CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN CƠ BẢN VE HIỆU LUC THEO THỜI GIAN CUA LUAT HINH SU 1. Hiệu lực theo thời gian của luật hình sự 1. Khái niệm hiệu lực theo thời gian của luật hình sự a) Khái niệm hiệu lực của luật hình sự Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “hiệu lực” có nghĩa là tác dụng đích thực hoặc giá trị thi hành [31]. Như vậy, hiểu theo nghĩa thông thường, hiệu lực của luật hình sự là tác dung đích thực hay giá tri thi hành của luật hình sự.
Trong khoa học luật hình sự từ trước đến nay, đã có khá nhiều khái niệm khác nhau được đưa ra bàn luận về hiệu lực của luật hình sự. Trong cuốn sách Mô hình lý luận về Bộ luật hình sự Việt Nam (phần chung) của Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật (1993), thì hiệu lực của luật hình sự được hiểu “là sự hoạt động hiện thực của những quy phạm pháp luật được thể hiện trong luật đó, là sự biểu hiện trong thực tế năng lượng pháp lý của chúng. Khái niệm hiệu lực của luật hình sự về cơ bản bao hàm hiệu lực của luật về không gian và hiệu lực của luật về thời gian, tức là khía cạnh làm sáng tỏ các giới hạn về không gian và giới hạn về thời gian của việc áp dụng luật hình sự” [56]. Nói một cách ngắn gọn, hiệu lực của luật hình sự là giới hạn về không gian và thời gian của việc áp dụng luật hình sự.
Theo tác giả Trần Thị Quang Vinh và Vũ Thị Thúy, hiệu lực của luật hình sự “chỉ rõ giới hạn về không gian và thời gian của luật được áp dụng đối với những hành vi phạm tội”.[50] Theo tác giả Lê Cảm, hiệu lực của luật hình sự là thời điểm áp dụng một hoặc nhiều quy phạm cụ thể của luật hình sự đối với hành vi phạm tội tương ứng được thực hiện bởi chủ thé nhất định trên một lãnh thé nào đó và trong một thời gian nào đó. Như vậy, từ định nghĩa khoa học của khái niệm này cho thấy, nội hàm của nó là ở chỗ luật hình sự chỉ có hiệu lực khi: - Một hoặc nhiều quy phạm cụ thé được quy định tại một hoặc nhiều điều khoản tương ứng của pháp luật hình sự thực định; - Việc áp dụng luật hình sự chỉ diễn ra khi có sự kiện phạm tội, tức là có hành vi phạm tội cụ thể được quy định tương ứng trong luật được thực hiện trong thực tế khách quan; - Hành vi phạm tội phải do chủ thé nhất định thực hiện; - Về mặt không gian, hành vi phạm tội phải được thực hiện trên một lãnh thổ nào đó; - Về mặt thời gian, điều khoản trong bộ luật hình sự được áp dụng phải trong thời gian hành vi phạm tội được thực hiện bị khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử, tức là thời hiệu dé truy cứu trách nhiệm hình sự chủ thé của tội phạm theo luật định vẫn còn. Trong khi đó, tác giả Phạm Văn Beo cho rằng hiệu lực của luật hình sự là “phạm vi tác động của luật hình sự được xác định trong giới hạn về không gian và thời gian cụ thể. Hiệu lực của luật hình sự chính là sự hiện thực hóa những quy phạm pháp luật hình sự được quy định trong luật hình sự” [35].
Như vậy, mặc dù khái niệm về hiệu lực của luật hình sự không được quy định và giải thích cụ thể trong luật hình sự nhưng từ những khái niệm đã nêu trên chúng ta hiểu được cơ bản nội hàm của khái niệm hiệu lực của luật hình sự. Cho dén thời điêm hiện tại, có thê xem xét tham khảo khái niệm vê hiệu lực của luật hình sự được đề cập trong giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trường đại học Luật Hà Nội (2019), theo đó Hiệu lực của luật hình sự là giá trị thi hành của luật hình sự đối với tội phạm nên nó phải gan voi hanh vi phạm tội. Noi đến hiệu lực cua luật hình sự là nói đến hiệu lực của luật đối với hành vi phạm toi xảy ra khi nào (hiệu lực về thời gian) và đối với hành vi phạm tội xảy ra ở đâu (hiệu lực về không gian). Từ những khái niệm được nêu ra ở trên tuy có cách diễn đạt khác nhau nhưng nội hàm đều thong nhat rang hiệu lực của luật hình sự là phạm vi tác động về không gian và thời gian của luật hình sự hoặc khả năng được áp dụng trên thực tế các quy định của luật hình sự đối với tội phạm xảy ra trong không gian và thời gian được xác định.
