hội thì tòa án không thé công nhận kết quả pháp lý, vì sự thỏa thuận này sau này sẽ xâm phạm đến trật tự xã hội, lợi ích của xã hội, lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác. Định nghĩa giao dịch dan sự vô hiệu Hiện nay không có một khái niệm cụ thể và quy định rõ ràng về giao dịch dân sự vô hiệu. Tuy nhiên, có thé nhận định rõ giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch mà các chủ thể tham gia không tuân thủ các quy định, điều kiện mà pháp luật quy định dé giao dich dân sự có hiệu lực. Bắt đầu từ bản chất của việc thực hiện giao dịch dân sự không hợp lệ, tác giả trình bày một cách tinh tế về khái niệm "giao dịch dân sự vô hiệu”: "Giao dịch dân sự vô hiệu là hình thức giao dịch dân sự mà trong quá trình thiết lập các bên liên quan (hoặc các cá nhân tham gia có tư cách là những thực thé pháp lý thực hiện hành động một chiều) đã vi phạm ít nhất một trong những điều kiện có giá trị theo luật lệ được quy định, dẫn đến hậu quả pháp lý 10 rằng không tạo ra bất kỳ quyền hoặc nghĩa vụ dân sự nào có khả năng đáp ứng mục tiêu theo đúng mong muốn của những bên tham gia giao dịch".
Giao dịch dân sự vô hiệu đồng nghĩa với việc các tác nhân tham gia giao dịch không tuân theo các điều kiện mà luật pháp vạch ra cho giao dịch dân sự có hiệu lực pháp lý. Kết quả pháp lý của giao dịch vô hiệu chính là việc không tạo ra bất kỳ quyền lợi hay nghĩa vụ nào cho những tác nhân tham gia giao dịch. Trong trường hợp giao dịch dân sự bị vô hiệu, dù các bên tham gia đã tiễn hành hoặc thực hiện một phần nghĩa vụ dựa trên các cam kết ban dau, thì những hành động đó vẫn không có giá trị pháp lý và những cam kết không còn áp dụng từ thời điểm giao dịch được hình thành. Một đặc điểm quan trọng của giao dịch dân sự vô hiệu là sự không tuân thủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.
Trong tình huống giao dịch trở nên vô hiệu, những bên tham gia giao dịch phải chịu một số tác động pháp lý tiêu cực, có thé gây thiệt hại về cả khía cạnh tinh than và vật chat. Trường hợp không thực hiện mục tiêu đã định, nếu đã bat đầu, giao dịch sẽ không thé tiếp tục thực hiện; nếu đang trong quá trình thực hiện, thì cần phải chấm dứt để khôi phục trạng thái ban đầu và trả lại những gi đã được trao đổi (theo Điều 131 Bộ luật dân sự năm 2015). Đặc điểm của giao dịch dân sự vô hiệu Thứ nhất, giao dịch dân sự vô hiệu không đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định pháp luật. Đây là điều kiện quan trọng trong quá trình thực hiện các giao dịch dân sự nói chung.
Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng góp phần để các GDDS có hiệu lực và bảo đảm quyền lợi của các chủ thể trong thực tế.