Chương 1: Một số van dé lí luận về ly hôn Chương 2: Căn cứ ly hôn theo Luật HN-GD năm 2014 Chương 3: Nhận xét, đánh giá điểm mới trong qui định về căn cứ ly hôn và những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của căn cứ ly hôn Kết luận. MOT SO VAN ĐÈ LÍ LUẬN VE LY HON VÀ CAN CU LY HON 1. KHAI NIEM LY HON 1. Dinh nghia ly hon Từ điển Từ va ngữ Việt Nam định nghĩa: “Li hôn là vợ chong bỏ nhau” [17, tr.
Trong đời sống hăng ngày, ly hôn còn được gọi với những cách khác như: Li dị, rẫy vợ, bỏ vợ, dé vợ. Những từ này đều được dùng dé chỉ VIỆC chấm dứt quan hệ vợ chồng, VỢ chồng không còn chung sống với nhau, không còn thực hiện những quyền và nghĩa vụ vợ chồng với nhau. Xét về mặt xã hội, ly hôn là giải pháp dé giải quyết tình trạng mâu thuẫn tram trọng của quan hệ vợ chồng. Ly hôn là mặt trái, mặt bất thường nhưng không thé thiếu được khi những xung đột, mâu thuẫn, bé tắc trong quan hệ vợ chồng đã ở mức không thê điều hòa được, vợ chồng không thé tiếp tục chung sống.
Những xung đột, mâu thuẫn, bế tắc đó dẫn tới sự căng thắng trong đời sống gia đình. Ly hôn chính là giải pháp để giải phóng cho vợ, chồng, các con và những thành viên khác trong gia đình ra khỏi tình trạng căng thắng do mâu thuẫn vợ chồng gây ra. Bên cạnh ý nghĩa tích cực thì ly hôn còn mang tới những ảnh hưởng tiêu cực cho gia đình và xã hội: sự li tán gia đình, phân chia tài sản, trẻ em thiếu sự chăm sóc, giáo dục trực tiếp và đầy đủ của cha mẹ. Hậu quả của ly hôn để lại cho gia đình và xã hội nhiều vấn đề cần phải giải quyết [51, tr.
Vẻ mặt pháp li, ly hôn là một sự kiện pháp lí làm chấm dứt quan hệ hôn nhân. Từ điển Luật học định nghĩa: “L1 hôn là chấm dứt quan hệ vợ chồng do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng” [53, tr. Đây là định nghĩa phản ánh quan điểm chung nhất của Nhà nước ta về ly hôn, tạo cơ sở lí luận cho việc xác định bản chât pháp lí 10 của ly hôn. Do đó, cách giải thích này được sử dụng nhiều trong công tác nghiên cứu, giảng dạy khoa học luật và giải thích cho các đương sự có liên quan trong thực tiễn giải quyết các vụ việc ly hôn.
Nếu như kết hôn là sự kiện pháp lí làm phát sinh quan hệ hôn nhân giữa hai bên nam nữ kết hôn và trao cho họ những quyên và nghĩa vụ pháp lí của vợ chồng thì ly hôn chính là một trong những sự kiện pháp lí dẫn tới việc chấm dứt quan hệ đó. Sau khi ly hôn, những quyền và nghĩa vụ pháp lí giữa vợ và chồng mặc nhiên cham dứt. Những quyền và nghĩa vụ pháp lí đó không chỉ là quyền và nghĩa vụ về nhân thân mà còn bao gồm những quyền và nghĩa vụ về tài sản giữa vợ và chồng. Bên cạnh đó, ly hôn còn làm thay đổi quan hệ gia đình giữa hai bên nam nữ ly hôn.
Về mặt pháp lí, họ không còn là thành viên trong gia đình của nhau nữa. Mặt khác, nếu nói kết hôn làm phát sinh quan hệ vợ chồng trên cơ sở sự công nhận của xã hội mà đại diện là Nhà nước thì khi vợ chồng quyết định chấm dứt quan hệ đó cũng cần thiết phải có được sự công nhận của Nhà nước. Từ những lí do đó, việc ly hôn không thê được thực hiện một cách tùy tiện mà cần phải có sự kiểm soát của Nhà nước dé vừa đảm bảo được lợi ích chính đáng của vợ chồng, vừa hạn chế tối đa ảnh hưởng tiêu cực của việc ly hôn tới gia đình và xã hội. Khoản 14 Điều 3 Luật HN-GD năm 2014 qui định: “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chông theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án”.
Cơ quan có thâm quyền giải quyết ly hôn là Tòa án. Tòa án nhân danh Nhà nước kiểm soát việc ly hôn thông qua hoạt động giải quyết các yêu cầu ly hôn. Khi giải quyết yêu cầu ly hôn, Tòa án xem xét thực chất tình trạng quan hệ vợ chồng. Nếu xét thay quan hệ vợ chồng đã thực sự tan vỡ, không thé hàn gắn thì Tòa án mới giải quyết cho vợ chồng ly hôn.
Phán quyết ly hôn của Tòa án được thể hiện dưới hai hình thức: Bản án hoặc quyết định. Tuy Tòa án phải giải quyết việc ly hôn trên cơ sở thực chất mối lãi quan hệ vợ chéng nhưng việc đánh giá này trên thực tế rất khó khăn, phức tạp. Các mâu thuẫn dẫn tới việc vợ chồng yêu cầu ly hôn trên thực tế rất đa dạng nên dé đánh giá khách quan, chính xác quan hệ vợ chồng thì Tòa án phải điều tra, xác minh kỹ nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn, tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của vợ chồng. Khi giải quyết yêu cầu ly hôn, Thâm phán phải dựa trên cơ sở những căn cứ ly hôn do pháp luật qui định chứ không thê chỉ dựa vào kinh nghiệm chủ quan của mình.