Phải khăng định rằng, cũng như các văn bản pháp luật khác, BLHS chỉ có hiệu lực trong giới han không gian, thời gian va đối tượng nhất định. Theo quan điểm cá nhân của tác giả, hiệu lực của luật hình sự chính là phạm vi áp dụng của luật hình sự theo không gian, thời gian và đối tượng. Hiệu lực theo thời gian của luật hình sự Dù ở một nước tiên tiến hay nước đang phát triển thì pháp luật nói chung và luật hình sự nói riêng, trong quá trình áp dụng pháp luật sẽ chịu nhiều tác động của các yếu tố như sự thay đôi của tình hình chính trị, kinh tế - xã hội dẫn đến việc xuất hiện nhiều quan hệ xã hội cần phải có pháp luật điều chỉnh, đồng thời sẽ tồn tại những quy định lỗi thời, hoặc không còn phủ hợp dé điều chỉnh các quan hệ đó, đòi hỏi phải hủy bỏ và sửa đổi cho phù hợp với thực tiễn. Việc kip thời bé sung, sua đôi các quy định tương ứng của luật hình sự dé đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm có hiệu quả.Những hành vi bị coi là tội phạm và phải chịu hình phạt, phải được luật hình sự quy định.
Chúng ta không chấp nhận việc một người bị kết án về một tội phạm không được quy định trong BLHS. 10 Như đã đề cập ở trên, khi nghiên cứu một văn bản pháp luật nói chung (luật hình sự nói riêng), chúng ta luôn cần quan tâm đến hiệu lực của văn bản pháp luật đó. Và hai thành tố cấu thành nên nội hàm khái niệm hiệu lực của luật hình sự là hiệu lực theo không gian và hiệu lực theo thời gian. Trong khoa học pháp lý hình sự không quy định nào thé hiện khái niệm về hiệu lực theo thời gian của luật hình sự mà căn cứ vào các quy định liên quan thì hiệu lực về thời gian được hiểu khái quát là hiệu lực của luật đối với hành vi phạm tội xảy ra khi nào.
Quy định về hiệu lực theo thời gian của luật hình sự là quy định thuộc phần chung của Bộ luật hình sự Việt Nam nhằm xác định giá trị thi hành của Bộ luật hình sự Việt Nam đối với những hành vi được quy định là tội phạm và căn cứ đề xác định hiệu lực về thời gian chính là thời điểm mà điều luật của Bộ luật Hình sự đó có hiệu lực, chứ hoàn toàn không phải căn cứ vào ngày bộ luật được cơ quan có thâm quyền ban hành. Khi xác lập hiệu lực về thời gian của luật hình sự, các nước đã chấp nhận và thừa nhận rộng rãi nguyên tắc: “Không có tội phạm nếu không có luật” (Nullum crimen sine lege). Với nguyên tắc này, luật được áp dụng dé xử lí tội phạm là luật dang có hiệu lực vào thời điểm tội phạm được thực hiện. Theo quan điểm của tác giả, hiệu lực theo thời gian của luật hình sự là khoảng thời gian mà luật hình sự có hiệu lực đối với các hành vi phạm tội đã được quy định và là căn cứ dé xác định tội phạm.
Bộ luật hình sự đều có quy định về phạm vi áp dụng. Nếu hành vi tuy có đủ yếu tố cấu thành tội phạm nhưng lại không thuộc phạm vi áp dụng của Bộ luật Hình sự thì người có hành vi không bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà tuy thuộc vào trường hợp cụ thé dé xử lý bằng biện pháp khác. Tinh thần của luật từ trước đến nay thì căn cứ dé xác định hiệu lực về thời gian là thời điểm mà điều luật của Bộ luật Hình sự đó có hiệu lực, chứ không căn cứ vào ngày ban hành. Như vậy ta thấy, nếu như hiệu lực theo không gian của luật hình sự là 11 phạm vi tác động về không gian của luật hình sự hoặc khả năng được áp dụng trên thực tế các quy định của luật hình sự đối với tội phạm xảy ra trong không gian được xác định và gan liền với một số người nhất định thì hiệu lực theo thời gian của luật hình sự là căn cứ để xác định giá trị thi hành của luật đối với hành vi phạm tội, hành vi đó có phải là tội phạm hay không.
Phải khăng định rằng, hiệu lực theo thời gian của luật hình sự là một trong những nội dung rất quan trọng tạo cơ sở pháp lý cho các quốc gia xác định thâm quyền tài phán hình sự của mình đối với một hành vi phạm tội trong khoảng thời gian và gắn liền với một đối tượng nhất định. Trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành, hiệu lực theo thời gian sự được quy định tại Điều 7 BLHS. Cách xác định hiệu lực theo thời gian của BLHS a. Xác định ngày văn bản BLHS có hiệu lực Điều 151 Luật ban hành văn bản QPPL năm 2015 quy định cụ thể thời điểm có hiệu lực của văn bản; Khoản 1 Điều 151 Luật ban hành văn bản QPPL năm 2015 xác lập nguyên tắc chung cho trường hợp phổ quát, Khoản 2 Điều 151 Luật ban hành văn bản QPPL năm 2015 xác lập nguyên tắc cho trường hợp đặc biệt.
về nguyên tắc thời điểm có hiệu lực của toàn bộ hoặc một phần văn bản quy phạm pháp luật được quy định tại văn bản. Tuy nhiên, để đảm bảo đủ thời gian cho việc triển khai thi hành văn bản như ban hành văn bản quy định chi tiết, kế hoạch triển khai.,cơ quan ban hành văn bản luôn phải quy định một thời gian phù hợp từ thời điểm ban hành đến khi có hiệu lực đảm bao đủ thời gian để các cơ quan, tô chức, cá nhân có điều kiện tiếp cận văn bản, các đối tượng thi hành có điều kiện chuẩn bị thi hành văn bản.