Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VE LUẬT DAN SỰ VIỆT NAM 1. NHUNG VAN DE CHUNG VE LUẬT DÂN SỰ 1. Khái niệm luật dan sự Thuật ngữ “luật dân sự” hay “dân luật” hình thành từ thời La Mã cô đại, được dùng dé chỉ về một ngành luật chi phối quan hệ giữa các công dân với nhau. Droit Civil (luật dân sự) trong tiếng Pháp và Civil Law (luật dân sự) trong tiếng Anh đều bắt nguồn từ tiếng La tinh Jus Civile vốn là một luật được quốc gia La Mã đặt ra dé áp dụng cho các công dân nước họ.
Bản thân chữ civil (dan sự) trong tiếng Pháp và tiếng Anh đều có nguồn gốc từ tiếng La tinh civilis có nghĩa là công dân, bởi trong thời kì La Mã thì chủ thể của quan hệ dân sự chỉ có thể là cá nhân/công dân mà chưa có các chủ thể khác. Vì thế, ở một góc độ nhất định có thể coi luật dân sự đồng nghĩa với luật công dân và hiểu một cách rộng nhất thì luật dân sự là luật điều chỉnh các sự kiện xảy ra trong đời sống dân sinh. Tuy nhiên, thuật ngữ “luật dân sự” dùng trong bối cảnh hiện tại không chỉ đơn thuần là luật áp dụng đối với công dân mà bao gồm cả chủ thê khác là pháp nhân. Kế thừa thành tựu của luật La Mã cô đại, các nước theo hệ thống luật châu Âu lục địa (tiêu biểu là các quốc gia Đức, Pháp, Ý, Tây Ban Nha.) đều theo xu hướng phân chia hệ thống pháp luật của nước mình thành hai nhóm: luật công và luật tư.
Trong đó, luật công điều chỉnh các quan hệ liên quan đến lợi ích của toàn xã hội với phương pháp điều chỉnh bắt buộc, cưỡng chế và có sự 7 tham gia của Nhà nước, cơ quan nhà nước (thông qua công chức hoặc người có thâm quyền khác) với tư cách là một bên chủ thé dé thực hiện chức năng quản lí nhà nước theo từng lĩnh vực tương ứng. Hệ thống luật công bao gồm nhiều ngành luật khác nhau như: luật hiến pháp, luật hành chính, luật hình sự. Luật tư điều chỉnh các quan hệ thuộc về lĩnh vực riêng tư giữa các chủ thể với nhau với phương pháp điều chỉnh tôn trọng sự bình đăng, tự do cam kết thỏa thuận và không bên nào trong các bên chủ thé mang tư cách là cơ quan công quyền của Nhà nước. Theo quan niệm truyền thống của hầu hết các quốc gia trên thé giới thì luật dân sự là một ngành luật tư, bằng phương pháp điều chỉnh riêng mang tính đặc trưng của pháp luật dân sự để điều chỉnh các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân giữa các chủ thể có sự độc lập về vị trí chủ thé và bình đăng với nhau.
Do sự phát triển kinh tế - xã hội, nhiều quan hệ vốn dĩ là đối tượng điều chỉnh của luật dân sự nhưng mang đặc trưng của từng mảng riêng biệt đòi hỏi phải có sự điều chỉnh tương ứng cho thích hợp hơn. Trong bối cảnh đó, những ngành luật mới có mối liên hệ gần gũi với luật dân sự ra đời như luật thương mại, luật lao động, luật kinh doanh bảo hiểm, luật tài chính, luật kinh doanh bất động sản. Xét về mặt lịch sử, trong chế độ phong kiến thời Trung cô ở Tây Âu, tầng lớp thương gia có địa vị đặc biệt trong xã hội. Họ thấy rằng các quy tắc hoạt động trong kinh doanh cần phải được cụ thé và đơn giản hóa bởi nếu hoạt động trên thương trường nhất nhất phải tuân theo các quy định phức tạp của luật dân sự sẽ mat khá nhiều thời gian cho việc tìm hiểu và thực thi.
Vì thế, họ đã thỏa thuận, thừa nhận quy tắc nghề nghiệp riêng và đã trở thành các thông lệ, tập quán thương mại tự do được lưu truyền từ đời này sang đời khác theo các vùng, miền. Những quy tắc xử sự hình thành bởi sự thỏa thuận, thừa nhận của các thương gia được coi là manh nha của luật thương mại. Ở Pháp, Bộ luật Thương mại được ban hành khá sớm (năm 1807) cùng với Bộ luật Dân sự (BLDS) được ban hành năm 1804. Tiếp theo, nhiều quốc gia theo hệ thong luật châu Âu lục địa (Civil Law) cũng đã ban hành Bộ luật Thương mại bên cạnh BLDS như Đức, Nhật Bản, Bồ Đào Nha.
Việc áp dụng án lệ của các quốc gia theo hệ thống thông luật (Common Law) cũng đã phân biệt các thông lệ dân sự và thông lệ thương mại. Tuy nhiên, tất cả các quốc gia của cả hai hệ thong luật đều coi sự điều chỉnh của luật dân sự là sự điều chỉnh chung đối với tất cả các quan hệ tư, còn luật thương mại cũng như các luật chuyên ngành khác chỉ là sự điều chỉnh bổ sung tương ứng đối với các mảng quan hệ tư mang tính đặc thù. Ở nước ta, đã từng có thời kì tồn tại quan niệm luật dân sự chỉ điều chỉnh các quan hệ tài sản nhằm mục đích tiêu dùng trong sinh hoạt thường ngày, các quan hệ tài sản có mục đích kinh doanh phải được điều chỉnh bởi luật kinh tế. Theo đó, giải quyết các tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thâm quyền của Tòa dân sự, các tranh chấp về hợp đồng kinh tế thuộc thâm quyền giải quyết của Tòa kinh tế.