Từ những phân tích trên, có thé định nghĩa: Ly hôn là sự kiện pháp lí lam chấm dứt các quyên và nghĩa vụ pháp lí giữa vợ và chông theo bản án hoặc quyết định có hiệu lực của Toa an. Quan điểm của chủ nghĩa Mác — Lênin về ly hôn Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, hôn nhân (trong đó bao gồm cả ly hôn) là một hiện tượng xã hội, mang tính giai cấp sâu sắc.Mác viết: “Ly hôn chỉ là việc xác nhận một sự kiện: cuộc hôn nhân này là cuộc hôn nhân đã chối, Sự tôn tại cua no chỉ là bê ngoài lừa doi. Đương nhiên, không phải sự tùy tiện cua nhà lập pháp, cũng không phải sự tùy tiện cua những ca nhân, mà chỉ bản chất của sự kiện mới quyết định được cuộc hôn nhân đã chết hoặc chưa chết, bởi vì, như mọi người đã biết, việc xác nhận sự kiện chết tùy thuộc vào thực chất của vấn dé, chứ không phải vào nguyện vọng của những bên hữu quan” [13, tr. Ly hôn là hiện tượng xã hội tồn tại khách quan, khi việc tồn tại của quan hệ hôn nhân chỉ là hình thức thì ly hôn như một điều tất yếu.
Hiện tượng ly hôn là một hiện tượng xã hội mang tính giai cap sâu sắc. Nhà nước van luôn có và luôn cân những qui định đê kiêm soát việc ly hôn.Mac nói: “Nêu như hôn nhân không phải cơ sở của gia đình, thì nó cũng sẽ không phải là đối tượng của công việc lập pháp” [13, tr. 232] và rằng: “Moi 12 sự tan vỡ của hôn nhân đều là sự tan vỡ của gia dinh” [13, tr. Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình mang những chức năng xã hội hết sức quan trọng.
Sự tan vỡ của gia đình tiềm ấn những nguy cơ đến những bat 6n xã hội nên Nhà nước luôn phải kiểm soát vấn đề hôn nhân gia đình nói chung và vấn đề ly hôn nói riêng. Do đó, ở mỗi giai đoạn lịch sử, giai cấp thống trị thông qua Nhà nước luôn qui định chế độ hôn nhân phù hợp với ý chí của giai cấp mình. Pháp luật của nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản thường quy định hoặc cắm vợ chồng ly hôn, hoặc đặt ra các điều kiện hạn chế quyền ly hôn của vợ chồng, hoặc quy định giải quyết ly hôn dựa trên cơ sở lỗi của vợ chồng. Hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình ở nước ta dưới thời phong kiến, thực dân đã thé hiện cụ thé luận điểm trên.
Dưới chế độ cũ, quyền yêu cầu ly hôn và các duyên cớ ly hôn theo luật định thường dựa trên quan hệ “bất bình đăng” giữa vợ chồng [48, tr. Pháp luật xã hội chủ nghĩa thừa nhận và bảo hộ quyền tự do hôn nhân trong đó có quyền tự do ly hôn của vợ chồng.Lênin đã khang định: “Người ta không thé là một người dân chủ và xã hội chủ nghĩa nếu ngay từ bây giờ, không đòi quyền tự do ly hôn, vì thiếu quyén ấy là một sự ức hiếp lon đối với giới bị áp bức, đối với phụ nữ, tuy hoàn toàn chẳng khó khăn gì mà không hiểu được rằng khi ta thừa nhận cho phụ nữ được tự do bỏ chông, thì không phải là ta khuyên tất cả họ bỏ chồng” [51, tr. Việc ghi nhận và bảo hộ quyền tự do ly hôn của vợ chồng không có nghĩa nhà nước cho phép vợ chồng được tùy tiện ly hôn theo ý muốn của mình mà phải trên cơ sở thực trạng quan hệ vợ chồng. Pháp luật qui định căn cứ ly hôn không làm hạn chế quyền tự do ly hôn của vợ chồng mà nhằm đảm bảo bản chất của ly hôn là sự tan vỡ thực chất của quan hệ vợ chồng.
Quyền yêu cầu ly hôn Quyền ly hôn là quyền con người được Nha nước ghi nhận tại Điều 36 Hiến pháp năm 2013: “Nam, nữ có quyên kết hôn, ly hôn”. Đề hiện thực hóa 13 quyền ly hôn, Điều 42 Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2005 qui định như sau: “Vợ, chong hoặc cả hai người có quyên yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hồn”. Theo qui định của BLDS năm 2005 thì quyền ly hôn là quyền dân sự gan liền với mỗi cá nhân, là quyền nhân thân của cá nhân, không thé chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có qui định khác (Điều 24 BLDS năm 2005). Cá nhân có quyền ly hôn nhưng việc ly hôn được thực hiện thông qua hoạt động của Tòa án.
Công dân thực hiện quyền ly hôn của mình thông qua hành vi yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc ly hôn. Nếu như nói quyên ly hôn là quyền được chấm dứt quan hệ hôn nhân thì quyền yêu cầu ly hôn chính là quyền thé hiện ý chí là mong muốn chấm dứt quan hệ hôn nhân trước cơ quan nhà nước có thâm quyền. Quyền yêu cau ly hôn phát sinh trên cơ sở quyên ly hôn của cá nhân. Điều 42 BLDS năm 2005 qui định chủ thể có quyền yêu cau ly hôn là VỢ, chồng hoặc cả hai vợ chồng.
Quan hệ hôn nhân phát sinh trên cơ sở sự tự do ý chí của vợ và chồng nên việc chấm dứt quan hệ hôn nhân cũng chỉ có thể xuất phát từ ý chí của vợ và chồng.