Bước sang giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, dé hội nhập và phát triển, Nhà nước ta tiến hành pháp điển hóa các quy định của pháp luật dân sự và các quy định của pháp luật kinh tế để ban hành BLDS vào năm 1995 và Luật Thương mại vào năm 1997. Trong quá trình ban hành Luật Thương mại đã có khá nhiều tranh luận về đối tượng và phạm vi điều chỉnh của hai đạo luật nói trên. Có quan niệm cho rằng BLDS điều chỉnh tất cả các quan hệ tư có tính tài sản nên không cần thiết phải ban hành Luật Thương mại. Quan niệm khác lại cho rằng phải có Luật Thương mại dé điều chỉnh các hoạt động kinh doanh, các hành vi thương mại của các chủ thé hoạt động kinh doanh.
Chúng tôi cho rằng, bên cạnh BLDS thì sự ra đời của Luật Thương mại cũng như các luật chuyên ngành khác là sự cần thiết trong việc điều chỉnh bố sung cho BLDS đối với các mảng quan hệ tư mang tính đặc thù. Cần thấy rằng, BLDS là một đạo luật với sự điều chỉnh chung, đầy đủ và đồng bộ mang tính hệ thống và nguyên tắc, các luật khác liên quan là các đạo luật với sự điều chỉnh riêng trong một phạm vi nhất định mang tính chuyên ngành. Sự liên hệ, kết hợp giữa BLDS với các luật liên quan cần được nhìn nhận một cách biện chứng, không thê thay thé được cho nhau. Để quản lí và điều hành xã hội, mỗi quốc gia đều phải xây dựng một hệ thong pháp luật bao gồm nhiều ngành luật khác nhau.
Mỗi ngành luật điều chỉnh một mảng quan hệ có cùng tính chất với phương pháp điều chỉnh riêng và phù hợp với tính chất của các quan hệ được điều chỉnh nhưng đều là sự tập hợp các quy tắc xử sự chung mang tính bắt buộc đối với mọi chủ thé (mọi chủ thể đều phải tôn trọng và tuân theo) và được bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước. Qua quá trình phát triển của luật pháp cho thấy trước đây chưa có sự phân biệt giữa luật dân sự với các luật khác mà đều nằm trong hệ thống luật tư. Tuy nhiên, xã hội loài người càng phát triển càng kéo theo sự hình thành đa dạng các quan hệ xã hội và theo đó, chúng cần được điều chỉnh riêng theo các cơ chế đặc thù. Vì lẽ đó, bên cạnh luật dân sự, các luật chuyên ngành được hình thành với nhiệm vụ điều chỉnh các quan hệ xã hội trong các mảng đặc thù với đối tượng điều chỉnh tương đối khác nhau giữa các ngành luật chuyên ngành đó.
Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng việc xây dựng một hệ thống pháp luật ngày càng hoàn chỉnh, phản ánh và cụ thé hóa ngày một tốt hon chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước trong công cuộc xây dựng nén kinh tế thị 10 trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đảng và Nhà nước ta luôn coi động lực chính của sự phát triển là vì con người, do con người và đặt con người vào vi trí trung tâm, khơi day tiềm năng của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức và của cả cộng đồng dân tộc. Trong đó, quyền tự do kinh doanh theo pháp luật, thu nhập hợp pháp và quyền sở hữu được bảo đảm. Cho đến nay, pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã trở thành một hệ thống tương đối đầy đủ dé điều chỉnh tất cả các quan hệ trong mọi lĩnh vực của đời sống.
Về hệ thống luật tư, Nhà nước ta đã ban hành BLDS năm 1995 và đã qua hai lần sửa đôi, b6 sung cùng với hàng loạt các luật liên quan khác như Luật Nhà ở, Bộ luật Lao động, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Thương mại, Luật Kinh doanh bảo hiểm. Như vậy, nếu phân chia pháp luật thành hai hệ thống luật công và luật tư thì trong hệ thống luật tư của nước ta, bên cạnh luật dân sự còn có các ngành luật chuyên ngành điều chỉnh các quan hệ dân sự phát sinh trong các mảng đặc thù khác. Tuy nhiên, trong dó luật dân sự là luật chung, là “luật gốc” của luật tư. Với vai trò là xương sống của hệ thống luật tư, luật din sự quy định các nguyên tắc cơ bản và bằng những nguyên tắc này chỉ phối toàn bộ các luật chuyên ngành trong hệ thống luật tư.
Điều này thé hiện ở việc BLDS đã quy định: “Luật khác có liên quan diéu chỉnh quan hệ dân sự trong các lĩnh vực cụ thể không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật nay” (khoản 2 Điều 4 BLDS năm 2015). Bang việc xác định này, đòi hỏi các nguyên tắc cơ bản của luật dân sự phải được tôn trọng và trở thành kim chỉ nam trong quá trình xây dựng các luật khác liên quan nhằm dam bảo tính thống nhất trong hệ thống luật tư. II Trong mối tương quan với các ngành luật công thì luật dân sự được coi là một ngành luật mang tính nền móng. Có thé nói răng rất nhiều hành vi vi phạm pháp luật dân sự sẽ trở thành đối tượng điều chỉnh của nhiều ngành luật công.
Chắng hạn, từ việc luật dân sự xác định quyền của chủ sở hữu và các chủ thể khác đối với tài sản sẽ là cơ sở dé luật hành chính, luật hình sự.